Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Xã hội https://vjol.info.vn/DHSPHN <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội&nbsp; &nbsp;&nbsp;</strong></p> vi-VN Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: Khoa học Xã hội 2354-1069 HỆ TRI THỨC VĂN HÓA BIỂN VIỆT NAM: NHẬN DIỆN, ĐẶC TRƯNG, GIÁ TRỊ https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139740 <p>Trong lịch sử, hầu hết các vương quốc, nhà nước sinh thành trên không gian lãnh thổ Việt Nam đều là những quốc gia gắn liền với biển. Nhiều nền văn hóa ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam cũng được hình thành ở vùng ven sông, ven biển và trên các hải đảo, quần đảo. Nghiên cứu vị trí địa lí, xác định tiềm năng, các nguồn tài nguyên tự nhiên, nhân văn… của Việt Nam, càng ngày người ta càng nhận thấy tầm quan trọng của biển với các kế hoạch, chiến lược phát triển. Có thể khẳng định, biển là nhân tố hợp thành, kiến tạo nên cấu trúc, đặc tính văn hóa, xã hội và tầm vóc của dân tộc Việt Nam. Bài viết tập trung làm rõ nhận thức, quan điểm của Đảng, Nhà nước về biển, văn hóa biển; khái niệm tri trức, tri thức văn hóa biển, nội hàm, không gian phân bố chủ đạo của hệ tri thức ấy; chủ thể sáng tạo và đặc trưng, giá trị độc đáo, tinh thần sáng tạo của hệ tri thức, văn hóa biển Việt Nam.</p> Nguyễn Văn Kim Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 3 3 CHIẾN LƯỢC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI VÀ ĐỊNH HÌNH NHẬN THỨC QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC TRONG SÁNG KIẾN VÀNH ĐAI, CON ĐƯỜNG VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139744 <p>Bài viết này phân tích vai trò kép của Sáng kiến Vành đai và con đường: vừa là động lực thúc đẩy kết nối kinh tế, vừa là phương tiện hữu hiệu để định hình hình ảnh quốc gia, lan tỏa mô hình phát triển và mở rộng ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trên trường quốc tế. Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết về quyền lực mềm và quyền lực sắc bén để đánh giá các cơ chế tuyên truyền của BRI, bao gồm việc xây dựng mạng lưới truyền thông, thâm nhập học thuật, và ngoại giao số. Kết quả nghiên cứu cho thấy BRI đã thành công trong việc tạo dựng một hệ sinh thái ảnh hưởng đa chiều, biến các dự án hạ tầng thành công cụ quảng bá tầm nhìn và giá trị của Trung Quốc. Tuy nhiên, sáng kiến này cũng đặt ra những thách thức đáng kể về an ninh, chủ quyền và rủi ro nợ công đối với các quốc gia tham gia, đặc biệt là Việt Nam. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách quan trọng cho Việt Nam, nhấn mạnh sự cần thiết của một cách tiếp cận thận trọng, cân bằng, nhằm tối đa hóa cơ hội phát triển đồng thời giảm thiểu các rủi ro chiến lược và bảo vệ lợi ích quốc gia cốt lõi.</p> Huang He Meng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 18 18 ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG ĐA PHƯƠNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ: THỰC TIỄN QUÁ TRÌNH THAM GIA HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC CỦA VIỆT NAM (2014 – 2024) https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139747 <p>Bài viết phân tích quan điểm đối ngoại quốc phòng của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế thông qua thực tiễn tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc giai đoạn 2014 - 2024. Dữ liệu thực chứng cho thấy, xếp hạng đóng góp theo quốc gia của Việt Nam cho lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tăng từ 116/122 lên 37/120, với nhiều lượt cá nhân và 06 bệnh viện dã chiến cấp 2, 01 đội công binh đã được triển khai. Bài viết lập luận rằng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là minh chứng điển hình cho hình thức đối ngoại quốc phòng đa phương, phản ánh xu hướng quốc tế hóa lợi ích an ninh - quốc phòng của Việt Nam. Đồng thời việc chuyển từ vai trò quan sát sang tham gia thực địa vào lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc vừa góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên các diễn đàn quốc phòng đa phương, vừa tạo điều kiện để Việt Nam tiếp thu, thích ứng với chuẩn mực quốc tế và củng cố lòng tin chiến lược với các đối tác. Bài viết cũng cho thấy tham gia gìn giữ hòa bình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam.</p> Nguyễn Thị Nga Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 26 26 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ ĐỨC GIAI ĐOẠN 1924 - 1929 https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139754 <p>Chiến tranh thế giới thứ Nhất (1914- 1918) dẫn đến sự sụp đổ trực tiếp của đế quốc Đức và đưa đến sự ra đời của nền Cộng hòa Weimar – một trong những thể chế dân chủ tiến bộ của châu Âu trong nửa đầu thế kỉ XX. Đối mặt với những khó khăn về cả đối nội và đối ngoại, chính phủ Đức đã thực hiện các chính sách nhằm khôi phục kinh tế đất nước, ổn định và cải thiện đời sống người dân, tái hòa nhập với đời sống chính trị quốc tế, cải thiện vị thế của nước Đức trong quan hệ quốc tế. Sự phát triển của kinh tế Đức giai đoạn 1924-1929 là minh chứng cho hiệu quả của các chính sách đúng đắn về cả đối nội và đối ngoại của một chính phủ được sự ủng hộ của người dân. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic, kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,… bài viết làm rõ những biểu hiện phát triển của kinh tế Đức giai đoạn 1924 – 1929 trên các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, tài chính – ngân hàng và giải thích nguyên nhân; từ đó đánh giá ý nghĩa của sự phát triển kinh tế đối với nước Đức trong giai đoạn này.</p> Ninh Xuân Thao và Đỗ Bá Long Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 37 37 PHỤ NỮ TRONG HOÀNG CUNG TRIỀU LÝ VỚI ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỈ XI-XIII https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139759 <p>Trong sử liệu Việt Nam trung đại, sự hiện diện của phụ nữ hoàng cung xuất hiện tản mạn, chủ yếu nhắc đến thân thế hoặc đức hạnh hơn là phản ánh vai trò chính trị của họ. Khoảng trống này đặt ra yêu cầu nhận diện lại vị trí của phụ nữ trong hoạt động quản trị quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát những trường hợp phụ nữ hoàng cung triều Lý được chính sử ghi chép tương đối rõ, như những nhân vật có đóng góp đáng kể đối với đời sống chính trị - xã hội thế kỉ XI-XIII. Bằng việc vận dụng những gợi mở từ hướng nghiên cứu lịch sử phụ nữ và lịch sử giới nhằm nhận diện vị trí và vai trò của từng cá nhân trong bối cảnh chính trị đương thời, bài viết phân tích ba phương thức tham dự quyền lực tiêu biểu: nhiếp chính, hôn nhân chính trị và kế vị. Qua đó, bài viết làm rõ những điều kiện lịch sử - xã hội – văn hoá tạo môi trường cho phụ nữ hoàng cung triều Lý tham gia trị nước và góp phần duy trì ổn định triều đình. Đồng thời, cho thấy việc tiếp cận sử liệu từ góc độ lịch sử giới giúp phát hiện những hình thức tham dự chính trị vốn ít được chính sử nhấn mạnh.</p> Trần Thị Thái Hà Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 47 47 QUẢN TRỊ VÙNG TÂY BẮC DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802–1884): NHÌN TỪ CHÍNH SÁCH THỔ QUAN – LƯU QUAN https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139765 <p>Trong giai đoạn 1802–1884, chiến lược quản trị vùng Tây Bắc – tương ứng tỉnh Hưng Hóa – luôn đặt ra thách thức lớn đối với triều Nguyễn bởi địa hình hiểm trở, dân cư đa tộc người và vị trí biên giới. Từ chỗ vẫn chấp nhận chế độ thế tập thổ quan dưới thời Gia Long và nửa đầu thời Minh Mạng, đến năm 1829 triều đình bãi bỏ đặc quyền thế tập, rồi từng bước thay bằng lưu quan. Triều đình Nguyễn từng bước áp đặt mô hình hành chính tập quyền: củng cố hệ thống quản trị cấp phủ, huyện, châu, tổng, xã; nỗ lực làm sổ đinh–điền, mở trường học, đồng thời tăng cường biện pháp trị an, biên phòng. Nhà nước trung ương vừa duy trì cứng rắn chính sách tập quyền, vừa uyển chuyển chấp nhận ngoại lệ trong những vùng xa xôi, lam chướng. Qua trường hợp Hưng Hóa, có thể nhận diện mô hình quản trị “nước đôi” của triều Nguyễn đối với khu vực miền núi, phản ánh quá trình củng cố quyền lực lẫn giới hạn của một nhà nước quân chủ trong bối cảnh biến động thế kỉ XIX.