https://vjol.info.vn/DHSP-GD/issue/feed Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Giáo dục 2026-04-08T03:46:51+07:00 Phạm Việt Hùng hungpv@hnue.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội</strong></p> https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140062 VẬN DỤNG LÍ THUYẾT BỐI CẢNH TRONG NGHIÊN CỨU FOLKLORE ĐỂ DẠY ĐỌC TRUYỀN THUYẾT TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2026-04-08T03:45:51+07:00 Nguyễn Thị Diệu Khanh và NguyễnViệt Hùng dieukhanh1401@gmail.com <p>Xuất phát từ mối quan tâm của nghiên cứu văn học dân gian về chức năng xã hội –văn hoá của truyền thuyết, bài viết tổng thuật các công trình kinh điển về tiếp cận bối cảnh trong folklore học. Trên cơ sở đó,nghiên cứutiến hành phân tích và hệ thống hoá những thành tố đặc trưng trong bối cảnh tình huống (context of situation) và bối cảnh văn hoá (context of culture) có ảnh hưởng đến quá trình hình thành, tồn tại và diễn giải truyền thuyết. Từ việc khảo sát, đánh giá yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 và nội dung về truyền thuyết trong các sách giáo khoa hiện hành, tác giả đề xuất quy trình dạy đọc truyền thuyết theo hướng tiếp cận bối cảnh. Kết quả khẳng định giá trị của tiếp cận bối cảnh như một phương pháp liên ngành (văn học – nhân học – giáo dục học), vừa giúp phục dựng chiều sâu văn hóa của truyền thuyết, vừa mở ra khả năng bảo tồn và phát huy giá trị của di sản dân gian trong đời sống đương đại.</p> 2026-04-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140372 KÍ HIỆU HỌC NHƯ LÀ MỘT HƯỚNG ĐI KHẢ DỤNG TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC 2026-04-08T03:45:58+07:00 Lý Trần A Khương ltakhuong@ptnk.edu.vn <p>Bài viết bàn luận kí hiệu học như một định hướng khả dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở Trung học Phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực. Về lí luận, nghiên cứu xác lập các đặc điểm đọc hiểu từ góc độ kí hiệu học, coi văn bản là trường kí hiệu mở, ý nghĩa được kiến tạo trong quá trình đọc và gắn với đối thoại văn hóa, ý thức hệ. Về ứng dụng, bài viết đề xuất các nguyên tắc sư phạm và cấp độ vận dụng khả thi trong nhà trường. Tính mới nằm ở việc chuyển kí hiệu học từ phân tích văn bản sang phương pháp dạy học và làm rõ sự cộng hưởng với các lí thuyết giáo dục hiện đại để xây dựng hệ nguyên tắc khả thi. Kết quả khẳng định kí hiệu học là định hướng mềm dẻo, khai phóng và bền vững, góp phần nuôi dưỡng tư duy phản biện và năng lực sáng tạo của học sinh.</p> 2026-04-07T17:19:25+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140381 ĐỀ XUẤT CÁCH THỨC VẬN DỤNG CHIẾN THUẬT SQ3R TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2026-04-08T03:46:02+07:00 Phan Phước Nhiều và Nguyễn Hoàng Thu phuocnhieu24@gmail.com <p>Từ việc nghiên cứu lí thuyết về chiến thuật SQ3R và một số yêu cầu về dạy đọc văn bản thông tin (VBTT) trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 (CT Ngữ văn 2018), bài viết đề xuất cách thức vận dụng chiến thuật SQ3R vào thiết kế hoạt động dạy đọc ở từng giai đoạn nhằm phát triển năng lực đọc hiểu VBTT cho học sinh (HS) cấp trung học phổ thông (THPT). Qua tổ chức thực nghiệm sư phạm, nghiên cứu đã bước đầu khẳng định được tính khả thi và hiệu quả của quy trình đã đề xuất trong việc giúp HS phát triển năng lực đọc hiểu VBTT. Nghiên cứu này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học đọc hiểu VBTT trong nhà trường phổ thông theo CT Ngữ văn 2018 hiện nay.