https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/issue/feed Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á 2026-03-31T12:42:02+07:00 Trần Thị Mỹ Hạnh hanhttm@buh.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh</strong></p> https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136393 So sánh bong bóng tài chính thị trường phát triển và mới nổi: Tiếp cận từ mô hình PSY 2026-03-31T12:42:02+07:00 Liêu Cập Phủ phulc@hub.edu.vn Phạm Thị Tuyết Trinh trinhptt@hub.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này nhằm phát hiện sự tồn tại và so sánh các đặc điểm (tần suất, độ bền) của bong bóng tài chính giữa nhóm thị trường phát triển (Mỹ, Nhật Bản) và nhóm thị trường mới nổi (Trung Quốc, Việt Nam), qua đó kiểm chứng giả thuyết về giới hạn của kinh doanh chênh lệch giá.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nhóm tác giả sử dụng phương pháp kiểm định Phillips–Shi–Yu (PSY) để nhận diện các giai đoạn bùng nổ giá trên chuỗi dữ liệu chỉ số chứng khoán hàng tháng từ tháng 01/2002 đến tháng 02/2025. Đây là phương pháp tốt trong việc phát hiện đa bong bóng và xác định thời điểm bắt đầu – kết thúc.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả thực nghiệm xác nhận bong bóng tài chính tồn tại ở cả bốn thị trường, tuy nhiên có sự phân hóa rõ rệt. Tại các thị trường phát triển, bong bóng thường ngắn hạn do áp lực điều chỉnh hiệu quả từ những nhà đầu tư tổ chức và bán khống; ngược lại, tại các thị trường mới nổi, bong bóng kéo dài hơn do tâm lý đầu cơ và thiếu vắng những công cụ đối trọng.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm so sánh trực tiếp giữa hai nhóm thị trường trên cùng một khung thời gian và phương pháp thống nhất, đồng thời làm rõ vai trò của cấu trúc vi mô thị trường (như bán khống) trong việc kiểm soát bong bóng tài sản.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136397 Tác động của bất ổn chính sách kinh tế đến cổ tức bằng tiền: Bằng chứng từ Việt Nam 2026-03-31T12:41:44+07:00 Đặng Bửu Kiếm dbkiem@sgu.edu.vn Lê Diệu Thảo dbkiem@sgu.edu.vn Lê Nguyễn Hồng Anh dbkiem@sgu.edu.vn Lê Phương Anh dbkiem@sgu.edu.vn Võ Thị Như Quỳnh dbkiem@sgu.edu.vn Nguyễn Hoàng Tiến dbkiem@sgu.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá tác động của bất ổn chính sách kinh tế thế giới (GEPU) đến cổ tức bằng tiền (CTBT) tại Việt Nam.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Mẫu nghiên cứu bao gồm 291 doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2010–2024. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp ước lượng Probit, bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định với sai số chuẩn vững (FEM with robust standard errors-FEM-RSE) để đánh giá tác động của bất ổn chính sách kinh tế (Economic policy uncertainty-EPU) đến CTBT.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Phát hiện của nghiên cứu cho thấy GEPU có tác động ngược chiều đến CTBT. Ngoài ra, khi phân loại mẫu theo quy mô, nghiên cứu còn chỉ ra tác động này mạnh mẽ hơn ở các doanh nghiệp có quy mô thuộc phân vị trung bình và lớn.<br>Giá trị đóng góp mới: Đây là nghiên cứu đầu tiên về vấn đề tác động của EPU đến CTBT tại Việt Nam. </p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136398 Tác động của đầu tư công nghệ thông tin, ứng dụng Fintech và chuyển đổi số đến hiệu quả và đa dạng hóa doanh thu ngân hàng 2026-03-31T12:41:26+07:00 Vương Thị Hương Giang giangvth@hub.edu.vn Nguyễn Hữu Mạnh giangvth@hub.edu.vn Phạm Hải Nam namph@hub.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Sau Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 về chương trình chuyển đổi số (CĐS) quốc gia, CĐS ngành ngân hàng được thúc đẩy mạnh mẽ. Nghiên cứu này đánh giá tác động của đầu tư công nghệ thông tin (CNTT), ứng dụng Fintech và CĐS đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) và đa dạng hóa doanh thu của 22 ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2019-2024. <br>Thiết kế/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng bốn chỉ tiêu đo lường HQHĐ ngân hàng gồm: khả năng sinh lợi (ROA, ROE), hiệu quả quản lý chi phí (CEM) và hiệu quả kỹ thuật (TE), đồng thời áp dụng phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS) trên dữ liệu bảng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2019-2024 để đánh giá tác động của đầu tư CNTT, ứng dụng Fintech và CĐS.