Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
https://vjol.info.vn/DHDDND
<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định</strong></p>vi-VNTạp chí Khoa học Điều dưỡngChất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138763
<p>Mục tiêu:Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2024 và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 250 người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng hai bộ công cụ: EORTC QLQ-C30 và THYCA-QoL. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 20.0 với các thống kê mô tả và so sánh nhóm. Kết quả: Điểm chức năng theo EORTC QLQ-C30 rất cao (thể chất 96,4; vai trò 99,46; cảm xúc 96,96), trong khi các triệu chứng nhìn chung thấp, nổi bật là mất ngủ (19,46) và mệt mỏi (6,8). Theo THYCA-QoL, các lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm tâm lý (4,12), họng–miệng (4,12) và thần kinh–cơ (3,50); trong khi các nhóm sẹo, ngứa, đau đầu, lạnh và tình dục hầu như không bị ảnh hưởng. Phân tích liên quan cho thấy giai đoạn bệnh ảnh hưởng có ý nghĩa đến CLCS (p = 0,007). Kết luận: Người bệnh sau phẫu thuật ung thư tuyến giáp có chất lượng cuộc sống chung tốt, nhưng vẫn gặp nhiều triệu chứng đặc thù. Giai đoạn bệnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống . Cần tăng cường hỗ trợ tâm lý, chăm sóc giọng nói và quản lý triệu chứng vùng cổ–họng trong chăm sóc điều dưỡng sau phẫu thuật</p>Phạm Thị Thu Hương, Mai Thị Lan Anh, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Thảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-02-272026-02-27902615Chất lượng cuộc sống người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138767
<p>Mục tiêu: Mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2025. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dọc, trên 130 người bệnh được phẫu thuật thay khớp háng tại Viện Chấn thương Chỉnh hình - Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ 01/2025 đến 06/2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc tại hai thời điểm là 2 tuần và 4 tuần sau phẫu thuật, chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang đo SF-12. Thống kê mô tả được áp dụng mô tả đặc điểm nhân khẩu học, lâm sàng và điểm số QoL. Kết quả: Điểm trung bình ở tất cả các khía cạnh của thang SF-12 đều tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), trong đó sức khỏe thể chất tăng từ 22,08 ± 6,91 lên 46,41 ± 17,31 điểm, sức khỏe tinh thần cải thiện từ 43,20 ± 11,18 lên 57,62 ± 16,75 điểm, và tổng điểm SF-12 tăng từ 32,64 ± 8,26 lên 52,02 ± 16,56 điểm. Về mức phân loại, 2 tuần sau phẫu thuật đa số người bệnh ở mức rất kém (46,9%) hoặc kém (33,1%), trong khi sau 4 tuần phẫu thuật tỷ lệ đạt mức tốt (16,9%) và rất tốt (33,1%). Kết luận:Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo cải thiện rõ rệt trong 4 tuần đầu, đặc biệt ở sức khỏe thể chất, với tỷ lệ đạt mức tốt và rất tốt tăng đáng kể so với thời điểm 2 tuần sau phẫu thuật</p>Chử Minh Đức, Phan Bá Hải, Nguyễn Mai Hồng, Nguyễn Thanh Trà, Phùng Thị Thêu, Vũ Thị Trang, Phạm Đức Tiến, Nguyễn Văn Bảy, Phạm Thị Thanh Duyên, Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Đào Thị Ngân
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-032026-03-039021623Đánh giá sự hài lòng của người bệnh khám ngoại trú tại Bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138771
<p>Mục tiêu: Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá sự hài lòng của người bệnh khám ngoại trú tại Bệnh viện mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân trong năm 2025 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 1080 bệnh nhân ngoại trú từ 18 tuổi trở lên, đến khám tại phòng khám Bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2025. Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện. Biến số sự hài lòng được đánh giá trên thang Likert từ 1-5 điểm. Thu thập số liệu qua phỏng vấn bằng phiếu khảo sát, nhập liệu bằng Epidata 3.1, các phân tích được thực hiện bằng phần mềm Stata 13.0. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy 82,9% người bệnh hài lòng với dịch vụ khám, chữa bệnh ngoại trú. Một số nội dung được đánh giá hài lòng ở mức cao: Nhân viên y tế tiếp đón, hướng dẫn người bệnh làm các thủ tục niềm nở, tận tình (4,45 ± 0,55); Khu khám bệnh bảo đảm an ninh, trật tự, phòng ngừa trộm cắp cho người dân (4,50 ± 0,52); Kết quả khám bệnh đã đáp ứng được nguyện vọng của người bệnh (4,63 ± 0,59). Ngược lại, tỷ lệ hài lòng ở người bệnh thấp hơn với một số tiêu chí như: khả năng tiếp cận thông tin (3,82 ± 0,84); Thời gian chờ nhận kết quả xét nghiệm, chiếu chụp (3,58 ± 0,99). Một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh về kết quả khám chữa bệnh là: tuổi, số lần đi khám, thời gian đi khám và sự tin tưởng khi đi khám bệnh. Kết luận: Phần lớn người bệnh hài lòng khi tới khám, chữa bệnh ngoại trú tại khoa khám bệnh, bệnh viện Mắt Hà Nội cơ sở 2D Nguyễn Viết Xuân, chiếm gần 83% số lượng đối tượng khảo sát. Tuy nhiên, vẫn cần có những biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân khi đến khám và điều trị trong ngày, và cần lưu ý các đối tượng người bệnh tuổi cao, số lần đi tái khám nhiều lần, và đối tượng quan tâm tìm hiểu nguồn thông tin trước khi đi khám</p>Hoàng Thị Kim Ngân, Nguyễn Khánh Huyền, Đào Kiều Anh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-042026-03-049022433Kiến thức về phòng sốt xuất huyết dengue ở người trưởng thành phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2025 và một số yếu tố liên quan
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138776
<p>Mục tiêu: Mô tả kiến thức về phòng sốt xuất huyết Dengue ở người trưởng thành phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt trên 349 người từ 18 tuổi trở lên, sống tại phường Đồng Nhân từ tháng 01 đến tháng 07/2025. Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo độ tuổi và giới tính. Thu thập số liệu qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, nhập liệu bằng excel và xứ lý số liệu bằng SPSS 20.0. Kết quả: 69,3% người đạt kiến thức chung về phòng sốt xuất huyết Dengue. Nhóm tuổi 31–60 tuổi có kiến thức đạt cao hơn so với nhóm 18-30 tuổi (OR = 2,3), người có trình độ đại học trở lên có kiến thức đạt cao hơn so với nhóm có trình độ THCS (OR = 25,7), công chức/viên chức có kiến thức đạt cao hơn so với học sinh/sinh viên (OR = 31,9), một số nhóm nghề khác như lao động tự do (OR = 2,1) và hưu trí (OR = 3,2) cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Đối tượng có tiếp xúc với nguồn thông tin từ Internet/Mạng xã hội, truyền thông đại chúng (đài/tivi), nhân viên y tế, truyền thông địa phương, và báo/ tạp chí đều có kiến thức đạt cao hơn so với người không tiếp xúc. Kết luận: Kiến thức đạt về sốt xuất huyết Dengue ở cộng đồng ở mức khá. Cần tăng cường truyền thông, giáo dục sức khoẻ và các chiến dịch cộng đồng để cải thiện hành vi phòng bệnh</p>Đào Kiều Anh, Nguyễn Anh Quang, Trần Thị Hải Yến, Nguyễn Kim Cúc, Trần Thị Mai Anh, Ngô Minh Đạt
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-062026-03-069023444Kiến thức và thái độ về tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138780
<p>Mục tiêu: Đánh giá kiến thức và thái độ về tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường típ 2 và xác định một số yếu tố liên quan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 328 người bệnh đái tháo đường típ 2 tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc và phân tích bằng SPSS 22.0; sử dụng kiểm định Chi-square và ước tính OR với khoảng tin cậy 95%. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có kiến thức tốt là 61,9% và thái độ tích cực là 67,4%. Người bệnh có trình độ học vấn trên trung học phổ thông có khả năng có kiến thức tốt cao hơn 2,18 lần (OR = 2,18; KTC 95%: 1,39–3,41; p = 0,001), và có thái độ tích cực cao hơn 2,39 lần (OR = 2,39; KTC 95%: 1,50–3,80; p < 0,001) so với nhóm dưới trung học phổ thông. Người bệnh mắc bệnh ≥ 5 năm có kiến thức tốt cao hơn 1,74 lần (OR = 1,74; KTC 95%: 1,12–2,71; p = 0,014). Ngoài ra, sống ở thành thị liên quan đến kiến thức tốt (OR = 1,41; p = 0,048) và thái độ tích cực (OR = 1,86; p = 0,007); nữ giới có thái độ tích cực cao hơn nam (OR = 1,67; p = 0,024). Kết luận: Kiến thức và thái độ về chăm sóc bàn chân của người bệnh ở mức khá nhưng chưa đồng đều giữa các nội dung. Các yếu tố như trình độ học vấn, nơi sinh sống và thời gian mắc bệnh có liên quan đến kiến thức và thái độ</p>Vũ Thị Thu Hường, Phạm Thảo Cam Ly, Trần Cẩm Duyên, Nguyễn Thị Như Quỳnh, Ninh Thị Kim Loan
