ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG GIÓ MỰC 100 M TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM

  • Trần Quang Năng
  • Trần Thị Thanh Hải
Từ khóa: Tài nguyên NLG, tốc độ gió, mực 100 m, Việt Nam.

Tóm tắt

Nghiên cứu này tập trung đánh giá tiềm năng tài nguyên năng lượng gió (NLG) ở độ cao 100 m trên lãnh thổ Việt Nam, sử dụng kết hợp số liệu quan trắc gió giai đoạn 1961-2023 và số liệu tái phân tích ERA5. Tốc độ gió ở độ cao 100 m được nội suy từ số liệu gió ở độ cao 10 m theo phương pháp logarit. Để phân tích sự phân hóa không gian của NLG, bản đồ tiềm năng NLG trung bình năm được xây dựng bằng phương pháp chuyên gia, kết hợp giữa số liệu quan trắc và tái phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tiềm năng NLG giữa các khu vực. Cụ thể, khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tốc độ gió trung bình cao nhất (3,1-3,4 m/s) với mật độ NLG dao động từ 5-143 Wh/m², được xếp vào nhóm có tiềm năng khai thác rất tốt. Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có tốc độ gió trung bình từ 2,6-3,2 m/s, với mật độ NLG từ 10-100 Wh/m², phù hợp để phát triển điện gió ở quy mô vừa. Trong khi đó, Tây Bắc và Đông Bắc có tốc độ gió thấp hơn (2,1-2,3 m/s), mật độ NLG dao động từ 1,5-70 Wh/m², chỉ cho phép khai thác ở một số khu vực cụ thể. Tại các trạm ven biển và ngoài khơi, tiềm năng NLG vượt trội hơn hẳn so với đất liền. Các trạm đảo như Bạch Long Vĩ, Phú Quý và Trường Sa có tốc độ gió trung bình cao (7,1-8,8 m/s) và mật độ NLG rất lớn (300-823 Wh/m²), cho thấy tiềm năng phát triển điện gió quy mô lớn. Một số trạm khác như Lý Sơn, Cồn Cỏ, Hòn Dấu và Côn Đảo có mật độ NLG ở mức cao (80-200 Wh/m²), trong khi Phú Quốc có tiềm năng hạn chế hơn (7-77 Wh/m²).

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2025-03-28