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy đầu tư CNTT, ứng dụng Fintech và CĐS làm gia tăng đáng kể HQHĐ của các NHTM Việt Nam về tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản và hiệu quả kỹ thuật. Sự đầu tư nhân lực CNTT cải thiện đáng kể và toàn diện HQHĐ ngân hàng thương mại Việt Nam. Việc đầu tư CNTT, ứng dụng Fintech và CĐS thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đa dạng hóa doanh thu giai đoạn 2019–2024, đặc biệt là đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng nhân lực CNTT.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu này cung cấp đánh giá toàn diện về tác động của đầu tư CNTT, ứng dụng Fintech và CĐS đến HQHĐ ngân hàng tại Việt Nam kể từ khi chiến lược CĐS quốc gia được triển khai chính thức năm 2020. Đồng thời, bài viết đưa ra hàm ý chính sách cho định hướng CĐS của ngành ngân hàng và các NHTM đến năm 2025.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136401 Tác động của chuyển đổi số đến năng suất lao động trong hoạt động ngân hàng bán lẻ 2026-03-31T12:41:09+07:00 Nguyễn Thị Quỳnh Giao anhpth@hvnh.edu.vn Phạm Thị Hoàng Anh anhpth@hvnh.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài báo phân tích tác động của chuyển đổi số (CĐS) đến năng suất lao động (NSLĐ) trong hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). <br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: CĐS được đo lường thông qua chỉ số tổng hợp dựa trên các thành phần như mức độ số hóa giao dịch, số hóa quy trình nghiệp vụ và tỷ lệ ngân sách dành cho CĐS. NSLĐ trong hoạt động NHBL được đại diện bởi doanh thu bình quân trên lao động và lợi nhuận bình quân trên lao động. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy phân phối trễ kết hợp mô hình hiệu chỉnh sai số (ARDL - ECM) cho chuỗi dữ liệu theo quý của giai đoạn 2012–2025.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả thực nghiệm cho thấy CĐS có tác động cùng chiều và đạt ý nghĩa thống kê đến NSLĐ trong dài hạn, thể hiện rõ nét hơn đối với doanh thu bình quân trên lao động. Trong ngắn hạn, sự tác động của CĐS chưa đồng nhất, đặc biệt đối với năng suất theo lợi nhuận, do chịu ảnh hưởng của chi phí đầu tư ban đầu và quá trình điều chỉnh tổ chức. <br>Giá trị đóng góp mới: Các kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm hữu ích cho quản trị ngân hàng và hoạch định chính sách trong triển khai CĐS gắn với nâng cao NSLĐ.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136402 Tác động của tài chính xanh lên chất lượng môi trường tại các quốc gia Đông Nam Á 2026-03-31T12:40:52+07:00 Bùi Đan Thanh thanhbd@hub.edu.vn Nguyễn Thị Kim Cương cuongntk@kthcm.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết phân tích tác động của tài chính xanh (TCX) và các yếu tố kinh tế-xã hội đến chất lượng môi trường (CLMT) tại những quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong giai đoạn 2015-2024. Trong đó, CLMT được đo lường bằng lượng phát thải CO2 bình quân đầu người.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của những quốc gia ASEAN giai đoạn 2015-2024 và áp dụng phương pháp ước lượng Bayes để đánh giá mối quan hệ giữa TCX, các biến kiểm soát kinh tế-xã hội và phát thải CO2.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy biến TCX chưa thể hiện tác động rõ ràng đến phát thải CO2. Đối với các biến kiểm soát, tăng trưởng kinh tế có xu hướng làm gia tăng phát thải CO2, trong khi dân số và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động làm giảm phát thải.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò của TCX trong bối cảnh các quốc gia ASEAN, đồng thời nhấn mạnh hiệu quả của những chính sách TCX phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện thể chế và định hướng phát triển bền vững. Qua đó, nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở tham khảo cho hoạch định chính sách môi trường và TCX trong khu vực.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136431 ESG và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết tại Nhật Bản: Vai trò điều tiết của quy mô 2026-03-31T12:40:35+07:00 Đỗ Thị Hà Thương thuongdth@hub.edu.vn Trần Ân Nguyên thuongdth@hub.edu.vn Trần Nguyễn Kim Ngân thuongdth@hub.