https://vjol.info.vn/DHDDND/issue/feedTạp chí Khoa học Điều dưỡng2025-12-10T02:41:57+07:00Lê Thị Huyền Trinhhuyentrinhdhdd@gmail.comOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định</strong></p>https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113377Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh loãng xương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình2025-12-10T02:41:22+07:00Ngô Huy Hoàng, Đinh Thị Thảo, Lê Thị Huyền Trinh, Đỗ Thị Thùy Dungngohoang64@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh loãng xương tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, đánh giá tuân thủ điều trị loãng xương của 251 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2024.Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ của Phan Thị Thùy và đã kiểm định lại với chỉ số Cronbach’s alpha là 0,775. Kết quả:Điểm trung bình tuân thủ điều trị tổng thể của người bệnh loãng xương là 10,21 ± 3,96 trên tổng 21 điểm của thang đo, thấp nhất là 1 điểm và cao nhất là 20 điểm. Tỷ lệ người bệnh có điểm tuân thủ đạt ≥ 50% số điểm của thang đo là 48,6%. Một số lý do đáng chú ý trong số các lý do có thể gây khó khăn cho việc tuân thủ điều trị của người bệnh làcách sử dụng thuốc khó nhớ, dễ quên; không biết tập luyện như thế nào; và không biết loại thực phẩm giàu can-xi. Kết luận: Tuân thủ điều trị của người bệnh loãng xương trong nghiên cứu còn hạn chế, kết quả này cho thấy cải thiện tuân thủ điều trị loãng xương cho người bệnh là cần thiết và cần lưu ý một số khó khăn có thể giải quyết được thông qua tư vấn, giáo dục sức khỏe</p>2025-04-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113378Thực trạng kiến thức và thái độ về phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ của điều dưỡng nữ hộ sinh tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương và một số yếu tố liên quan năm 20242025-12-10T02:41:27+07:00Nguyễn Văn Duy, Trần Thanh Hòa, Nguyễn Văn Giang, Nguyễn Anh Tú, Trương Thị Huyền Trang, Phạm Thị Bích Ngọcnguyenduy190391@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức và thái độ của điều dưỡng nữ hộ sinh về phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ và các yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 87 điều dưỡng, nữ hộ sinh trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8/2024 tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương. Bộ công cụ chuẩn hóa theo hướng dẫn của Bộ Y tế, được đánh giá bởi 05 chuyên gia với Content Validity Index là 98% và độ tin cậy là 0,89. Kết quả:Đa số điều dưỡng, nữ hộ sinh có độ tuổi trung bình là 29,40 ± 5,0 và 69% là nữ, phần lớn đ0 ã làm việc từ 1 đến 5 năm. Điều dưỡng, nữ hộ sinh có kiến thức đạt và thái độ đạt trong phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ là trên 90,8%. Trong đó, hơn 90% có kiến thức đúng về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ; có 100% có thái độ tốt trong việc theo dõi và ngăn ngừa nhiễm khuẩn vị trí phẫu thuật. Yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ là nơi đào tạo (p <0,05). Kết luận: Điều dưỡng, nữ hộ sinh có kiến thức và thái độ đạt trong phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ tại Bệnh viện đa khoa Hùng Vương chiếm tỷ lệ cao. Với kết quả nghiên cứu này, giải pháp được đề ra là các bệnh viện cần tăng cường đào tạo, giám sát việc thực hiện đội ngũ cán bộ y tế tại các khoa để không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.