https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/issue/feedTạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh - Kinh tế và Quản trị kinh doanh2026-03-30T10:20:28+07:00Open Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh</strong></p>https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136522Ảnh hưởng của mô hình học tập kết hợp đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh2026-03-30T10:17:57+07:00Ngọc Minh Hương Đoàndnmhuong@ufm.edu.vnViết Bằng Nguyễnbangnv@ueh.edu.vn<p><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu khám phá ảnh hưởng của hình thức học tập kết hợp đối với sức khỏe tinh thần của sinh viên đại học, góp phần vào xu hướng hiện đại hóa giáo dục. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích định lượng để phân tích dữ liệu thu thập từ 478 sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), tập trung làm rõ mối liên hệ giữa học tập kết hợp và sức khỏe tinh thần. Khám phá từ nghiên cứu góp phần mở rộng nền tảng thực nghiệm và đưa ra hàm ý quản trị nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục, từ đó giúp người học thúc đẩy và hoàn thiện năng lực, tự chủ, khả năng gắn kết và triển khai các hoạt động hỗ trợ tinh thần thích ứng với phương thức học tập kết hợp. Nghiên cứu đóng góp các giải pháp chiến lược cho lĩnh vực giáo dục đại học trong thời đại số, cân bằng giữa đổi mới phương pháp và ổn định sức khỏe tinh thần cho người học.</span></p>2025-09-07T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136520Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo: Vai trò của nhận thức bảo mật và mô hình đề xuất trong bối cảnh Việt Nam2026-03-30T10:18:22+07:00Đắc Đăng Khoa Hồ6013240005@huit.edu.vnPhi Hổ Đinhdpho@upt.edu.vnThị Ngọc Lan Trầnlanttn@huit.edu.vn<p><span style="font-weight: 400;">Trong vài năm trở lại đây, xu hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức ngày càng phổ biến, trong đó có Việt Nam. Việc triển khai rộng rãi mang lại những hiệu quả tích cực, đặc biệt là đối với các công đoạn không đòi hỏi quá cao sự sáng tạo, mang tính lặp đi lặp lại nhàm chán hay tốn nhiều thời gian. Bên cạnh cơ hội, các doanh nghiệp, tổ chức cũng gặp phải nhiều thách thức trong việc triển khai AI, đáng chú ý như vấn đề lo ngại về an toàn và bảo mật khi sử dụng thực tế. Nhận thấy thực trạng đó, nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp định tính, dựa trên cơ sở kế thừa lý thuyết nền tảng và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây nhằm phát triển mô hình lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) của Venkatesh và cộng sự (2003) sao cho phù hợp với bối cảnh hiện nay của các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam. Mô hình đề xuất bao gồm 06 yếu tố tác động đến ý định và hành vi sử dụng, bao gồm: (1) hiệu suất kỳ vọng, (2) nỗ lực kỳ vọng, (3) ảnh hưởng xã hội, (4) điều kiện thuận lợi, (5) động lực hưởng thụ, và (6) nhận thức bảo mật.</span></p>2026-01-12T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136519Hiệu suất ESG (Environment, Social, Governance - Môi trường, Xã hội, Quản trị) và hành vi tránh thuế doanh nghiệp: Bằng chứng từ các doanh nghiệp Châu Âu2026-03-30T10:18:45+07:00Thị Ngọc Dung Phạmdungptn@ueh.edu.vnNgân Hà Đoànhadn.25af@ou.edu.vnDiễm Hải Nhi Phùngb2100467@student.tdtu.edu.vnXuân Hoàng Trầnb2100440@student.tdtu.edu.vn<p><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa hiệu suất ESG (Environment, Social, Governance - Môi trường, Xã hội, Quản