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này xem xét tác động của các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị (ESG) đến hiệu quả hoạt động (HQHĐ) của các doanh nghiệp ngành công nghiệp niêm yết tại Nhật Bản, đồng thời xem xét tác động điều tiết của quy mô doanh nghiệp.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 60 doanh nghiệp ngành công nghiệp được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tokyo trong giai đoạn 2013–2023. Các mô hình hồi quy dữ liệu bảng được áp dụng, trong đó System GMM (S-GMM) được sử dụng để xử lý vấn đề nội sinh và được xem là kết quả chính thức.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả thực nghiệm cho thấy ESG có tác động cùng chiều đến HQHĐ của doanh nghiệp, đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). Đồng thời, quy mô doanh nghiệp đóng vai trò điều tiết tích cực, làm gia tăng tác động của ESG đến HQHĐ.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của ESG trong bối cảnh doanh nghiệp công nghiệp Nhật Bản, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp trong mối quan hệ giữa ESG và HQHĐ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và hàm ý quản trị cho việc tích hợp ESG như một công cụ chiến lược nhằm nâng cao HQHĐ của doanh nghiệp.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136432 Ý định sử dụng dịch vụ Fintech có AI tại Việt Nam: Mô hình tích hợp SOR và UGT 2026-03-30T12:42:14+07:00 Trịnh Hoàng Nam namth@hub.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này tập trung làm rõ vai trò trung gian của yếu tố cảm xúc trong việc giải thích mối quan hệ giữa các đặc tính của trí tuệ nhân tạo (AI) và ý định sử dụng (YĐSD) dịch vụ Fintech có AI. <br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu đề xuất mô hình dựa trên sự tích hợp của SOR, UGT và các đặc tính của AI trong bối cảnh Fintech. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu được thu thập thuận tiện từ 400 người dùng dịch vụ Fintech tại Việt Nam. <br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả phân tích ủng hộ tất cả tám giả thuyết được đề xuất, trong đó tính thông minh có tác động mạnh mẽ nhất lên cả hai thành phần cảm xúc, tính nhân hóa có tác động yếu nhất, đồng thời sự thỏa mãn là yếu tố cảm xúc quan trọng nhất thúc đẩy YĐSD. <br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu mở rộng khuôn khổ chấp nhận công nghệ truyền thống, nhấn mạnh vai trò của sự thích thú và sự thỏa mãn trong bối cảnh Fintech. Kết quả xác định được sự phân cấp quan trọng: Tính thông minh là yếu tố quyết định cảm xúc mạnh mẽ nhất, làm rõ tranh cãi về việc thiết kế AI nên ưu tiên hiệu suất hơn là hình thức nhân hóa trong các dịch vụ Fintech.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136433 Tác động của sự tin cậy trong đánh giá trực tuyến đến ý định mua hàng trên các trang thương mại điện tử 2026-03-30T12:41:51+07:00 Nguyễn Thị Ánh Tuyết 010302220022@st.buh.edu.vn Nguyễn Văn Nhật 010302220022@st.buh.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của sự tin cậy trong đánh giá trực tuyến (ĐGTT) đến ý định mua hàng (YĐMH) của khách hàng trên các trang thương mại điện tử tại Việt Nam. <br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập từ 443 khách hàng có kinh nghiệm mua sắm trực tuyến tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) với mô hình được kiểm định thông qua các kỹ thuật đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).<br>Kết quả nghiên cứu: Sự tin cậy trong ĐGTT có tác động cùng chiều đến YĐMH thông qua vai trò trung gian của chất lượng cảm nhận và hình ảnh thương hiệu. <br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu là một trong những công trình đầu tiên tích hợp đồng thời ba biến trung gian trong một mô hình toàn diện về tác động của sự tin cậy ĐGTT đến YĐMH trong bối cảnh thị trường thương mại điện tử Việt Nam.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136434 Lãnh đạo số và hiệu suất bền vững tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam: Vai trò của học tập tổ chức và vốn trí tuệ 2026-03-30T12:41:29+07:00 Trần Văn Tuyến 010305250012@st.buh.edu.vn Cảnh Chí Hoàng 010305250012@st.buh.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu điều tra tác động của lãnh đạo số (DL) đến hiệu suất bền vững (SP). Đặc biệt, nghiên cứu xem xét tác động trung gian của học tập tổ chức (OL) có điều tiết của vốn trí tuệ, gồm vốn con người (HC), vốn tổ chức (OC) và vốn quan hệ (RC).