</p>2025-04-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113379Thực trạng kiến thức, thực hành tự tiêm insulin của người bệnh đái tháo đường tại Bệnh Viện Thanh Nhàn và một số yếu tố liên quan2025-12-10T02:41:30+07:00Nguyễn Thị Kim Anh, Mai Thị Lan Anh, Vũ Hồng Nhung, Võ Thị Thu Hươngkimanhthanhnhan@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành tự tiêm Insulin và một số yếu tố liên quan với người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện Thanh Nhàn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành để phân tích dữ liệu của 169 người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường và điều trị bằng Insulin theo phác đồ ngoại trú tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Thanh Nhàn trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2022. Bộ công cụ được phát triển dựa trên bộ Injection Technique Questionnaire (ITQ) đã được thông qua tại Hội thảo khuyến nghị chuyên gia FITTER, Tính giá trị nội dung của bộ câu hỏi với hệ số Cronbach’s alpha đạt 0,81. Kết quả: Về kiến thức sử dụng Insulin, tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt (trả lời đúng ≥ 50% số câu hỏi) chiếm 57,3%. Về thực hành tiêm Insulin, tỷ lệ người bệnh thực hành chưa đúng (không biết tiêm hoặc kỹ thuật kém) chiếm 31,3%, trong khi tỷ lệ người bệnh thực hành đúng (kỹ thuật vừa đủ và tối ưu) đạt 68,7%. Kết luận: Kiến thức và thực hành tự tiêm Insulin của người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Thanh Nhàn vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ người bệnh có kiến thức trung bình và kỹ thuật tiêm chưa tối ưu còn khá cao, cho thấy cần thiết phải tăng cường các chương trình giáo dục sức khỏe chuyên sâu, đào tạo kỹ năng thực hành tự tiêm Insulin nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và phòng ngừa biến chứng cho người bệnh.</p>2025-05-06T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113380Khảo sát sự hiểu biết về đột quỵ não của người dân trưởng thành tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa2025-12-10T02:41:32+07:00Trần Ngọc Anh, Tạ Đăng Quang, Nguyễn Thành Chung, Lê Thị Kiên, Lê Xuân Quý, Dương Quang Hiệp, Trần Thị Quỳnh Hương, Nguyễn Thị Vân Dung, Nguyễn Diệp Anh, Đồng Thị Ngọc Maitranngocanhdx2002@gmail.com<p>Mục tiêu: Khảo sát sự hiểu biết về đột quỵ não, bao gồm khái niệm, biểu hiện, yếu tố nguy cơ, dấu hiệu cảnh báo FAST và xử trí ban đầu đột quỵ não của người trưởng thành tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 97 người trưởng thành tham gia chương trình khám bệnh tình nguyện của Trường Đại học Y Hà Nội tại xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá từ tháng 8/2023 đến tháng 10/2023, sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đột quỵ” do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 5531/QĐ-BYT năm 2020. Kết quả: Trong tổng số 97 đối tượng tham gia nghiên cứu, tỷ lệ người tham gia có hiểu biết về khái niệm đột quỵ não chiếm tỷ lệ 63,92%, về yếu tố nguy cơ đột quỵ chiếm 72,16%, về biểu hiện đột quỵ chiếm 82,47%. Tỷ lệ người tham gia có hiểu biết về dấu hiệu cảnh báo cơn đột quỵ FAST chiếm 52,58%, phần lớn được biết đến thông qua tivi, đài báo (32,99%). Tỷ lệ người tham gia chọn những phương án xử trí ban đầu đột quỵ não đúng còn hạn chế, bên cạnh đó, các phương pháp xử trí sai lầm còn được lựa chọn phổ biến. Kết luận: Người tham gia đã có kiến thức về đột quỵ, tuy nhiên, thái độ xử trí ban đầu còn bị ảnh hưởng bởi các kinh nghiệm truyền miệng, dẫn đến những xử trí sai, làm chậm thời gian vàng để cấp cứu cho bệnh nhân. Cần tổ chức thêm nhiều chương trình phổ biến kiến thức đột quỵ não đến với cộng đồng.</p>2025-05-08T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113381Kiến thức, thái độ của điều dưỡng về chết não và hiến tạng từ người cho chết não tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức2025-12-10T02:41:35+07:00Lê Tuyết Nhung, Nguyễn Trường Giang, Phạm Thị Ngọcletuyetnhungbvvd@gmail.com<p>Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ của điều dưỡng về chết não và hiến tạng từ người cho chết não tại các khoa hồi sức tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2024. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 430 điều dưỡng đang làm việc tại các khoa hồi sức từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 12 năm 2024. Dữ liệu được thu thập bằng bộ công cụ đánh giá kiến thức thái độ của điều dưỡng với chỉ số Cronbach alpha tương ứng là 0,82 và 0,79. Phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức tốt (14-18 điểm) chiếm 32,9%; kiến thức khá (9-13 điểm) chiếm 65,6%; trung bình (< 8 điểm) là 1,5%. Tỷ lệ có thái độ tích cực (8-12 điểm) chiếm 56%, chưa tích cực (≤ 7 điểm) là 44%. Kết luận: Kiến thức, thái độ của điều dưỡng về chết não và hiến tạng tại các khoa hồi sức Bệnh viện Việt Đức ở mức khá. Cần tiếp tục tăng cường đào tạo chuyên sâu và truyền thông thay đổi hành vi nhằm nâng cao vai trò điều dưỡng trong vận động hiến tạng</p>2025-05-13T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113721Trầm cảm, lo âu, stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên dược tại Trường Cao Đẳng Y Tế Cần Thơ2025-12-10T02:41:37+07:00Trần Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Bích Trâm, Võ Thị Hiếu,Trần Thị Như Ngọc, Nguyễn Tấn Đạt, Nguyễn Việt Phươngnvphuong@ctump.edu.vn<p>Mục tiêu: Xác định tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress và một số yếu tố liên quan ở sinh viên cao đẳng dược Trường Cao đẳng Y tế cần Thơ năm 2024.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 999 sinh viên cao đẳng dược bằng bộ câu hỏi DASS-21 thông qua khảo sát trực tuyến. Kết quả:Tỷ lệ trầm cảm, lo âu, stress ở sinh viên lần lượt là 54,4%, 74,4% và 60,7%. Năm của chương trình đào tạo, hài lòng về ngoại hình, dễ làm quen bạn mới, có bạn thân, tiền sử lo âu và trầm cảm, số giờ sử dụng điện thoại thông minh hàng ngày và hoạt động tốn thời gian sử dụng điện thoại nhất được xác định là có liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên. Kết luận:Trầm cảm, lo âu, stress là vấn đề sức khỏe tâm thần cần được chú trọng quan tâm. Cần tăng cường áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực và phát triển các câu lạc bộ ngoại khóa nhằm tăng cường mối quan hệ xã hội, gắn kết và nâng cao kỹ năng mềm cho sinh viên</p>2025-05-16T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113742Các yếu tố liên quan đến nỗi sợ sinh con ở thai phụ mang thai lần đầu2025-12-10T02:41:39+07:00Nguyễn Thị Nhẫn, Đỗ Thị Hươngnguyennhan@ump.edu.vn<p>Mục tiêu: Xác định các yếu tố liên quan đến nỗi sợ sinh con ở thai phụ mang thai lần đầu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 150 thai phụ mang thai lần đầu tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cơ sở 2, từ 03 đến tháng 8 năm 2024. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi có cấu trúc, bao gồm thang đo mức độ sợ sinh con cùng các biến số liên quan như tuổi mẹ, học vấn, thu nhập, tuổi thai, tham gia lớp học tiền sản, áp lực trong thai kỳ và hỗ trợ xã hội. Phân tích thống kê được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0 với mức ý nghĩa p < 0,05. Thống kê mô tả gồm tần số, phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn và thống kê phân tích gồm tương quan pearson được sử dụng để mô tả và khảo sát mối liên quan giữa các biến số và nỗi sợ sinh con. Kết quả: Kết quả phân tích cho thấy bốn yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với nỗi sợ sinh con, bao gồm: tuổi thai (r = 0,5, p = 0,007), tham gia lớp học tiền sản (r = -0,3, p = 0,04), áp lực trong thai kỳ (r = 0,6, p < 0,001), và mức độ hỗ trợ xã hội (r = -0,4, p < 0,001). Thai phụ có tuổi thai càng lớn, không tham gia lớp học tiền sản, cảm