trị) và hành vi tránh thuế của doanh nghiệp tại Châu Âu giai đoạn 2015 - 2023, và tìm thấy hiệu suất ESG cao là nguyên nhân gia tăng mức độ tránh thuế của các doanh nghiệp với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận. Kết quả phân tích cho thấy tác động này mạnh mẽ hơn ở các doanh nghiệp quy mô lớn và những doanh nghiệp có lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) thấp, đây là một minh chứng có các động cơ chiến lược và áp lực tài chính khác nhau đối với các doanh nghiệp tại Châu Âu. Những phát hiện này cảnh báo các nhà hoạch định chính sách và nhà đầu tư về hệ quả ngoài ý muốn của các quy định ESG, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc tích hợp giám sát thuế vào khuôn khổ phát triển bền vững khi triển khai thực hiện ESG.</span></p>2026-01-12T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136521Rủi ro biến đổi khí hậu và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam: Vai trò của tỷ lệ dự trữ tiền mặt2026-03-30T10:19:05+07:00Thị Hương Giang Vươnggiangvth@hub.edu.vnThị Giao Linh Huỳnhhuynhlinh2129@gmail.com<p><span style="font-weight: 400;">Bài viết đánh giá tác động của rủi ro biến đổi khí hậu đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, đồng thời phân tích vai trò điều tiết của tỷ lệ dự trữ tiền mặt đối với tác động này. Dữ liệu được thu nhập từ 42 doanh nghiệp nông nghiệp trên các sở HOSE, HNX và sàn UPCOM. Các phương pháp ước lượng Pooled OLS, FEM, REM và FGLS được sử dụng để đảm bảo độ tin cậy của kết quả thực nghiệm. ROA và ROE là hai thước đo đại diện cho hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, trong khi đó, rủi ro biến đổi khí hậu được đo lường bằng chỉ số bất định chính sách biến đổi khí hậu (CPU). Kết quả cho thấy rủi ro biến đổi khí hậu có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, tuy nhiên tỷ lệ dự trữ tiền mặt cao giúp doanh nghiệp giảm thiểu tác động tiêu cực này. Công trình nghiên cứu này góp phần làm rõ vai trò của quản trị rủi ro biến đổi khí hậu trong việc tăng cường khả năng thích ứng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh rủi ro biến đổi khí hậu toàn cầu gia tăng</span></p>2025-10-08T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136523Hệ thống dự báo khách hàng rời bỏ dịch vụ ngân hàng trên nền tảng học máy2026-03-30T10:19:45+07:00Quốc Hùng Nguyễnhungngq@ueh.edu.vnThành Trung Lêtrunglt@ueh.edu.vnThị Xuân Đào Nguyễndaontx@ueh.edu.vnQuang Trường Nguyễntruongqt@vib.com.vn<p><span style="font-weight: 400;">Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đã làm thay đổi căn bản phương pháp phân tích và khai thác dữ liệu trong ngành ngân hàng. Tuy nhiên, các mô hình truyền thống vẫn chủ yếu dựa trên dữ liệu định danh tĩnh, chưa tận dụng hiệu quả dữ liệu hành vi giao dịch để dự báo rủi ro khách hàng rời bỏ dịch vụ. Nghiên cứu này đề xuất một mô hình học máy ứng dụng dữ liệu giao dịch tài khoản DEBIT nhằm dự đoán khả năng khách hàng ngừng sử dụng dịch vụ ngân hàng. Dữ liệu được thu thập từ hệ thống CASA của ba ngân hàng thương mại tại khu vực phía Nam, thông qua hợp tác chính thức phục vụ mục đích nghiên cứu học thuật và đảm bảo các nguyên tắc bảo mật thông tin. Trên cơ sở dữ liệu này, nhóm tác giả tiến hành huấn luyện và so sánh hiệu quả dự báo giữa các mô hình học máy phổ biến. Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình Random Forest đạt độ chính xác cao nhất (96%) và có tiềm năng ứng dụng vào hệ thống quản trị quan hệ khách hàng (CRM). Mô hình đề xuất giúp nhận diện sớm các khách hàng có nguy cơ rời bỏ dịch vụ, từ đó hỗ trợ ngân hàng xây dựng các chiến lược giữ chân phù hợp. Nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở thực nghiệm cho lĩnh vực phân tích hành vi khách hàng trên nền tảng học máy trong bối cảnh chuyển đổi số tại các tổ chức tài chính - ngân hàng</span></p>2025-09-07T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136518Các chuẩn mực cá nhân và xã hội ảnh hưởng đến hành vi thân thiện với môi trường của giới trẻ Việt Nam2026-03-30T10:20:05+07:00Tòng Tuyền Tiếttuyentt@hub.edu.vnNam Quốc Trầnquoctn@hub.edu.vnThị Kim Anh Dươnganhdtk@hub.edu.vnNgọc Văn Caovancn@hub.edu.vn<p><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu này điều tra ảnh hưởng của các chuẩn cá nhân (nghĩa vụ đạo đức được nội tâm hóa) và các chuẩn xã hội (bao gồm chuẩn luật lệ - điều xã hội chấp nhận hoặc không chấp nhận, và chuẩn mô tả - hành vi được nhiều người thực hiện) đối với các hành vi thân thiện với môi trường (PEBs) của thanh niên Việt Nam. Sử dụng phương pháp Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để phân tích dữ liệu khảo sát 468 thanh niên tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chuẩn cá nhân và chuẩn mô tả là những nhân tố có tác động tích cực và trực tiếp đến PEBs. Mặc dù chuẩn luật lệ không có tác động trực tiếp đến PEBs, chúng lại ảnh hưởng đến chuẩn cá nhân. Đóng góp mới quan trọng của nghiên cứu là khẳng định vai trò trung gian then chốt của chuẩn cá nhân, là cầu nối liên kết giữa cả chuẩn luật lệ và chuẩn mô tả với PEBs. Những phát hiện này nhấn mạnh rằng ảnh hưởng xã hội (cả áp lực và quan sát) được nội tâm hóa thành trách nhiệm đạo đức cá nhân sẽ thúc đẩy hành động vì môi trường hiệu quả hơn. Do đó, các biện pháp can thiệp nên tập trung vào việc củng cố chuẩn cá nhân và tận dụng chuẩn mô tả (nhấn mạnh tính phổ biến của hành vi xanh) để thúc đẩy tính bền vững.</span></p>2026-01-12T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHM-KTQTKD/article/view/136517Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến phát triển Chính phủ điện tử: Bằng chứng ngắn hạn và dài hạn tại Việt Nam2026-03-30T10:20:28+07:00Duy Hiệp Phanhiep.phan@vlu.edu.vn<p><span style="font-weight: 400;">Bài nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa chỉ số phát triển chính phủ điện tử (EGDI) và các yếu tố kinh tế vĩ mô gồm năng suất lao động, xuất khẩu và lạm phát trong bối cảnh Việt Nam giai đoạn 2000 - 2024. Dữ liệu EGDI được nội suy từ bộ chỉ số biennial của Liên Hợp Quốc để tạo thành chuỗi thường niên, trong khi các biến độc lập được thu thập từ World Bank. Về phương pháp, nghiên cứu áp dụng mô hình ARDL phân tích tác động ngắn hạn và dài hạn, đồng thời tiến hành kiểm định Bound Test và các chẩn đoán hậu ước lượng nhằm bảo đảm tính tin cậy. Kết quả cho thấy trong dài hạn, cả năng suất lao động, xuất khẩu và lạm phát đều tác động tiêu cực đến EGDI, phản ánh sự thiếu gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và cải cách chính phủ điện tử. Trong ngắn hạn, biến động xuất khẩu và năng suất cũng ảnh hưởng bất lợi, trong khi tốc độ điều chỉnh về cân bằng diễn ra chậm. Những phát hiện này hàm ý rằng để nâng cao EGDI, Việt Nam cần tăng chi tiêu công cho công nghệ thông tin, phát triển nền tảng dữ liệu quốc gia và hải quan số nhằm gắn kết hội nhập thương mại với quản trị công, đồng thời duy trì ổn định vĩ mô để bảo đảm nguồn lực đầu tư bền vững.</span></p>2026-01-12T00:00:00+07:00Bản quyền (c)