<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Trên cơ sở lý thuyết Quan điểm dựa trên nguồn lực tự nhiên, mô hình được xây dựng và định lượng bằng dữ liệu khảo sát bảng hỏi với cách chọn mẫu chủ đích. Dữ liệu được thu thập trực tiếp và trực tuyến với 498 phản hồi hợp lệ từ các đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có kinh nghiệm lãnh đạo tối thiểu 05 năm.<br>Kết quả nghiên cứu chính: DL có ảnh hưởng cùng chiều đến SP và xác nhận tác động trung gian qua OL. Đặc biệt, RC là yếu tố vốn trí tuệ điều tiết đáng kể vai trò trung gian của OL, trong khi HC và OC không có điều tiết rõ nét.<br>Giá trị đóng góp mới: Kết quả trên góp phần làm sâu sắc lý thuyết Quản trị cấp cao và lý thuyết Quan điểm dựa trên nguồn lực tự nhiên. Qua đó, nghiên cứu khuyến nghị các DNNVV nên củng cố mạng lưới quan hệ và đối tác để tận dụng học tập do lãnh đạo thúc đẩy nhằm tăng trưởng bền vững.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136435 Nợ trái phiếu và giá trị doanh nghiệp: Vai trò điều tiết của tự do kinh tế 2026-03-30T12:41:10+07:00 Lê Thị Bảo Như ptvtrinh@sgu.edu.vn Phạm Thị Vân Trinh ptvtrinh@sgu.edu.vn Đặng Bửu Kiếm ptvtrinh@sgu.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm xem xét tác động của nợ trái phiếu (NTP) đến giá trị doanh nghiệp (GTDN) tại Việt Nam và đánh giá vai trò điều tiết của các chỉ số tự do kinh tế (TDKT), bao gồm TDKT tổng thể, tự do tài chính và tự do đầu tư. Mục tiêu trọng tâm nhằm làm rõ liệu TDKT có thể giảm nhẹ hay gia tăng tác động của NTP lên GTDN trong bối cảnh thị trường mới nổi.<br>Thiết kế nghiên cứu/Phương pháp/Tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 344 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HOSE giai đoạn 2010–2023, với phương pháp ước lượng SGMM nhằm khắc phục vấn đề nội sinh và tự tương quan. Ba mô hình tương tác được xây dựng để kiểm định vai trò điều tiết của TDKT tổng thể (ECOF), tự do tài chính (FINF) và tự do đầu tư (INVF).<br>Kết quả nghiên cứu chính: NTP nhìn chung làm giảm GTDN. ECOF và FINF làm gia tăng tác động ngược chiều của NTP, trong khi INVF giúp giảm nhẹ tác động này. Một số biến kiểm soát như tăng trưởng doanh thu, quy mô doanh nghiệp và tăng trưởng GDP có tác động hỗ trợ GTDN. Trong khi đó, lạm phát có tác động ngược chiều.<br>Giá trị đóng góp mới: Bài phân tích tách biệt NTP khỏi tổng nợ, đồng thời kiểm định ba khía cạnh của TDKT trong vai trò điều tiết, điều các nghiên cứu trước ở Việt Nam chưa thực hiện. Kết quả cung cấp bằng chứng mới cho thị trường mới nổi, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa cấu trúc vốn và cung cấp cơ sở cho các chính sách nhằm phát triển thị trường trái phiếu theo hướng minh bạch và hiệu quả hơn. </p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHNHTPHCM/article/view/136436 Năng lực tài chính số và hành vi tài chính: Bằng chứng tại Việt Nam 2026-03-30T12:40:51+07:00 Nguyễn Thị Ngọc Loan nguyenloan@ufm.edu.vn <p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết đánh giá tác động của năng lực tài chính số (DFL) đến hành vi tài chính cá nhân (FB). Đồng thời, nghiên cứu phân tích sự khác biệt trong ảnh hưởng của các thành phần DFL đến từng loại FB trong bối cảnh chuyển đổi số của Việt Nam.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dữ liệu được thu thập từ 329 cá nhân có tài khoản ngân hàng qua khảo sát trực tuyến từ tháng 2–3 năm 2025. Nghiên cứu sử dụng mô hình PLS-SEM nhằm kiểm định mối quan hệ giữa DFL và FB, cũng như vai trò riêng biệt của từng thành phần DFL.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy DFL tổng thể có ảnh hưởng cùng chiều đến FB. Tuy nhiên, chỉ có ba thành phần gồm kiến thức tài chính, khả năng nhận thức và kỹ năng ra quyết định có tác động cùng chiều; trong khi kiến thức thực tiễn có ảnh hưởng ngược chiều, và kiến thức kỹ thuật số cùng khả năng tự bảo vệ không có tác động.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam về tác động đa chiều và không đồng nhất của DFL đến FB, qua đó hàm ý chương trình giáo dục tài chính số nên tập trung vào phát triển nhận thức và năng lực ra quyết định thay vì chỉ truyền đạt kiến thức lý thuyết hoặc kỹ thuật số.</p> 2026-03-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c)