</p> 2026-04-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140403 TÍCH HỢP CÔNG NGHỆ SỐ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 2026-04-08T03:46:05+07:00 Nguyễn Thị Dung và Nguyễn Thị Hiên dungphuoc1976@gmail.com <p>Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định rõ yêu cầu chuyển từdạy học truyền thụ tri thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Trong đó, tư duy phản biện và sáng tạo là những năng lực thiết yếu, cần được bồi dưỡng qua môn Ngữvăn. Bài viết nghiên cứu việc tích hợp công nghệ số trong dạy học Ngữ văn nhằm phát triển tư duy phản biện và sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông. Công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo và các công cụ học tập trực tuyến, cung cấp môi trường học tập linh hoạt, giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sâu sắc hơn, từ đó phát triển kĩ năng phản biện và sự sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, để ứng dụng công nghệ hiệu quả, giáo viên cần có phương pháp giảng dạy phù hợp, kết hợp giữa công nghệ và các phương pháp truyền thống, nhằm nâng cao chất lượng dạy học và phát huy tối đa năng lực của học sinh, giúp hình thành, phát triển các năng lực đặc thù và chuẩn bị cho các em những kĩ năng cần thiết để đối mặt với các thách thức trong tương lai.</p> 2026-04-07T18:25:22+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140407 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN TRUYỀN KÌ THÔNG QUA CÔNG CỤ THANG ĐO 2026-04-08T03:46:08+07:00 Đoàn Thị Thanh Huyền huyendtt@hnue.edu.vn <p>Năng lực văn học là một trong hai năng lực đặc thù của môn Ngữvăn. Đểphát triển năng lực văn học trong dạy học đọc hiểu nói chung và dạy học đọc hiểu truyện truyền kì nói riêng, cần có các công cụ đánh giá hiệu quả, trong đó có thang đo. Vì năng lực văn học có nhiều thành tố phức tạp và truyện truyền kì là loại ngữ liệu khó tiếp nhận với học sinh trong xã hội hiện đại nên cần xây dựng và sử dụng kết hợp các thang đo. Qua các phương pháp nghiên cứu lí thuyết, bài báo đã đề xuất một sốthang đo nhằm đánh giá các mức độ đạt được của năng lực văn học khi học sinh đọc hiểu truyện truyền kì như thang đo hiểu biết và trải nghiệm nền về thể loại truyền kì, thang đo khảnăng phân tích và đánh giá văn bản truyện truyền kì, thang đo khả năng “hồi ứng trải nghiệm” khi đọc văn bản truyện truyền kì. Trong quá trình sử dụng các thang đo, giáo viên cần linh hoạt tại các thời điểm và bối cảnh sử dụng, đồng thời cần chuyển giao cả vai trò chủ thể sử dụng thang đo cho người học để học sinh đánh giá đồng đẳng cũng như tự đánh giá chính các thành tốnăng lực văn học của mình.</p> 2026-04-07T18:51:21+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140576 XÁC LẬP HỆ THỐNG YẾU TỐ HÁN VIỆT VÀ ĐỊNH HƯỚNG THIẾT KẾ BÀI TẬP YẾU TỐ HÁN VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5 2026-04-08T03:46:12+07:00 Nguyễn Thị Thanh Chung, Lê Hiền Mai và Nguyễn Kim Dung tapchi@hnue.edu.vn <p>Bài viết xác lập hệ thống yếu tố Hán Việt (YTHV) cho học sinh (HS) lớp 5 dựa trên khảo sát hệ thống YTHV trong sách giáo khoa (SGK). Hệ thống được xác lập gồm 500 yếu tố (YT) với các phương diện âm đọc, chữ Hán đối chiếu, ý nghĩa. 500 YT đảm bảo các tiêu chí như: có khả năng tạo từ cao, có tần suất cao trong sách giáo khoa, có tính kế thừa cho cấp học trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Dựa trên dữ liệu về YTHV đã xác lập, bài viết định hướng xây dựng hệ thống bài tập (BT) cho HS lớp 5. Hệ thống BT được định hướng đáp ứng các mức độ nhận thức gồm mức độ nhận biết YTHV (3 nhóm BT), mức độ thông hiểu YTHV (3 nhóm BT), mức độ vận dụng YTHV (3 nhóm BT). Các dạng BT được sử dụng đa dạng như ghép nối, sắp xếp, điền khuyết, đúng sai, nhiều lựa chọn, tự luận. Hệ thống YTHV và định hướng thiết kế BT là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho giáo viên (GV) và HS trong dạy và học YTHV.</p> 2026-04-08T03:36:56+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140577 TÍCH HỢP GIÁO DỤC LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC THIẾU NHI Ở TIỂU HỌC 2026-04-08T03:46:16+07:00 Nguyễn Đức Khuông tapchi@hnue.edu.vn <p>Việc tích hợp giáo dục lịch sử trong dạy học đọc - hiểu văn bản văn học thiếu nhi là định hướng quan trọng nhằm phát triển phẩm chất yêu nước, tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với truyền thống lịch sử - văn hóa dân tộc cho học sinh tiểu học. Trẻ em không chỉ học lịch sử bằng tri thức mà còn cần được cảm nhận lịch sử bằng cảm xúc - qua những hình ảnh sinh động, nhân vật giàu tính biểu tượng và lời kể lôi cuốn. Bài viết phân tích cơ sở lí luận, khảo sát thực tiễn và đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục lịch sử qua dạy học đọc - hiểu văn học thiếu nhi, góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Kết quả kỳ vọng là hình thành thế hệ học sinh không chỉ có tri thức mà còn biết yêu quý, giữ gìn và kế thừa những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc.</p> 2026-04-08T03:37:31+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140578 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỐ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 2026-04-08T03:46:19+07:00 Vũ Thị Lan Anh và Nguyễn Phương Anh tapchi@hnue.edu.vn <p>Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong nhà trường tiểu học là một trong những con đường hữu hiệu để phát triển năng lực số cho học sinh. Hoạt động trải nghiệm tạo cho học sinh cơ hội tham gia vào các tình huống thực tiễn, sử dụng các công cụ và nền tảng số để giải quyết vấn đề phù hợp với lứa tuổi. Bằng cách tham gia các hoạt động trải nghiệm, học sinh không chỉ học cách sử dụng các thiết bị công nghệ số mà còn biết cách tư duy và ứng dụng công nghệ số vào cuộc sống hàng ngày. Bài viết chỉ rõ cơ sở khoa học cũng như quy trình tổ chức có hiệu quả hoạt động trải nghiệm trong nhà trường tiểu học phát triển năng lực số cho học sinh.</p> 2026-04-08T03:38:07+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140580 THỰC TRẠNG CHỈ SỐ TRÍ TUỆ CỦA HỌC SINH ĐẦU LỚP 1 TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2026-04-08T03:46:21+07:00 Trần Thị Hà và Đinh Thị Bích Ngọc tapchi@hnue.edu.vn <p>Bài báo trình bày kết quả đánh giá chỉ số trí tuệ (IQ) của học sinh đầu lớp 1. Mẫu nghiên cứu gồm 196 học sinh lớp 1 tại hai trường tiểu học: Trường Tiểu học Đô thị Sài Đồng (quận Long Biên) và Trường Tiểu học Đại Mỗ (quận NamTừ Liêm), thành phố Hà Nội, sử dụng trắc nghiệm Gille. Nghiên cứu tập trung đánh giá năng lực trí tuệ của học sinh lớp 1 theo 5 khía cạnh: xác lập quan hệ không gian, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp – giải quyết vấn đề và tư duy logic – trừu tượng. Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn học sinh lớp 1 được khảo sát có chỉ trí tuệ đạt ở trung bình và khá; nổi bật là khả năng xác lập quan hệ không gian và khả năng khái quát hoá, trong khi khả năng tổng hợp, khả năng tư duy logic và trừu tượng còn hạn chế. Ngoài ra, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số trí tuệ của học sinh lớp 1 nếu xét theo giới tính và trường học; có sự khác biệt nhưng không có ý nghĩa thống kê nếu xét theo thứ tự sinh của khách thể được khảo sát.</p> 2026-04-08T03:38:41+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140582 ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG HỌC TỪ VỰNG TIẾNG TRUNG QUỐC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 2026-04-08T03:46:24+07:00 Ngô Thị Khánh Chi, Nguyễn Thị Tuyết Mai và Nguyễn Thanh Huyền tapchi@hnue.edu.vn <p>Nghiên cứu khảo sát thực trạng học từ vựng tiếng Trung Quốc của sinh viên khối học vấn chung Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và đề xuất giải pháp E-learning phù hợp. Bài báo sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa khảo sát 127 sinh viên bằng thang Likert 24 mục (Cronbach’s alpha = 0,904) và phỏng vấn sâu 7 giảng viên. Kết quả phân tích cho thấy cách học truyền thống chưa đáp ứng tốt việc ghi nhớ, vận dụng từ vựng theo ngữ cảnh, việc ứng dụng Elearning còn rời rạc. Đa số sinh viên cho biết thường xuyên dùng học liệu trên LMS, song một nhóm đáng kể ở mức trung tính cho thấy mức độ gắn kết chưa ổn định. Giảng viên ưu tiên sửa thanh điệu, dạy cấu tạo, thứ tự nét và cách dùng từ, nhưng thiếu học liệu số chuẩn hoá và cơ chế kiểm tra ngắn gắn với LMS. Từ kết quả đó, bài báo đề xuất gói học liệu E-learning theo ba cấp: Nhà trường, giảng viên và sinh viên. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm và đề xuất các kiến nghị cho môi trường học tập số hiệu quả ở bậc đại học.</p> 2026-04-08T03:39:17+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140583 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CHUYÊN MÔN CỦA GIÁO VIÊN TIẾNG ANH: MỘT NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2026-04-08T03:46:28+07:00 Trần Hữu Nghị và Ngô Huỳnh Hồng Nga tapchi@hnue.edu.vn <p>Việc phát triển chuyên môn (PTCM) của giáo viên (GV) được coi là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và kết quả học tập của học sinh. Tại Việt Nam, do tồn tại nhiều rào cản mang tính hệ thống và cá nhân, các chương trình PTCM hiệu quả đang ngày càng trở nên cần thiết hơn. Vận dụng lý thuyết Hệ thống sinh thái của Bronfenbrenner (1979), nghiên cứu định tính này tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động PTCM của GV tiếng Anh tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với 6 GV tiếng Anh. Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực cá nhân và việc tự học là những yếu tố quan trọng thúc đẩy PTCM, trong khi những hạn chế về tài chính và hỗ trợ từ các cơ sở giáo dục và các chính sách chưa phù hợp đã cản trở sự tham gia tích cực của GV vào quá trình PTCM. Ngoài ra, các xu hướng toàn cầu và các chính sách quốc gia vừa mang lại cơ hội vừa đặt ra thách thức đối với việc PTCM của GV tiếng Anh. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các chương trình PTCM cần mang tính thực tiễn, có sự tương tác và phù hợp với bối cảnh cụ thể, đồng thời được thiết kế riêng để hỗ trợ GV tiếng Anh ở khu vực nông thôn khắc phục những khó khăn đặc thù. Các kết quả từ nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết của các hoạt động PTCM linh hoạt và dễ tiếp cận nhằm thúc đẩy hoạt động PTCM của GV tiếng Anh.</p> 2026-04-08T03:39:53+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140586 XÂY DỰNG KHUNG NĂNG LỰC DẠY HỌC PHÂN HÓA CHO SINH VIÊN NGÀNH SƯ PHẠM MĨ THUẬT Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 2026-04-08T03:46:31+07:00 Nguyễn Thị Hồng Thắm và Phạm Đình Bình tapchi@hnue.edu.vn <p>Năng lực dạy học phân hóa là một trong những năng lực cần thiết của giáo viên để thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực cho người học. Việc xây dựng khung năng lực dạy học phân hóa cho sinh viên ngành Sư phạm Mĩ thuật có ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao chất lượng giáo viên Mĩ thuật. Bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp chuyên gia, bài báo xây dựng khung năng lực dạy học phân hóa cho sinh viên ngành Sư phạm Mĩ thuật gồm 6 tiêu chí, 14 chỉ báo phản ánh đầy đủ các năng lực thành phần của năng lực dạy học phân hóa. Bài báo cũng đưa ra cơ sở, nguyên tắc, quy trình xây dựng khung năng lực dạy học phân hóa cho sinh viên ngành Sư phạm Mĩ thuật. Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các trường đại học xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Mĩ thuật đảm bảo chuẩn nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.</p> 2026-04-08T03:40:30+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140587 TỔNG QUAN CÁC ĐẶC TÍNH ĐO LƯỜNG CỦA CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI TRẺ EM 2026-04-08T03:46:33+07:00 Đào Minh Đức, Nguyễn Thị Huyền Châm, Nguyễn Thị Duyên, Nguyễn Thị Linh Dương, Tạ Thị Trà Giang, Trần Thanh Hà, Đặng Khánh Hà, Nguyễn Văn Học, Quách Thị Phương Lan và Nguyễn Thị Trà My tapchi@hnue.edu.vn <p>Mục đích của nghiên cứu này là tổng quan và so sánh hệ thống các đặc tính đo lường (độ tin cậy, độ hiệu lực) và phạm vi ứng dụng của năm công cụ đánh giá trí tuệ trẻ em phổ biến: WISC-V, SB-5, RPM, KABC-II và UNIT- 2. Bằng phương pháp tổng quan tài liệu theo hướng tiếp cận hệ thống kết hợp phân tích so sánh, nghiên cứu tổng hợp và đánh giá khách quan các bằng chứng học thuật liên quan đến năm thang đo trên. Kết quả cho thấy WISC-V, SB-5 và KABC-II là các công cụ toàn diện, có độ tin cậy và hiệu lực cao, phù hợp cho chẩn đoán lâm sàng và can thiệp giáo dục chuyên sâu. Trong khi đó, RPM và UNIT-2 tỏ ra vượt trội trong sàng lọc quy mô lớn và đánh giá đối tượng đặc thù nhờ ưu thế phi ngôn ngữ và tính công bằng văn hóa. Nghiên cứu kết luận rằng việc lựa chọn công cụ tối ưu phải dựa trên mục tiêu đánh giá cụ thể, đặc điểm cá nhân của trẻ và bối cảnh thực tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò quyết định của chuyên gia trong việc diễn giải kết quả.</p> 2026-04-08T03:41:12+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140589 NGHIÊN CỨU LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI 2026-04-08T03:46:36+07:00 Tiêu Thị Mỹ Hồng tapchi@hnue.edu.vn <p>Dựa trên phân tích lịch sử hình thành và lan tỏa của lớp học đảo ngược (LHĐN), nghiên cứu chỉ ra rằng LHĐN là kết quả của sự phát triển nhiều lí thuyết giáo dục. Trên nền tảng đó, bài viết phân tích bốn nhóm lí thuyết: kiến tạo và kiến tạo xã hội; tải nhận thức và học tập đa phương tiện; học tập chủ động và học tập trải nghiệm; thang phân loại mục tiêu nhận thức Bloom nhằm lí giải cơ chế vận hành các pha của LHĐN. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra các thách thức trong thực tiễn như: nguy cơ xuất hiện sai lệch nhận thức trong giai đoạn tự học khi thiếu hỗ trợ kịp thời, quá tải nhận thức khi học liệu không tối ưu, khó khăn trong điều phối hoạt động nhóm và hạn chế trong việc đạt được tư duy bậc cao khi người học chuẩn bị chưa đầy đủ. Kết quả cho thấy hiệu quả của LHĐN phụ thuộc mạnh vào sự phù hợp giữa cơ sở lí thuyết, thiết kế sư phạm và điều kiện triển khai. Nghiên cứu đặt ra vấn đề tiếp tục làm rõ nguyên tắc thiết kế học liệu, quản lí tải nhận thức và tiêu chí đảm bảo chất lượng trong điều phối lớp học, nhằm định hướng vận dụng LHĐN thận trọng và có cơ sở trong giáo dục đại học.</p> 2026-04-08T03:41:47+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140590 PHÂN TÍCH CÁC THÀNH PHẦN CỦA SIÊU NHẬN THỨC TRONG QUÁ TRÌNH KIẾN TẠO TRI THỨC TOÁN HỌC 2026-04-08T03:46:39+07:00 Hoàng Thị Ngà tapchi@hnue.edu.vn <p>Siêu nhận thức (SNT) đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều hành, kiểm soát quá trình học tập và giảng dạy. Tuy nhiên, trái ngược với tầm quan trọng được nhắc đến, vẫn còn một số lượng tương đối nhỏ các nghiên cứu được tiến hành tập trung vào SNT trong quá trình kiến tạo tri thức (KTTT), một phần do sự đa dạng trong cách khái niệm hóa và những khó khăn trong đo lường SNT. Nghiên cứu này nhằm phân tích và làm rõ các thành phần của SNT trong quá trình KTTT toán học. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, thông qua phân tích và tổng hợp tài liệu nghiên cứu liên quan, kết hợp với quan sát lớp học trong các tình huống dạy học toán theo hướng kiến tạo ở tiểu học. Dữ liệu thu thập được phân tích nhằm xác định các biểu hiện SNT của học sinh (HS) trong quá trình tham gia xây dựng kiến thức toán học. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các thành phần của SNT trong quá trình KTTT toán học, bao gồm: kiến thức SNT và các chiến lược SNT. Các thành phần này được minh họa cụ thể thông qua tình huống dạy học kiến tạo "Hình thành công thức tính diện tích hình thang" (lớp 5).</p> 2026-04-08T03:42:26+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140592 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI HỌC STEM-S TRONG CHỦ ĐỀ “LÀM ĐỒ CHƠI DÂN GIAN” MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 4 2026-04-08T03:46:42+07:00 Lê Thị Bình, Nguyễn Thị Khánh Hòa, Lục Ban Thị Mai Hiên, Nguyễn Linh Trang, Ngô Thị Thuý Nga và Ngô Thu Thủy tapchi@hnue.edu.vn <p>Nghiên cứu này thiết kế và triển khai bài học STEM-S trong môn Công nghệ lớp 4, nội dung bài học STEM được lựa chọn gắn với yếu tố văn hoá - xã hội, trong đó quy trình thiết kế kĩ thuật (EDP) được sử dụng làm khung tổ chức hoạt động học tập. Chủ đề “Làm đồ chơi dân gian” được minh hoạ bằng bài học “Làm mặt nạ giấy bồi”. Thực nghiệm được tiến hành với 54 học sinh lớp 4, chia thành nhóm thực nghiệm (STEM-S với EDP) và nhóm đối chứng (phương pháp truyền thống). Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp hỗn hợp. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm đạt điểm kiểm tra cao hơn với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, đồng thời mức độ hứng thú và hiểu bài vượt trội so với nhóm đối chứng. Nghiên cứu cho thấy tính khả thi và hiệu quả của bài học STEM-S theo EDP trong môn Công nghệ ở Tiểu học.</p> 2026-04-08T03:43:34+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140593 KHẢO SÁT SỰ HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHÚ BÀI Ở HUẾ: MỘT NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2026-04-08T03:46:44+07:00 Nguyễn Thị Thuỳ Trang và Nguyễn Uyên Vy tapchi@hnue.edu.vn <p>Trong bối cảnh môn Hóa học ở cấp Trung học phổ thông (THPT) trở thành môn lựa chọn theo Chương trình GDPT 2018, tỉ lệ học sinh lựa chọn môn học này có xu hướng giảm do bị đánh giá là khô khan, trừu tượng. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mức độ hứng thú học tập môn Hóa học của 62 học sinh lớp 10 tại Trường THPT Phú Bài (Huế), đồng thời phân tích ảnh hưởng của giới tính và trình độ đầu vào đến mức độ hứng thú trong bối cảnh lớp học cụ thể. Phương pháp điều tra được sử dụng với bảng hỏi gồm 13 tiêu chí thuộc 4 thành phần: cảm xúc, giá trị môn học, hiểu biết và sự chủ động tham gia, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ. Dữ liệu được xử lí bằng SPSS qua thống kê mô tả và kiểm định Mann-Whitney U. Kết quả cho thấy học sinh có mức hứng thú trung bình khá; trình độ học tập đầu vào ảnh hưởng đến nhận thức năng lực bản thân, trong khi giới tính không tạo ra sự khác biệt đáng kể. Kết quả gợi mở việc cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng trựcquan,như sửdụng phim hoạt hình và thí nghiệm lượng nhỏ, để nâng cao hứng thú học tập. Dù kết quả chỉ mang tính mô tả cho một nhóm cụ thể, nhưng có thể là cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo trên quy mô rộng hơn.</p> 2026-04-08T03:44:17+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140596 XÂY DỰNG MÔ HÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN STEM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 2026-04-08T03:46:47+07:00 Nguyễn Ngọc Mưu, Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Bích Ngọc và Đỗ Đức Quế tapchi@hnue.edu.vn <p>Một trong những mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018, năng lực nghiên cứu khoa học (NCKH) được xác định là cần phát triển cho học sinh, giúp họ có thể thích ứng với sự phát triển của thời đại. Nghiên cứu này đề xuất mô hình và quy trình xây dựng mô hình dạy học dự án theo định hướng STEM phát triển năng lực NCKH cho học sinh (HS) phổ thông tạo cơ sở hay đó là những hướng dẫn giáo viên trong việc thiết kế, lựa chọn phương thức dạy học hiệu quả. Nghiên cứu sử dụng ba nhóm phương pháp chính: Nghiên cứu lí thuyết - tổng hợp và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về giáo dục STEM, dạy học dự án và phát triển năng lực NCKH để định hướng xây dựng mô hình; Nghiên cứu thực tiễn - khảo sát giáo viên, học sinh nhằm xác định thực trạng và nhu cầu đổi mới; Đánh giá và xử lí dữ liệu - sử dụng rubric, bảng kiểm và sản phẩm học tập của HS, kết hợp phân tích thống kê mô tả và so sánh để kiểm chứng tính khả thi, hiệu quả của mô hình. Nghiên cứu kì vọng bổ sung cơ sở lí luận và minh chứng thực tiễn cho dạy học dự án STEM, qua đó phát triển năng lực NCKH cho HS và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.</p> 2026-04-08T03:44:53+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/DHSP-GD/article/view/140597 TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP Ở SINH VIÊN Y KHOA NĂM BỐN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ: MỨC ĐỘ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 2026-04-08T03:46:50+07:00 Đặng Thanh Hồng, Nguyễn Thị Hồng Duy, Lâm Thị Thúy Vân, Nguyễn Hữu Thông, Huỳnh Ngọc Thiện và Sơn Hiếu Nghĩa tapchi@hnue.edu.vn <p>Tính tích cực nhận thức giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả học tập và phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên y khoa. Tuy nhiên, nhiều sinh viên vẫn thiếu chủ động do hạn chế về động cơ, năng lực cá nhân và phương pháp giảng dạy. Nghiên cứu này sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích trên 300 sinh viên năm 4 Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, năm học 2025. Kết quả cho thấy 34,7% sinh viên có mức tích cực nhận thức trung bình, 33,4% thấp và 31,7% cao. Tương tác lớp học, tính tự chủ và thái độ đối phó ảnh hưởng đáng kể đến kết quả học tập, trong khi yếu tố dân tộc không có ý nghĩa. Nghiên cứu khuyến nghị phát triển giáo dục cá thể hóa và tăng cường tương tác học tập.</p> 2026-04-08T03:45:26+07:00 Bản quyền (c)