nhận áp lực cao trong thai kỳ và thiếu sự hỗ trợ xã hội có xu hướng sợ sinh con nhiều hơn. Các yếu tố như: tuổi mẹ, học vấn, thu nhập không có mối liên quan đến nỗi sợ sinh con (p > 0,05). Kết luận: Nỗi sợ sinh con ở thai phụ mang thai lần đầu chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là các yếu tố tâm lý - xã hội. Cần tăng cường các biện pháp hỗ trợ tinh thần, khuyến khích tham gia lớp học tiền sản và xây dựng mạng lưới hỗ trợ xã hội hiệu quả để giảm thiểu nỗi sợ sinh con ở nhóm đối tượng này</p>2025-05-20T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/113746Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành dự phòng té ngã cho người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh và một số yếu tố liên quan năm 20242025-12-10T02:41:41+07:00Ngô Thị Ngọc Linh, Nguyễn Thị Như Hiền, Trần Thị Khánh Ly, Trần Thị Ngọc Nhân, Nguyễn Bá Tâm, Trương Thị Mai Quyênlinhbvthbmt@gmail.com<p>Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của điều dưỡng về dự phòng té ngã cho người bệnh tại Bệnh viện đa khoa Thiện Hạnh năm 2024 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với sự tham gia của 187 điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh năm 2024 nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa té ngã. Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền, bao gồm các mục đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa té ngã. Bộ công cụ được Việt hóa dựa trên nghiên cứu của Han, Lee và Kim (2020), với độ tin cậy cao. Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 25 với thống kê mô tả và phân tích mối liên quan giữa các yếu tố. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức về phòng ngừa té ngã chỉ đạt 42,2%, cho thấy còn một bộ phận đội ngũ điều dưỡng chưa nắm vững các biện pháp cần thiết trong công tác phòng ngừa té ngã. Tỷ lệ điều dưỡng có thái độ tốt đối với phòng ngừa té ngã đạt rất thấp, chỉ chiếm 16%, phản ánh sự thiếu hụt nhận thức tích cực về tầm quan trọng của việc này trong chăm sóc người bệnh. Mặc dù vậy, có 59,4% điều dưỡng thực hành phòng ngừa té ngã đạt mức tốt, tuy nhiên, kết quả này vẫn chưa đồng đều. Kết quả cho thấy thái độ có mối tương quan mạnh với thực hành dự phòng té ngã (r = 0.614, p < 0.001), cho thấy thái độ tích cực ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các biện pháp an toàn. Kiến thức có mối tương quan yếu hơn với thực hành (r = 0.293, p < 0.001) và thái độ (r = 0.236, p < 0.01). Kết luận: Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh năm 2024 cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành phòng ngừa té ngã của điều dưỡng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thái độ chưa thực sự tích cực. Kết quả này nhấn mạnh sự cần thiết của các chương trình đào tạo định kỳ nhằm nâng cao nhận thức, cải thiện thái độ và tăng cường hiệu quả thực hành phòng ngừa té ngã, đặc biệt đối với nhóm điều dưỡng trẻ.</p>2025-05-23T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114173Kỹ năng học tập tự định hướng và các yếu tố liên quan của sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng2025-12-10T02:41:43+07:00Nguyễn Hoà Vân Chi, Lưu Thị Thủy, Đặng Thị Huệnguyenhoavanchi2002@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả kỹ năng học tập tự định hướng và xác định một số yếu tố liên quan của sinh viên tại Trường Đại học Kỹ thuật Y - Dược Đà Nẵng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 11/2024 đến tháng 12/2024. Tổng cộng có 675 sinh viên tham gia khảo sát. Công cụ khảo sát là bộ câu hỏi tự điền, gồm phần thông tin chung và phần kỹ năng học tập tự định hướng. Thống kê mô tả, phép kiểm Wilcoxon-Mann-Whitney test, Kruskal-Wallis test và tương quan Spearman được sử dụng