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-102026-03-109024556Yếu tố liên quan đến kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138784
<p>Mục tiêu: Xác định mức độ kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 380 sinh viên điều dưỡng năm 3 và năm 4 tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành năm 2025. Công cụ thu thập số liệu gồm bảng câu hỏi đặc điểm cá nhân và thang đo kiến thức chăm sóc giảm nhẹ. Dữ liệu được phân tích bằng thống kê mô tả và kiểm định t-test, ANOVA với mức ý nghĩa p < 0,05. Kết quả: Điểm trung bình về kiến thức chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng là 9,08 ± 2,48 , trong đó 57,1% sinh viên có mức kiến thức kém, 41,6% mức trung bình và 1,3% mức tốt. Học lực có mối liên quan đến mức độ kiến thức (p < 0,05), trong đó sinh viên có học lực xuất sắc đạt điểm cao hơn các nhóm còn lại. Kết luận: Kiến thức về chăm sóc giảm nhẹ của sinh viên điều dưỡng còn hạn chế và chưa đồng đều. Học lực là yếu tố có liên quan đến mức độ kiến thức. Cần tăng cường nội dung đào tạo chuyên sâu và đa dạng hóa phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao năng lực chăm sóc giảm nhẹ cho sinh viên điều dưỡng</p>Nguyễn Ngọc Đoan Trang, Lê Thị Kim Phụng, Võ Minh Tiến, Nguyễn Hoàng Bảo Nhân, Lê Thị Quế Phương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-132026-03-139025766Kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ có thai đối với việc sử dụng thuốc trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138812
<p>Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của phụ nữ có thai (PNCT) đối với việc sử dụng thuốc trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2025 và một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên PNCT đến khám ngoại trú tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Dữ liệu được thu thập thông qua link khảo sát có cấu trúc, sử dụng bộ câu hỏi KAP đã được kiểm định về việc sử dụng thuốc. Phương pháp lấy mẫu thuận tiện được áp dụng. Tổng cộng có 390 phụ nữ tham gia nghiên cứu. Kết quả: Phần lớn đối tượng có kiến thức tốt (84,6%), thái độ tích cực (98,5%) và thực hành tốt (90,3%) đối với việc sử dụng thuốc trong thai kỳ. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến KAP bao gồm tuổi, dân tộc, loại hình công việc chính và được bác sĩ tư vấn. Mặc dù tỷ lệ KAP chung cao, vẫn tồn tại sự khác biệt giữa kiến thức, thái độ và thực hành thực tế tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Kết luận: Đa số PNCT trong nghiên cứu có KAP thuận lợi về việc sử dụng thuốc khi mang thai. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhận thức và hành vi vẫn còn tồn tại. Cần tăng cường hoạt động tư vấn phối hợp giữa bác sĩ - điều dưỡng - dược sĩ, đồng thời đẩy mạnh truyền thông và giáo dục sức khỏe cho PNCT nhằm thúc đẩy việc sử dụng thuốc hợp lý</p>Lê Thị Lan Anh, Nguyễn Huy Tuấn, Nguyễn Đình An, Nguyễn Trà Giang, Đoàn Anh Dũng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-192026-03-199026779Dịch thuật và đánh giá các đặc tính đo lường của Bảng câu hỏi Bản sắc nghề nghiệp ở sinh viên điều dưỡng Việt Nam
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138819