</p> Bùi Gia Khánh Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 58 58 BẢN ĐỊA HÓA TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NỮ CÔNG HỌC HỘI https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139770 <p>Bài viết này đề cập đến hiện tượng “bản địa hóa tư tưởng nữ quyền” đã xuất hiện ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích hiện tượng này thông qua trường hợp Nữ công học hội (1926), tổ chức phụ nữ đầu tiên do chính phụ nữ sáng lập và điều hành. Nghiên cứu cho thấy, tư tưởng nữ quyền khi du nhập từ phương Tây vào đã không được tiếp thu nguyên vẹn, mà được chuyển dịch và bản địa hóa để phù hợp với bối cảnh xã hội thuộc địa – nửa phong kiến ở Việt Nam. Thông qua việc tìm hiểu và phân tích những hoạt động thực tiễn của Hội, nhận thấy rằng tổ chức này đã thể hiện một mô hình bản địa hóa tư tưởng nữ quyền đặc trưng: thay vì đối kháng trực tiếp với hệ thống phụ quyền, Nữ công học hội đã khéo léo dung hòa giữa những phẩm chất nữ giới truyền thống với “nữ trí” hiện đại, góp phần định hình sự biến đổi từ "nữ công gia chánh" sang hình ảnh người phụ nữ tự chủ về kinh tế và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, dù phạm vi ảnh hưởng của tổ chức này chủ yếu giới hạn trong thành thị và tầng lớp trí thức, nhưng Nữ công học hội vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc khởi tạo một hình mẫu bản địa hóa tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam. Chính nền tảng này đã góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển của phong trào phụ nữ Việt Nam trong những thập niên tiếp theo.</p> Lê Thị Quỳnh Hương và Hoàng Thị Nga Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 70 70 “BÓC LỘT VÀ KIỂM SOÁT”: CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA PHÁP TẠI HẢI DƯƠNG CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139773 <p>Bài viết tập trung nghiên cứu chính sách cai trị của Pháp tại Hải Dương từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh tỉnh nằm dưới chế độ “bảo hộ” theo các Hiệp ước Harmand (1883) và Patenôtre (1884). Qua đó, bài viết làm rõ hệ thống chính sách cai trị về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa nhằm tăng cường kiểm soát và bóc lột một cách hiệu quả hơn. Trên cơ sở phân tích, so sánh tư liệu tiếng Pháp và tiếng Việt, kết hợp phương pháp lịch sử - logic, bài viết chỉ ra cơ chế vận hành của bộ máy cai trị. Kết quả cho thấy Pháp thiết lập hệ thống thống trị toàn diện, kiểm soát chặt đời sống chính trị - xã hội. Hải Dương trở thành trung tâm khai thác kinh tế quan trọng ở Bắc Kỳ, tạo bối cảnh cho sự chuyển biến của các phong trào yêu nước ở Hải Dương giai đoạn trước năm 1930.</p> Trần Việt Dũng Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 82 82 CHƯƠNG TRÌNH BÌNH ĐỊNH CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (11/1963-01/1969) - TRƯỜNG HỢP LONG AN https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139778 <p>Kế thừa và mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chính quyền Mỹ dưới sự lãnh đạo Tổng thống Lyndon B. Johnson (11/1963 - 01/1969) đã áp dụng nhiều biện pháp, thủ đoạn bình định trên khắp các địa phương miền Nam, trong đó có Long An. Tại đây, các kế hoạch/dự án bình định được Phái bộ Mỹ và chính quyền trung ương Sài Gòn cụ thể hóa với mức độ ưu tiên đặc biệt cả về nguồn lực lẫn tổ chức thực hiện nhằm thu phục “trái tim và khối óc” dân chúng cũng như ngăn chặn và tiêu diệt phong trào cách mạng ở cơ sở. Long An trở thành “tỉnh kiểu mẫu” trong chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam (11/1963-01/1969). Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quá trình tổ chức và thực hiện chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Long An qua hai giai đoạn, tương ứng với chương trình bình định trọng điểm và “cuộc chiến tranh khác” ở miền Nam Việt Nam; đánh giá kết quả của các kế hoạch bình định đó.</p> Vũ Thị Miền Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 92 92 ĐẠO ĐỨC SINH THÁI: CHẤN THƯƠNG VÀ CHỮA LÀNH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT VỀ THIẾU NHI https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139782 <p>Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và thường phải chịu tổn hại từ nhiều phía trong một xã hội đầy bất ổn. Với tâm hồn thuần khiết, ngây thơ, sáng trong, các em thường tìm đến loài vật và cỏ cây như những người bạn để chữa lành nỗi đau. Biết lắng nghe tiếng muôn vật để đối thoại với nó, trẻ em cũng tạo ra một môi trường sinh thái nhân văn làm nền tảng cho sự sống của nhân loại. Vận dụng lí thuyết chấn thương kết hợp với phê bình sinh thái bài viết chỉ ra mối liên hệ giữa chấn thương, sinh thái và ngôn ngữ, nơi những đứa trẻ yếu đuối thường rơi vào tình trạng “mất lời”. Đồng thời, chúng tôi phân tích hiện tượng “chấn thương kép”, khi sự mất mát về tình cảm cộng hưởng với sự đổ vỡ sinh thái, khiến trẻ em rơi vào trạng thái cô đơn và bơ vơ. Từ đó, bài viết khẳng định sự cần thiết của việc kiến tạo đạo đức sinh thái như một con đường để chữa lành, giúp con người hướng đến đời sống an nhiên và hạnh phúc.</p> Trần Thị Ánh Nguyệt Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 104 104 GIÁO DỤC TRẺ EM QUA TRẢI NGHIỆM VĂN CHƯƠNG: KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TRUYỆN THIẾU NHI VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139785 <p>Bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận thi pháp học, tự sự học và phương pháp liên ngành để khảo sát một số truyện thiếu nhi đương đại của Hàn Quốc được dịch sang tiếng Việt đầu thế kỉ XXI và đặt chúng trong tương quan với một số truyện thiếu nhi đương đại tiêu biểu của Việt Nam. Bài viết cho rằng việc bồi đắp những trải nghiệm sống động, đa dạng và giàu màu sắc qua văn chương là một cách thiết thực để nâng đỡ tâm hồn và giáo dục trẻ em trong xã hội hiện đại. Trải nghiệm tinh thần mà những câu chuyện này mang lại không chỉ góp phần hình thành nhân cách mà còn có thể bồi dưỡng nội lực, bản lĩnh và khả năng thấu cảm cho bạn đọc trẻ em, đồng thời đây cũng là những năng lực quan trọng của công dân trong thế kỉ XXI.</p> Trịnh Đặng Nguyên Hương Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 115 115 SIÊU TIỂU THUYẾT VÀ KHẢI HUYỀN MUỘN CỦA NGUYỄN VIỆT HÀ https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139790 <p>Siêu tiểu thuyết (metafiction) là tiểu thuyết viết về nghề tiểu thuyết. Đây là loại tiểu thuyết đòi hỏi sự tương tác, giải mã giữa người đọc, người viết và tác phẩm. Thế giới bên trong và bên ngoài văn bản trở nên khó phân định. Với Khải huyền muộn, người đọc được sáng tạo một cách tiếp cận của riêng mình. Ở đó, thế giới hiện thực và hư cấu bị lẫn lộn. Nhà văn phơi bày quá trình sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm nhưng chính thế giới đó lại tạo sự mơ hồ cho người đọc. Vận dụng những lý thuyết về thể loại, kết hợp phân tích, so sánh, dưới góc nhìn thi pháp học, bài báo sẽ nghiên cứu trường hợp Khải huyền muộn ở những góc độ: cấu trúc văn bản, nhân vật người kể chuyện, tính đa thanh của trò chơi ngôn ngữ.</p> Phan Thị Hà Thắm Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 124 124 NGHỆ THUẬT HƯ CẤU NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139796 <p>Bài viết khảo sát sự đa dạng của hình thức trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, từ đó làm rõ vai trò người kể chuyện trong việc kiến tạo diễn ngôn lịch sử. Nghiên cứu sử dụng phương pháp loại hình và phương pháp hệ thống – cấu trúc, kết hợp với thao tác phân tích – tổng hợp nhằm nhận diện những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật trần thuật. Kết quả nghiên cứu chỉ ra hình thức trần thuật trong tiểu thuyết lịch sử đã có sự vận động từ mô hình người kể chuyện toàn tri sang những dạng thức linh hoạt hơn như hạn tri, đa điểm nhìn, đa giọng điệu. Lịch sử trong tiểu thuyết không còn được trình bày như một dòng chảy khách quan tuyến tính mà trở thành một quá trình kiến tạo mang đậm dấu ấn chủ thể sáng tạo của nhà văn. Sự đổi mới hình thức trần thuật góp phần mở rộng khả năng biểu đạt, phản ánh xu hướng hiện đại hóa của tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại.</p> Đoàn Thị Huệ và Bùi Thị Thúy Minh Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 133 133 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA ĐÔ THỊ QUA VĂN HỌC DÂN GIAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139799 <p>Văn học dân gian (VHDG) Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là bộ phận đặc thù trong kho tàng VHDG Nam Bộ, hình thành trong không gian đô thị đa tộc người, năng động và giàu tính giao thoa văn hóa. Tuy giữ vai trò quan trọng, bộ phận này vẫn chưa được nghiên cứu tương xứng. Trải qua quá trình đô thị hóa và di dân, VHDG TP.HCM không mai một mà liên tục được tái tạo và thích ứng với đời sống hiện đại; môi trường lưu giữ - sáng tạo mở rộng từ truyền miệng sang xuất bản và lan truyền trên mạng xã hội. Bài viết hướng đến nhận diện các thể loại tiêu biểu và làm rõ đặc trưng nổi bật của VHDG TP.HCM ở khả năng thích ứng và sáng tạo trong bối cảnh đô thị. Nghiên cứu kết hợp phương pháp tư liệu - lịch sử - văn bản với phương pháp phân tích loại hình, qua đó phát hiện quy luật vận động của các hình thức VHDG đồng thời khái quát những giá trị thẩm mĩ và bản sắc văn hóa kết tinh trong đời sống dân gian đô thị hiện nay.</p> La Mai Thi Gia Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 142 142 LIỆU PHÁP TỰ CHỮA LÀNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAGAI KAFŪ NHÌN TỪ TINH THẦN IYASHI https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139802 <p>Nhìn từ mỹ học Nhật Bản truyền thống và tinh thần chữa lành trong văn hóa của người Nhật, bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống, hướng tiếp cận liên văn hóa, bài viết phân tích hai liệu pháp tự chữa lành được thể hiện trong truyện ngắn của Nagai Kafū là liệu pháp nghệ thuật và liệu pháp thiên nhiên. Mục đích của nghiên cứu là khám phá tinh thần trị liệu bằng văn chương trong truyện ngắn của Nagai Kafū qua việc nhà văn kiến tạo không gian, câu chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu… nhằm gửi gắm đến người đọc những ưu tư, trăn trở về vấn đề hiện sinh của con người. Từ đó, bài viết không chỉ khẳng định ý thức gìn giữ và phát huy bản sắc truyền thống Nhật Bản của Nagai Kafū mà còn cho thấy tinh thần chữa lành bằng văn học của ông trong sự đối sánh với xu hướng iyashi-kei bungaku (văn học chữa lành) thịnh hành ở Nhật Bản từ thập niên 1990 đến nay.</p> Nguyễn Hữu Minh Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 152 152 KHUYẾN NGHỊ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN VÙNG CHUYÊN CANH VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÍ CÀ PHÊ ARABICA TẠI TỈNH SƠN LA https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139806 <p>Nghiên cứu đã tích hợp hệ thống thông tin địa lí (GIS) và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) nhằm đánh giá thích nghi sinh thái của cây cà phê Arabica tại khu vực Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Bản đồ thích nghi sinh thái được xây dựng và kiểm chứng với độ chính xác đạt 88%. Kết quả cho thấy 44,9% diện tích có mức thích nghi cao (S1) và 32,6% diện tích có mức thích nghi trung bình (S2), tạo cơ sở khoa học để xác định 65.735 ha vùng định hướng phát triển chuyên canh theo ba mức ưu tiên; và đề xuất mở rộng không gian chỉ dẫn địa lí cà phê Arabica (46,32% diện tích tự nhiên). Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của bản đồ thích nghi sinh thái trong phát triển vùng chuyên canh và chỉ dẫn địa lí cà phê Arabica ở tỉnh Sơn La.</p> Ngô Thị Hải Yến, Vũ Thị Mai Hương, Bùi Thị Hồng Tuyết, Lưu Ngọc Trà, Lỳ Thúy Nga và Đỗ Thị Minh Quý Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 162 162 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG SINH KẾ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VÙNG VEN BIỂN NAM ĐỊNH TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139812 <p>Nuôi trồng thủy sản là một trong những sinh kế chủ đạo tại vùng ven biển Nam Định nhưng đang đứng trước nhiều thách thức cả về tự nhiên và kinh tế; trong đó biến đổi khí hậu là một yếu tố làm gia tăng rủi ro. Dựa trên khung phân tích sinh kế của DFID, nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng phát triển sinh kế nuôi trồng thủy sản tại vùng ven biển Nam Định thông qua phỏng vấn sâu các cán bộ, chuyên gia tại các địa phương vào tháng 6 - 8/2024 và số liệu thống kê trong giai đoạn 2010 - 2023. Kết quả cho thấy người dân chủ yếu sử dụng mô hình nuôi truyền thống, hiệu quả nhưng rủi ro cao, dễ bị tổn thương trước dịch bệnh và biến động thị trường; đặc biệt là rủi ro về thời tiết do biến đổi khí hậu. Hạn chế về vốn, kĩ thuật và liên kết tiêu thụ cũng cản trở việc mở rộng quy mô sản xuất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp góp phần định hướng phát triển sinh kế nuôi trồng thủy sản bền vững cho cộng đồng ven biển Nam Định thích ứng với biến đổi khí hậu.</p> Trần Thị Hồng Nhung Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 172 172 TRUYỀN THÔNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - GÓC NHÌN TOÀN CẦU: THỰC TRẠNG, XU HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139814 <p>Nghiên cứu này phân tích thực trạng, xu hướng và giải pháp trong truyền thông về biến đổi khí hậu (BĐKH) từ góc nhìn toàn cầu. Truyền thông về BĐKH đã phát triển từ việc chỉ tập trung vào dữ liệu khoa học sang phương pháp tiếp cận lấy công chúng làm trung tâm. Tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn đối mặt với những thách thức lớn, bao gồm sự phân cực chính trị trong nhận thức về BĐKH, sự lan truyền của thông tin sai lệch trên nền tảng số và khó khăn trong việc diễn giải các nội dung khoa học phức tạp. Trong bối cảnh Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất từ BĐKH, việc nâng cao hiệu quả truyền thông là cấp thiết. Nghiên cứu đề xuất tận dụng công nghệ số, xây dựng hệ thống kiểm chứng thông tin, điều chỉnh thông điệp phù hợp với từng nhóm đối tượng và tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan nhằm đảm bảo truyền tải thông tin chính xác, từ đó góp phần thay đổi nhận thức và thúc đẩy các hành động thích ứng với BĐKH.</p> Vũ Thị Minh Tâm, Phan Thuỳ Linh, Chu Đức Hà, Phùng Văn Trường, Trịnh Thị Hương và Tạ Văn Việt Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 183 183 MỐI QUAN HỆ GẮN BÓ MẸ - CON TRONG NĂM ĐẦU: MỘT NGHIÊN CỨU HỒI CỨU https://vjol.info.vn/DHSPHN/article/view/139819 <p>Thiết lập mối quan hệ gắn bó mẹ - con trong những năm đầu đời đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Bằng phương pháp hồi cứu, bài viết đã khảo sát ý kiến của 234 người mẹ có con ở độ tuổi mầm non từ tháng 04 – 06 năm 2025 để tìm hiểu mức độ và biểu hiện sự gắn bó mẹ - con trong năm đầu. Thời gian khảo sát từ tháng 04 – 06 năm 2025. Kết quả cho thấy: Hơn 90% số cặp mẹ - con được khảo sát có mối quan hệ gắn bó ở mức độ cao trong năm đầu từ cả phía người mẹ và người con. Gần 10% số cặp mẹ - con có nhu cầu gắn bó thấp, thường rơi vào các trường hợp mẹ hoặc con gặp phải các vấn đề về sức khỏe thể chất và hoặc tinh thần. Kết quả này là cơ sở để các nghiên cứu trong tương lai khám phá ảnh hưởng của sự gắn bó mẹ - con tới sự phát triển của trẻ ở những giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, cần có thêm những nghiên cứu được thực hiện bằng cách phối hợp nhiều phương pháp và thực hiện với cỡ mẫu lớn hơn để mô tả chi tiết hơn về mối quan hệ gắn bó mẹ - con trong năm đầu.</p> Trần Thị Thắm và Hoàng Thị Thu Bản quyền (c) 2026-04-07 2026-04-07 71 1 194 194