để phân tích số liệu với mức ý nghĩa p < 0,05. Kết quả:Điểm trung bình kỹ năng học tập tự định hướng của sinh viên là 91,47 ± 14,68 trên tổng 115 điểm và ở mức độ cao. Có sự khác biệt về kỹ năng học tập tự định hướng giữa sinh viên các ngành và các năm học khác nhau. Kỹ năng học tập tự định hướng có mối tương quan thuận với thời gian tự học trong ngày và tương quan nghịch với tuổi của sinh viên với p < 0,05. Kết luận: Kỹ năng học tập tự định hướng của sinh viên ở mức cao. Các chương trình đào tạo cần cải thiện hơn kỹ năng quản lý học tập của sinh viên thông qua việc đổi mới phương pháp giảng dạy và các chương trình hỗ trợ sinh viên.</p>2025-05-27T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114294Kiến thức chăm sóc sau sinh của sản phụ tại khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City2025-12-10T02:41:45+07:00Nguyễn Thị Giang, Phạm Bá Nha, Trần Thị Phúc Nguyệt, Nguyễn Văn Huy, Thân Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Hoàng Thị Thanh, Nguyễn Thị Thuý, Nguyễn Duy Thuỳjellybaotram@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả kiến thức chăm sóc sau sinh của sản phụ tại khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 251 sản phụ tại khoa Sản từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi tự thiết kế gồm 23 câu hỏi trắc nghiệm về các lĩnh vực: vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, cho con bú, vận động nghỉ ngơi và kế hoạch hóa gia đình. Kết quả: Tỷ lệ sản phụ có kiến thức đạt yêu cầu (≥18/23 điểm) là 43,8%. Các nội dung có tỷ lệ trả lời đúng cao gồm vệ sinh cá nhân (76,1%), cho con bú (76,5%) và dinh dưỡng sau sinh (49,0%). Trong khi đó, tỷ lệ đạt kiến thức về vận động nghỉ ngơi (9,6%) và kế hoạch hóa gia đình (10,0%) còn thấp. Kết luận: Kiến thức chăm sóc sau sinh của sản phụ vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở lĩnh vực vận động nghỉ ngơi và kế hoạch hóa gia đình. Cần có các chương trình giáo dục sức khỏe cá nhân hóa, phù hợp từng đối tượng nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc hậu sản</p>2025-06-01T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114830Kiểm định bộ công cụ đo lường khả năng tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại cộng đồng tỉnh Nam Định2025-12-10T02:41:46+07:00Nguyễn Thị Thảo, Ngô Huy Hoàng, Mai Thị Lan Anh, Lê Thị Huyền Trinh, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Thị Thanh Hường, Vũ Thị Minh Phượng, Trần Thị Vân Anh, Dương Thị Thanh Huyềnnguyenthithao@ndun.edu.vn<p>Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ đo lường khả năng tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường típ 2 (Summary of Diabetes Self-Care Activities (SDSCA) tại cộng đồng tỉnh Nam Định. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 300 người bệnh đái tháo đường típ 2 sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện và sử dụng phiên bản tiếng Việt của bộ câu hỏi SDSCA từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2024. Kết quả: Thang đo tổng cho thấy chỉ số Crobach’s Alpha 0,88. Các thang đo phụ có chỉ số Crobach’s Alpha dao động từ 0,71 đến 0,94. Phân tích nhân tố khám phá đã cho kết quả là bộ câu hỏi SDSCA phiên bản tiếng Việt gồm 10 câu chia thành 3 nhân tố (chế độ ăn và tập thể dục; thử đường máu và chăm sóc bàn chân). Kết luận: Phiên bản tiếng Việt của bộ câu hỏi SDSCA cho thấy tính giá trị cấu trúc và độ tin cậy cao để điều dưỡng và các chuyên gia nội tiết khác đánh giá các hoạt động tự chăm sóc ở người bệnh đái tháo đường típ 2.