<p>Mục tiêu: Dịch thuật và kiểm định các đặc tính đo lường của Bảng câu hỏi Bản sắc nghề nghiệp (PSIQ) ở sinh viên điều dưỡng Việt Nam. Phương pháp: Thiết kế cắt ngang được thực hiện theo tiêu chuẩn COSMIN. Độ giá trị nội dung được đánh giá thông qua đồng thuận chuyên gia bằng chỉ số giá trị nội dung (CVI). Độ giá trị cấu trúc được kiểm định bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA). Độ tin cậy được xác định bằng hệ số Cronbach’s alpha và hệ số tương quan nội lớp (ICC). Kết quả: EFA xác định cấu trúc ba nhân tố ổn định (yếu tố đặc thù nghề nghiệp, thuộc tính chung và nhiệm vụ tương tác), giải thích 77,8% tổng phương sai. CFA xác nhận cấu trúc này với mức độ phù hợp mô hình. VN-PSIQ cho thấy mối tương quan dương mức trung bình với thái độ nghề nghiệp (r = 0,36; p < 0,001) và mối tương quan yếu với căng thẳng cảm nhận (r = 0,075; p = 0,266). Các chỉ số độ tin cậy rất cao (α = 0,95; ICC = 0,97). Kết luận: VN-PSIQ có cấu trúc nhân tố ổn định, đặc tính đo lường đạt yêu cầu và là công cụ có độ giá trị, độ tin cậy cao để đánh giá bản sắc nghề nghiệp của sinh viên điều dưỡng Việt Nam trong nghiên cứu và giáo dục.</p>Đỗ Minh Sinh, Đỗ Thị Hòa, Vũ Thị Hải Oanh, Nguyễn Sơn Tùng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-262026-03-269028090Thực trạng tuân thủ của điều dưỡng về “7 đúng” trong thực hiện thuốc tại khoa Nội chung Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 2024
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138826
<p>Mục tiêu: Mô tả sự tuân thủ “7 đúng” của điều dưỡng trong thực hiện thuốc tại khoa Nội chung Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 233 lượt thực hiện thuốc cho người bệnh tại khu vực điều tri nội trú khoa Nội chung Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times city năm 2024. Bảng kiểm quan sát được xây dựng dựa trên Hướng dẫn thực hiện 7 đúng với tổng số 22 tiêu chí đánh giá. Kết quả: Với tuân thủ thực hành thuốc uống: Các tiêu chí “Đúng Mục đích”, “Đúng Liều dùng”, “Đúng Đường dùng” và “Đúng Thuốc” có sự tuân thủ cao. Các tiêu chí như “Đúng Người bệnh” và “Đúng Ghi chép” có mức độ tuân thủ thấp hơn và chưa đồng đều giữa các điều dưỡng. Các tiêu chí tuân thủ thực hành thuốc tiêm: “Đúng Thuốc”, “Đúng Đường dùng” đạt mức tuân thủ khá. Tiêu chí “Đúng Liều dùng” đạt điểm trung bình cao nhưng không đồng đều giữa các điều dưỡng. Các tiêu chí “Đúng Thời gian” và “Đúng Mục đích” được tuân thủ thấp hơn. Tiêu chí “Đúng Ghi chép” có sự phân tán lớn. Kết luận:Điều dưỡng tại khoa Nội chung Vinmec Times City năm 2024 có mức tuân thủ “7 đúng” khá cao, nhưng chưa đồng đều giữa các tiêu chí.</p>Nguyễn Thị Ngọc Bích, Bùi Văn Thắng, Đinh Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Phương, Trần Thị Tuyết, Trần Thị Kim Dung, Nguyễn Thị Hải Vân
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-272026-03-2790291100Thực trạng kiến thức và tuân thủ điều trị của các bà mẹ có con bị viêm loét dạ dày – tá tràng do Helicobacter Pylori tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138832
<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức và tuân thủ điều trị của các bà mẹ có con bị viêm loét dạ dày – tá tràng do Helicobacter pylori và xác định một số yếu tố liên quan. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 158 bà mẹ có con được chẩn đoán viêm loét dạ dày – tá tràng do Helicobacter pylori điều trị tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng. Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc và phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0 với thống kê mô tả, phép kiểm Chi-square/Fisher, t-test hoặc Mann–Whitney và hồi quy logistic nhị phân. Ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Kết quả: Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc của bà mẹ đạt 94,9%, tuân thủ các biện pháp ngoài thuốc đạt 98,7% và tuân thủ điều trị chung đạt 74,1%. Kiến thức tốt của bà mẹ có liên quan đến tuân thủ điều trị (OR = 3,05; 95%CI: 1,09–8,81). Sự tư vấn của nhân viên y tế cũng liên quan đến tuân thủ dùng thuốc (OR = 2,23) và tuân thủ ngoài thuốc (OR = 2,56). Các yếu tố như tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn và nơi cư trú không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuân thủ điều trị. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy tuân thủ điều trị của bà mẹ khá cao nhưng kiến thức chưa đồng đều; kiến thức và tư vấn của nhân viên y tế có liên quan có ý nghĩa đến tuân thủ điều trị</p>Trương Thị Ánh Linh, Trần Công Toại, Nguyễn Thị Minh Chính
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-03-302026-03-30902101109Đặc điểm mệt mỏi và một số yếu tố liên quan ở người bệnh trầm cảm điển hình điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/138836
<p>Mục tiêu: Mô tả đặc điểm mệt mỏi và phân tích một số yếu tố liên quan ở người bệnh trầm cảm điển hình điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 77 người bệnh được chẩn đoán trầm cảm điển hình điều trị tại Viện Sức khỏe Tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 5 năm 2025 đến tháng 11 năm 2025.Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp người bệnh bằng bộ câu hỏi cấu trúc sẵn từ 4 thang đo: FAsD-V2, PHQ-9, Moisky and SF-6. Kết quả: 100% người bệnh có biểu hiện mệt mỏi với các mức độ khác nhau, trong đó mệt mỏi mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (48,1%). Mệt mỏi thường xuất hiện đồng thời cùng các triệu chứng trầm cảm (49,4%), kéo dài suốt cả ngày (51,9%), ít cải thiện sau nghỉ ngơi (53,2%). Một số yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ mệt mỏi bao gồm: tình trạng hôn nhân, thời gian ngủ, mức độ trầm cảm, mức độ tuân thủ điều trị và chất lượng cuộc sống (p < 0,05). Kết luận: Mệt mỏi là triệu chứng phổ biến ở người bệnh trầm cảm điển hình, có xu hướng kéo dài và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Việc đánh giá và can thiệp sớm là cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị</p>Trịnh Việt Hà, Nguyễn Thị Hoa, Trịnh Thị Thanh Tuyền, Đỗ Gia Cát
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-012026-04-01902110118Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú của phụ nữ: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142712
<p>Mục tiêu: Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú của phụ nữ tại tỉnh Nam Định. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 600 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại ba vùng đặc trưng (thành thị, ven biển, nông thôn) của tỉnh Nam Địnhcũ (nay là tỉnh Ninh Bình) từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2025. Dữ liệu được thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc và phân tích bằng kiểm định Kruskal-Wallis H, Post-hoc và tương quan Spearman. Kết quả: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn thông tin và địa chỉ cư trú được xác định có liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú (p < 0,001). Nhóm phụ nữ vùng nông thôn có điểm thấp nhất. Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư vú của phụ nữ tại Nam Định chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các yếu tố nhân khẩu học và kinh tế - xã hội. Cần thiết phải đa dạng hóa các kênh truyền thông và triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe tại cộng đồng theo phương pháp “cầm tay chỉ việc” để cải thiện thực hành phòng bệnh thực tế.</p>Nguyễn Thị Minh Chính, Nguyễn Thị Thanh Hường, Vũ Thị Là, Phạm Thị Bích Ngọc, Trần Thị Hồng Hạnh, Đào Thị Thủy, Nguyễn Thị Huyền Trang, Trần Thị Cẩm Nhung, Đào Trường Minh, Trần Văn Thọ
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-022026-04-02902119128Thay đổi kiến thức dinh dưỡng của người bệnh đái tháo đường type 2 bị viêm gan virus mạn tính tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025 sau can thiệp giáo dục sức khỏe
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142714
<p>Mục tiêu: Đánh giá sự kết quả thay đổi về kiến thức dinh dưỡng sau can thiệp giáo dục sức khỏe ở người bệnh đái tháo đường type 2 mắc viêm gan virus mạn tính tại khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu nghiên cứu can thiệp so sánh trước sau trên 90 người bệnh đái tháo đường type 2 mắc viêm gan virus B mạn tính hiện đang điều trị nội trú tại khoa Bệnh Nhiệt đới - Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ tháng 02/2025 đến tháng 06/2025. Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh là 65,8 ± 13,3 năm, với nhóm ≥ 70 tuổi chiếm 44,4%, nhóm 60–69 tuổi chiếm 30%. Giới tính: nam 54,4%, nữ 45,6%. Thời gian mắc đái tháo đường type 2 trung bình là 8,6 ± 4,8 năm, trong đó 1–5 năm chiếm 32,2%, 5–10 năm chiếm 42,2% và 10–20 năm chiếm 25,6%. Trước can thiệp, chỉ 32,2% người bệnh đạt mức kiến thức dinh dưỡng tốt (≥ 50%), còn 67,8% chưa đạt (< 50%). Sau can thiệp, tỷ lệ đạt kiến thức tốt tăng lên 82,2%, trong khi nhóm chưa tốt giảm còn 17,8%. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phần lớn người bệnh đái tháo đường type 2 đồng mắc viêm gan mạn tính là người cao tuổi, nam giới chiếm đa số và có thời gian mắc đái tháo đường trung bình từ 5–10 năm. Trước can thiệp, kiến thức dinh dưỡng của người bệnh còn hạn chế nhưng đã được cải thiện rõ rệt sau chương trình giáo dục dinh dưỡng, qua đó chứng minh hiệu quả của can thiệp trong việc nâng cao kiến thức và hỗ trợ quản lý bệnh ở những trường hợp mắc đồng thời nhiều bệnh lý</p>Dương Mạnh Tùng, Nguyễn Thị Minh Chính, Phan Hướng Dương, Ngô Thị Thùy Dương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-032026-04-03902129139Thực trạng và yếu tố liên quan đến nguy cơ ngã ở người bệnh suy tim tại Khoa Nội tim mạch Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142715
<p>Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ nguy cơ ngã và một số yếu tố liên quan ở người bệnh suy tim tại khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 81 người bệnh suy tim nhập viện điều trị qua đêm trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 8 năm 2024. Sử dụng bộ câu hỏi Johns Hopkins Fall Risk Assessment Tool (JHFRAT) để đánh giá nguy cơ té ngã ở người bệnh suy tim. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 75,6 ± 13,3 tuổi, chủ yếu là nam giới. Tỷ lệ người bệnh có nguy cơ té ngã ở mức độ trung bình chiếm phần lớn (69,1%), nguy cơ cao chiếm 17,3%. Nghiên cứu này cho thấy chỉ có mối liên quan giữa nhóm tuổi và nguy cơ té ngã. Người bệnh suy tim từ 70 tuổi trở lên có nguy cơ té ngã cao hơn 6,4 lần so với người bệnh suy tim dưới 70 tuổi(p < 0,05). Kết luận:Người bệnh suy tim có tỷ lệ nguy cơ ngã cao với 86,4% có nguy cơ từ trung bình trở lên và tuổi ≥ 70 là yếu tố nguy cơ độc lập quan trọng. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sàng lọc nguy cơ té ngã và can thiệp phòng ngừa ở người bệnh suy tim, đặc biệt nhóm tuổi cao</p>Đỗ Thị Hiến, Nguyễn Quý Quyền, Lê Thanh Hà, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Thị Hồng Nga, Đoàn Văn Nghĩa, Tô Lan Phương, Đỗ Thị Hồng Hà
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-072026-04-07902140147Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư tuyến giáp của phụ nữ ở cộng đồng: Một nghiên cứu mô tả cắt ngang
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142717
<p>Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và phát hiện sớm ung thư tuyến giáp ở phụ nữ tại cộng đồng. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 600 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại tỉnh Nam Định năm 2025 (nay là tỉnh Ninh Bình). Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi cấu trúc tự điền đánh giá KAP. Số liệu được phân tích bằng thống kê mô tả, kiểm định, so sánh và phân tích hậu kiểm với mức ý nghĩa p < 0,05. Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kiến thức, thái độ và thực hành giữa các nhóm trình độ học vấn, nghề nghiệp và nguồn thông tin tiếp cận (p < 0,05). Phân tích Post-hoc cho thấy sự khác biệt chủ yếu giữa các nhóm có trình độ học vấn khác nhau, đặc biệt giữa nhóm không biết chữ và các nhóm có trình độ từ trung học cơ sở trở lên (p < 0,001). Ngoài ra, sự khác biệt cũng được ghi nhận giữa các nhóm nghề nghiệp và giữa các nguồn thông tin tiếp cận đối với các thành phần KAP (p < 0,05). Kết luận: Cần triển khai các chương trình giáo dục sức khỏe phù hợp nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy hành vi dự phòng</p>Nguyễn Thị Minh Chính, Nguyễn Thị Thanh Hường, Vũ Thị Là, Phạm Thị Bích Ngọc, Trần Thị Hồng Hạnh, Đào Thị Thủy, Nguyễn Thị Huyền Trang, Trần Thị Cẩm Nhung, Đào Trường Minh, Trần Văn Thọ
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-092026-04-09902148154Thay đổi kiến thức, thái độ của cha mẹ có con dưới 5 tuổi bị tự kỷ đến khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142718
<p>Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi về kiến thức, thái độ của cha/mẹ có con dưới 5 tuổi mắc rối loạn phổ tự kỷ sau chương trình hướng dẫn can thiệp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp trước- sau không có nhóm chứng trên 48 cha/mẹ tại cơ sở y tế. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi kiến thức, thái độ bằng hình thức phỏng vấn. So sánh trước- sau bằng các test thống kê phù hợp, với p < 0,05. Kết quả: Sau can thiệp, tỷ lệ cha/mẹ có kiến thức đúng về tự kỷ tăng từ 10,4% lên 89,5%; hiểu biết về nguyên nhân tăng từ 12,5% lên 87,5%. Nhận thức đúng về vai trò của cha/mẹ trong can thiệp tăng từ 10,4% lên 97,9%. Tỷ lệ chấp nhận tình trạng của con tăng từ 16,6% lên 93,7%, trong khi các cảm xúc tiêu cực giảm rõ rệt. Kết luận: Chương trình hướng dẫn can thiệp đã cải thiện rõ rệt kiến thức, thái độ của cha/mẹ trẻ tự kỷ. Cần triển khai rộng rãi các chương trình đào tạo cha/mẹ kết hợp để nâng cao hiệu quả can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ</p>Trương Tuấn Anh, Hoàng Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa Huyền
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-132026-04-13902155164Thực trạng kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi tỉnh Tuyên Quang năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142721
<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh lao phổi tại Bệnh viện Phổi tỉnh Tuyên Quang năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 110 người bệnh trong thời gian từ tháng 3/2025 đến tháng 5/2025. Bộ công cụ dựa trên phiếu điều tra của tác giả Thân Thị Bình và kiểm định lại với Cronbach’s alpha là 0,84. Kết quả:Tỷ lệ người bệnh có kiến thức đạt về nguyên tắc điều trị lao chiếm 33,6%. Tỷ lệ thực hành đạt là 47%. Điểm trung bình kiến thức đạt 10,97 ± 5,04, điểm trung bình thực hành đạt 3,17 ± 2. Yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị gồm: trình độ học vấn, tác dụng phụ, giám sát từ người nhà, khó khăn về địa lý, tái khám theo lịch hẹn. Kết luận: Tỷ lệ kiến thức và thực hành tuân thủ điều trị lao của người bệnh còn thấp. Cần tăng cường công tác tư vấn giáo dục sức khỏe. Tổ chức tuyên truyền ở nhiều nơi trên địa bàn. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ nhắc nhở, giám sát tuân thủ điều trị</p>Hứa Hương Quỳnh, Ngô Huy Hoàng, Nguyễn Ngọc Thành
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-152026-04-15902165172Kiến thức về phòng và xử trí phản vệ của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Quân y 103 năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142722
<p>Mục tiêu: Mô tả thực trạng kiến thức và tìm hiểu một số yếu tố liên quan quan đến kiến thức của điều dưỡng trong việc phòng và xử trí phản vệ tại Bệnh viện Quân Y 103 năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 200 điều dưỡng từ tháng 4 đến tháng 6/2025, sử dụng bộ câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên thông tư 51/2017/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành. Số liệu được nhập, mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0, tính toán tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm định mối liên quan giữa các biến bằng kiểm định chi-square (p < 0,05). Kết quả: Tỷ lệ điều dưỡng viên có kiến thức cơ bản về phản vệ đạt là 63%, kiến thức về dự phòng phản vệ đạt 69%, kiến thức về xử trí và theo dõi phản vệ đạt 64%. Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa giới tính với kiến thức về xử trí phản vệ, trình độ chuyên môn với kiến thức cơ bản về phản vệ và kiến thức về dự phòng phản vệ; kinh nghiệm từng chứng kiến phản vệ với kiến thức về xử trí và theo dõi phản vệ (p < 0,05). Kết luận: Qua nghiên cứu đã cho thấy điều dưỡng cầnhọc tập nâng cao trình độ chuyên môn để có thể tự tin hơn khi ra quyết định trong chăm sóc người bệnh. Cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức định kỳ, đồng thời lồng ghép các buổi mô phỏng tình huống phản vệ nhằm giúp điều dưỡng viên rèn luyện kỹ năng xử trí nhanh, chính xác</p>Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Thị Oanh, Phạm Thị Liễu, Đinh Thị Hà, Hoàng Thị Hà, Hoàng Thị Lan Anh, Đinh Duy Dũng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-202026-04-20902173181Đánh giá kiến thức, thái độ dự phòng đột quỵ não của người cao tuổi phường Vị Xuyên năm 2025
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142724
<p>Mục tiêu:Đánh giá kiến thức, thái độ dự phòng đột quỵ não của người cao tuổi phường Vị Xuyên, Nam Định năm 2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 82 người cao tuổi phường Vị Xuyên, Nam Định tham gia nghiên cứu từ tháng 3/2025 đến tháng 5/2025. Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu. Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy 43,9% và 7,4% người cao tuổi có kiến thức đúng về cơ quan tổn thương và nguyên nhân đột quỵ não. Kiến thức dự phòng đột quỵ của người cao tuổi chỉ 20,7% có kiến thức đúng về bỏ hoặc không hút thuốc, 36,6% có kiến thức đúng trong hạn chế muối và 39% biết cần hạn chế dầu mỡ. 34,1% và 25,6% người cao tuổi có kiến thức đúng về tuân thủ điều trị bệnh tim mạch và kiểm soát đường máu nhằm dự phòng đột quỵ não. 25,6% người cao tuổicó thái độ đồng ý về mức độ nguy hiểm của đột quỵ não và 61% đồng ý đột quỵ não là bệnh lý có thể phòng tránh. 46,3% cảm thấy tự tin thực hiện các biện pháp dự phòng đột quỵ não. Kết luận: Kiến thức và thái độ dự phòng đột quỵ não còn hạn chế với 13,4% người cao tuổi có kiến thức đạt, 19,5% có thái độ tích cực. Cần tăng cường thiết kế, xây dựng các chương trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bệnh đột quỵ nãp và biện pháp dự phòng tại cộng đồng</p>Dương Thị Mai Hương, Trương Tuấn Anh, Hoàng Ngọc Hà, Trần Thị Hải Lý
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-232026-04-23902182190Thực trạng tâm lý, nhu cầu thông tin và giao tiếp điều dưỡng ở người bệnh ung thư nội trú tại Bệnh viện Quân y 103
https://vjol.info.vn/DHDDND/article/view/142725
<p>Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ lo âu, trầm cảm và căng thẳng; nhu cầu và mức độ hài lòng về thông tin y tế; đồng thời khảo sát thực trạng giao tiếp của điều dưỡng với người bệnh ung thư nội trú tại Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Quân y 103. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 200 người bệnh ung thư nội trú từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2025 sử dụng các bộ công cụ gồm Thang đo lo âu trầm cảm (HADS), thang đo căng thẳng cảm xúc Distress Thermometer (DT), thang đo kỹ năng giao tiếp 4HCS, Bảng hỏi nhu cầu thông tin (PINQ), Thang đo sự hài lòng về thông tin được nhận EORTC QLQ-INFO25. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có lo âu là 31,0% và trầm cảm là 25,0%; 66,5% NB cần được hỗ trợ tâm lý (điểm Distress Thermometer ≥ 4). Về giao tiếp điều dưỡng, điểm trung bình chung đạt 4,05 ± 0,44 (trên thang 5), cao nhất ở tiêu chí “thái độ tôn trọng, đồng cảm” (4,30 ± 0,53) và thấp nhất ở “dành thời gian giải đáp thắc mắc” (3,78 ± 0,67). Người bệnh có nhu cầu thông tin cao, đặc biệt về tác dụng phụ của điều trị (89,5%) và phương pháp điều trị (88,0%). Mức độ hài lòng về thông tin ở mức trung bình với điểm trung bình 57,3 ± 16,5, cao nhất ở thông tin về bệnh (61,1 ± 15,1) và thấp nhất ở dịch vụ chăm sóc (52,6 ± 20,0). Kết luận: Người bệnh ung thư có nhu cầu cao về hỗ trợ tâm lý và thông tin y tế. Cần tăng cường kỹ năng giao tiếp, tư vấn của điều dưỡng và sàng lọc tâm lý định kỳ nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc</p>Lê Văn Định, Nguyễn Hương Ly, Hoàng Thị Thơm, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Xuân Trường, Nguyễn Thị Như Hảo, Vũ Anh Hải
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Điều dưỡng
2026-04-252026-04-25902191200