</p>2025-06-12T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114833Các chương trình can thiệp phòng ngừa đột quỵ tại cộng đồng: Tổng quan tích hợp2025-12-10T02:41:47+07:00Vũ Thị Là, Trương Tuấn Anh, Mai Thị Lan Anhvula@ndun.edu.vn<p>Mục tiêu: Tổng hợp và phân tích các bằng chứng về hiệu quả và khả năng áp dụng của các can thiệp dựa vào cộng đồng trong phòng ngừa đột quỵ. Phương pháp: Tổng quan được thực hiện theo phương pháp tiếp cận hệ thống, tìm kiếm tài liệu trên PubMed, CINAHL, EMBASE và Scopus, từ tháng 1 năm 2014 đến nay. Các nghiên cứu can thiệp dựa vào cộng đồng có đối tượng là người trưởng thành, tập trung vào phòng ngừa đột quỵ, được đưa vào phân tích định tính. Công cụ đánh giá RoB 2.0 được sử dụng để đánh giá nguy cơ sai lệch và chất lượng các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Kết quả: Xác định năm nhóm can thiệp chính: (1) chương trình giáo dục sức khỏe; (2) thay đổi lối sống; (3) sự tham gia của nhân viên y tế cộng đồng; (4) ứng dụng y tế từ xa và kỹ thuật số; (5) các can thiệp đa phương thức tích hợp. Các can thiệp cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao kiến thức, cải thiện hành vi sức khỏe và kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường và béo phì. Kết luận: Can thiệp dựa vào cộng đồng hiệu quả trong phòng ngừa đột quỵ nhưng cần điều chỉnh theo đặc điểm văn hóa – xã hội, nguồn lực để tăng cường hiệu quả và tính bền vững trong thực tế.</p>2025-06-16T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114837Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid tại Khoa Mạn tính nam, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 năm 20242025-12-10T02:41:50+07:00Nguyễn Trường Sơn, Phạm Thị Loanbssonnd@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả nhận thức của người bệnh về hoạt động thực trạng công tác chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid tại Khoa Mạn tính nam, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 90 người bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid đang điều trị nội trú tại Khoa Mạn tính nam, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2024. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ công cụ gồm 2 phần: thông tin chung và 15 hoạt động chăm sóc điều dưỡng trong 5 lĩnh vực (chăm sóc tinh thần, theo dõi/đánh giá, tư vấn/giáo dục sức khỏe, chăm sóc dinh dưỡng, dùng thuốc/theo dõi dùng thuốc). Kết quả:Kết quả nghiên cứu cho thấy các hoạt động chăm sóc điều dưỡng được người bệnh đánh giá có tỷ lệ thực hiện tốt/đầy đủ cao trong nhiều lĩnh vực: giao tiếp ân cần (92,2%), động viên người bệnh (93,4%), theo dõi dấu hiệu sinh tồn (100%), hướng dẫn dùng thuốc/tuân thủ (100%), và công khai thuốc (100%). Tuy nhiên, việc hướng dẫn vệ sinh cá nhân đạt tỷ lệ thấp hơn (62,2% thực hiện tốt/đầy đủ) và theo dõi tác dụng phụ của thuốc còn một tỷ lệ nhỏ chưa được thực hiện đầy đủ (90,0% thực hiện tốt/đầy đủ). Kết luận: Thông qua đánh giá của người bệnh công tác chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh tâm thần phân liệt thể Paranoid được cho là đã đạt được nhiều điểm tích cực trong các hoạt động cốt lõi như giao tiếp trị liệu và quản lý thuốc. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong việc giáo dục vệ sinh cá nhân và theo dõi tác dụng phụ của thuốc. Những hạn chế này đòi hỏi sự can thiệp kịp thời thông qua đào tạo nâng cao năng lực điều dưỡng và các chương trình cải thiện chất lượng chăm sóc</p>2025-06-17T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/114975Kết quả hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cho sản phụ sinh thường của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 20252025-12-10T02:41:52+07:00Bùi Thị Thủy, Phạm Bá Nha, Trần Thị Phúc Nguyệt, Lê Thị Hoa, Bùi Thị Hoa, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Mỹ Xuân, Nguyễn Xuân Quýmonica195hs@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả kết quả hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ cho sản phụ sinh thường và phân tích một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh trước và sau khi sản phụ tham gia lớp học tiền sản được thực hiện trên 250 sản phụ sinh thường từ tháng 11 năm 2024 đến tháng 5 năm 2025 Tại Khoa Sản bệnh viện Quốc tế Vinmec Times City. Bộ công cụ nghiên cứu đánh giá kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ bao gồm 6 nội dung: Kiến thức lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ, Kiến thức về cho trẻ bú sớm, Kiến thức về bú đúng, Kiến thức về duy trì, tăng cường và bảo vệ nguồn sữa, Kiến thức về một số bệnh của vú, Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số trường hợp. Kết quả: Điểm trung bình kiến thức của sản phụ trước can thiệp là 5,82 ± 1,60, sau can thiệp tăng lên là 8,21 ± 0,94, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Tất cả các nhóm nội dung kiến thức đều được cải thiện rõ rệt sau tư vấn.. Nhóm sản phụ ≥ 35 tuổi có điểm kiến thức cao hơn so với nhóm < 35 tuổi (p < 0,05). Kết luận: Hoạt động tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ của nhân viên y tế đã giúp cải thiện rõ rệt kiến thức của sản phụ sinh thường. Tuổi mẹ là một yếu tố liên quan có ý nghĩa, cần được xem xét khi thiết kế các chương trình tư vấn cá nhân hóa</p>2025-06-19T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/115274Sự hài lòng của sản phụ sau sinh và một số yếu tố liên quan tại khoa Sản Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 20252025-12-10T02:41:53+07:00Nguyễn Thị Vân Anh, Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hạnh,Trần Thị Bích Phương, Lưu Thị Nguyên, Phạm Thị Vân Anh, Lương Thị Tâm, Nguyễn Duy Thùyvananh8493@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả mức độ hài lòng của sản phụ sau sinh tại khoa Sản bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 321 sản phụ tại khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City từ 9/2024 đến 6/2025. Bộ câu hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, theo hướng dẫn của Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế số 1334/KCB-QLCL năm 2015. Kết quả: Mức độ hài lòng chung của sản phụ tại Khoa Sản Vinmec Times City đạt điểm trung bình 4,24±0,74 điểm. Các khía cạnh hài lòng về cơ sở vật chất, minh bạch thông tin và thủ tục, thái độ ứng xử, và năng lực chuyên môn của nhân viên y tế đạt trên 70%. Sản phụ đến từ tỉnh khác có khả năng hài lòng chung cao hơn so với sản phụ tại Hà Nội với OR (95%CI): 3,44 (1,78 – 6,66). Kết luận: Mức độ hài lòng chung của sản phụ tại bệnh viện Vinmec Times City là khá tốt. Bệnh viện cần duy trì và phát huy các yếu tố đã được sản phụ đánh giá cao, đặc biệt cần thường xuyên đánh giá sự hài lòng của người bệnh theo vùng địa lý để phát hiện kịp thời những khác biệt trong nhu cầu và kỳ vọng, từ đó điều chỉnh chiến lược chăm sóc phù hợp với từng nhóm đối tượng</p>2025-06-20T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/115275Khảo sát kiến thức về phục hồi chức năng vận động ở người bệnh sau đột quỵ não tại Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Bắc Giang năm 20222025-12-10T02:41:55+07:00Nguyễn Thị Minh Chính, Nguyễn Trường Sơn, Đồng Thị Soạn, Trần Thị Hồng Hạnhnguyenminhchinhsdh@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN) vận động của người bệnh đột quỵ não tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bắc Giang năm 2022.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 60 người bệnh đột quỵ não điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bắc Giang từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2022. Dữ liệu được thu thập qua bảng khảo sát bao gồm 33 câu hỏi về nhân khẩu học, đặc điểm lâm sàng và kiến thức về PHCN vận động. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy, 100% người bệnh đã được hướng dẫn các bài tập và biện pháp phục hồi chức năng vận động, với 70% người bệnh dành trên 1 giờ mỗi ngày để tập luyện. Tuy nhiên, chỉ 70% người bệnh hiểu rõ mục đích của PHCN vận động, trong khi 86,7% hiểu các nội dung của PHCN và 76,7% nắm được nguyên tắc. 100% người bệnh cảm thấy tình trạng vận động của cơ thể cải thiện rõ rệt sau khi tham gia tập luyện. Kết luận: Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù kiến thức về các nguyên tắc PHCN đã tương đối cao, kiến thức về mục đích và nguyên tắc PHCN vẫn còn hạn chế. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện các chương trình giáo dục sức khỏe và tư vấn cho người bệnh trong quá trình phục hồi chức năng sau đột quỵ. Sự tham gia tích cực của gia đình trong quá trình phục hồi cũng đóng vai trò quan trọng</p>2025-06-23T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/115276Sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ khám bệnh tại Trung tâm y tế thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 20232025-12-10T02:41:56+07:00Đinh Thị Thu Huyền, Nguyễn Thị Song Yên, Nguyễn Thị Lý, Phạm Thị Hoàng Yếndinhhuyen@ndun.edu.vn<p>Mục tiêu: Mô tả sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ khám bệnh tại Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh năm 2023. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 384 người bệnh đến khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2023. Tiến hành phỏng vấn người bệnh sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin chung, sự hài lòng của người bệnh đối với dịch vụ khám bệnh. Kết quả: Sự hài lòng của người bệnh về khả năng tiếp cận đạt 91,9%, sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh đạt 90,6%, cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh đạt 83,9%, thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế đạt 97,7%, kết quả cung cấp dịch vụ của nhân viên y tế đạt 95,8%. Kết luận: Phần đa người bệnh đều hài lòng về dịch vụ khám bệnh tại Trung tâm Y tế thành phố Uông Bí.</p>2025-06-24T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡnghttps://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/115278Thực trạng thực hiện kỹ thuật hút đờm trên người bệnh mở khí quản của điều dưỡng viên tại Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định2025-12-10T02:41:57+07:00Nguyễn Thị Hồng Yếnyendhdd@gmail.com<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng thực hiện kỹ thuật hút đờm trên người bệnh mở khí quản của điều dưỡng viêntại Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2023.Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, quan sát trực tiếp 271 lượt thực hiện kỹ thuật hút đờm của điều dưỡng viên từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2023. Dữ liệu được thu thập bằng bảng kiểm chuẩn hóa và phân tích bằng thống kê mô tả. Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng viên thực hiện đúng quy trình hút đờm đạt 71,6%, chưa đạt chiếm 28,4%. Các bước có tỷ lệ thực hiện thấp gồm: vệ sinh tay (87,08%), sử dụng gạc vô khuẩn (91,51%), trải khăn/giấy sạch dưới khu vực hút (88,19%), và thông báo, động viên người bệnh (82,66%). Kết luận: Tỷ lệ điều dưỡng viên thực hiện đúng quy trình hút đờm chưa đạt mức tối ưu. Việc bỏ sót các bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hút đờm có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc và an toàn người bệnh. Cần tăng cường đào tạo, đào tạo lại và giám sát quy trình kỹ thuật hút đờm, chuẩn hóa quy trình thực hành nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh mở khí quản.</p>2025-06-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng