https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/issue/feedTạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu2026-03-26T08:32:39+07:00Trần Thị Tântrantank51bao@gmail.comOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu</strong></p>https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136147Một số đặc điểm thủy văn, hải văn và công tác dự báo thủy văn, hải văn trong mùa lũ năm 20252026-03-25T12:12:04+07:00Lương Hữu Dũngdungluonghuu@gmail.comLê Quốc Huyhuylq2@gmail.comNgô Thị Thủytide4586@gmail.comVăn Thị Hằngtide4586@gmail.comPhạm văn Tiếndungluonghuu@gmail.comĐặng Thị Lan Phươngtide4586@gmail.com<p>Mùa lũ năm 2025 được đánh giá là một trong những năm ghi nhận diễn biến thiên tai khốc liệt và phức tạp, đặc biệt là lũ, bão, lũ quét và sạt lở đất, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản và cơ sở hạ tầng trên nhiều vùng của cả nước. Các hình thái thời tiết cực đoan, nhiều đợt mưa lớn với cường suất cao, phạm vi hẹp nhưng tập trung đã xuất hiện dồn dập, làm gia tăng nguy cơ lũ quét, lũ ống tại khu vực miền núi và trung du. Trong khi đó, các hệ thống sông lớn như sông Hồng và sông Kôn liên tiếp xuất hiện lũ cao, có thời điểm vượt lũ lịch sử tại một số trạm.<br>Hoạt động bão và áp thấp nhiệt đới trong năm 2025 cho thấy xu thế gia tăng về cường độ và mức độ nguy hiểm, với nhiều cơn bão mạnh, quỹ đạo phức tạp, gây mưa rất lớn trên đất liền, kết hợp với nước dâng, sóng lớn và triều cường tại khu vực ven biển. Hệ quả là nhiều khu vực hạ du, đô thị và vùng trũng thấp chịu ngập sâu, kéo dài; các lưu vực sông dốc xuất hiện lũ lên nhanh, rút chậm, vượt xa khả năng ứng phó của cộng đồng địa phương.<br>Chế độ triều tại Việt Nam rất đa dạng, phân hóa rõ rệt theo từng khu vực bờ biển từ Bắc xuống Nam. Chế độ sóng chịu tác động chính của gió mùa và bão, chiều cao sóng lớn nhất trong bão 8-10 m. Khu vực ảnh hưởng lớn nhất của nước dâng do bão là bờ biển Trung Bộ, nước dâng lớn nhất có thể đạt từ 1,5-2,5 m, gây ngập lụt tại một số khu vực ven biển của tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa.<br>Trong bối cảnh đó, công tác theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm thủy văn - hải văn đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Việc tổng kết, phân tích đặc điểm thiên tai năm 2025 không chỉ nhằm phản ánh mức độ khắc nghiệt của các hiện tượng lũ bão, lũ quét đã xảy ra, mà còn góp phần đánh giá hiệu quả công tác dự báo, cảnh báo và rút ra các bài học khoa học phục vụ nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai trong những năm tiếp theo.</p>2026-03-25T09:53:26+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136149Ảnh hưởng của ENSO đến hạn hán trên lưu vực Sông Srepok2026-03-25T12:11:45+07:00Nguyễn Văn Lâmnvlam2730@gmail.comLương Văn Việtnvlam2730@gmail.comChâu Nguyễn Xuân Quangnvlam2730@gmail.comLê Thị Thu Hànvlam2730@gmail.com<p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định quy mô thời gian hạn và độ trễ giữa hiện tượng El Niño với hạn hán tại lưu vực Sông Srepok, từ đó hỗ trợ công tác dự báo và quản lý tài nguyên nước tại địa phương hiệu quả hơn. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm chỉ số Niño đại dương (ONI), chỉ số lượng mưa chuẩn hóa (SPI) và chỉ số dòng chảy chuẩn hóa (SSI) trong giai đoạn 1982-2023. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm tính toán các chỉ số hạn SPI và SSI, phân tích ảnh hưởng của ENSO đến hạn hán. Kết quả cho thấy SPI10 và SSI8 là các quy mô thời gian chịu tác động mạnh nhất từ ENSO, với giá trị trung bình của chỉ số hạn giữa năm La Niña và El Niño lần lượt là 1,49 và 1,58. ENSO ảnh hưởng có độ trễ trung bình đến lượng mưa là 2 tháng và dòng chảy là 3 tháng. Các pha El Niño thường đi kèm với hạn nghiêm trọng, xuất hiện từ cuối mùa mưa và kéo dài đến mùa khô, với tỷ lệ hạn rất khô chiếm trên 50%. Những phát hiện này khẳng định ảnh hưởng của ENSO đến hạn hán và cơ sở để cảnh báo sớm và quản lý hạn hiệu quả trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại lưu vực Sông Srepok.</p>2026-03-25T09:59:28+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136152Thử nghiệm dự báo dông sử dụng chỉ số khí quyển từ mô hình WRF tại khu vực Đông Nam Tỉnh Vĩnh Long2026-03-25T12:11:27+07:00Phạm Thanh Longlongpham.sihymete@gmail.comVõ Thị Nguyênlongpham.sihymete@gmail.comLê Xuân Hòalongpham.sihymete@gmail.comNgô Hồ Hà Mylongpham.sihymete@gmail.comTrần Đình Quốclongpham.sihymete@gmail.com<p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng nhận diện và dự báo dông tại khu vực Đông Nam tỉnh Vĩnh Long dựa trên các chỉ số bất ổn định đối lưu được tính từ trường khí tượng của mô hình WRF (Weather Research and Forecasting). Các chỉ số bao gồm năng lượng tiềm năng đối lưu sẵn có (CAPE), ức chế đối lưu (CIN), chỉ số K (KI), chỉ số Boyden và chỉ số Total Totals (Totalx). Dữ liệu được xây dựng từ sáu đợt mưa trong giai đoạn 2021-2023, kết hợp với quan trắc sét từ mạng ENTLN, trong đó cả sét trong mây và sét đánh xuống đất đều được sử dụng để phân loại thời điểm có dông và không dông. Nghiên cứu tiến hành xác định ngưỡng phù hợp cho từng chỉ số thông qua phân tích thống kê và thử nghiệm 100 giá trị ngưỡng cho mỗi chỉ số. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm xác suất phát hiện (POD), tỷ lệ báo động giả (FAR), chỉ số CSI, điểm kỹ năng Heidke (HSS) và đặc biệt là chỉ số TSS được dùng làm tiêu chí lựa chọn ngưỡng tối ưu. Sau đó, các ngưỡng được kiểm chứng bằng tập dữ liệu độc lập để đánh giá tính ổn định và khả năng tổng quát hóa. Kết quả cho thấy CAPE là chỉ số hiệu quả và ổn định nhất, đặc biệt tại các vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Chỉ số Boyden thể hiện vai trò hỗ trợ, trong khi KI và Totalx kém hiệu quả hơn do tỷ lệ báo động giả cao. Khi kiểm chứng với dữ liệu độc lập, hầu hết các chỉ số giảm kỹ năng dự báo, phản ánh hạn chế của phương pháp sử dụng ngưỡng cố định. Nghiên cứu khẳng định cần kết hợp đa chỉ số và bổ sung các phương pháp hiện đại như hồi quy logistic hoặc mô hình học máy nhằm nâng cao tính ổn định và hiệu quả của hệ thống cảnh báo dông phục vụ dự báo nghiệp vụ.</p>2026-03-25T10:05:01+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136155Nghiên cứu đánh giá khả năng tích hợp mô hình vật lý với các nguồn dữ liệu mở phục vụ cảnh báo sạt lở đất theo thời gian thực: thí điểm trên địa bàn Huyện Bát Xát (cũ), Tỉnh Lào Cai2026-03-25T12:11:07+07:00Trần Văn Túphuongtran.monre@gmail.comTrần Bảo Chungphuongtran.monre@gmail.comTrần Anh Phươngphuongtran.monre@gmail.comNguyễn Anh Đứcphuongtran.monre@gmail.comVũ Đăng Tiếpphuongtran.monre@gmail.com<p>Trong những năm vừa qua, sạt lở đất có xu hướng diễn biến theo hướng ngày càng nhiều và nghiêm trọng hơn, gây thiệt hại lớn về người và của, đặc biệt là ở các khu vực vùng núi có địa hình dốc, bị chia cắt mạnh như huyện Bát Xát (cũ), tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên, công tác cảnh báo sạt lở đất ở các khu vực này gặp nhiều khó khăn do thiếu các nguồn dữ liệu đầu vào cho các mô hình cảnh báo. Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận tích hợp mô hình vật lý TRIGRS với các nguồn dữ liệu mở để phục vụ công tác cảnh báo sạt lở đất trên địa bàn huyện Bát Xát (cũ). Các nguồn dữ liệu mở được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm dữ liệu mưa vệ tinh CHIRPS, độ ẩm SMAP, địa hình, thành phần đất (cát, sét, hữu cơ). Từ dữ liệu thành phần đất, các đặc trưng thủy lực và cơ học của đất, yếu tố đầu vào rất quan trọng trong mô phỏng sạt lở đã được xác định. Đặc biệt, nghiên cứu đã tính toán được độ dày lớp đất nhờ kết hợp dữ liệu khảo sát thực địa bằng radar xuyên đất với độ dốc địa hình. Kết quả tính toán, mô phỏng cho trận lũ từ ngày 05/09/2024 đến 09/9/2024 cho thấy cách tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu này cho độ chính xác tương đối cao. Chỉ số diện tích dưới đường cong (AUC), đạt giá trị 0,841, cho thấy khả năng phân biệt nguy cơ sạt lở ở mức độ cao. Đối chiếu với 157 điểm sạt lở thực tế được ghi nhận, mô hình đã dự báo chính xác 82 điểm (Tỷ lệ dương tính thực - TPR = 52,23%). Kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của mô hình TRIGRS trong việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm sạt lở đất tại các khu vực miền núi còn hạn chế về dữ liệu quan trắc truyền thống.</p>2026-03-25T10:11:26+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136157Nghiên cứu đánh giá sức chịu tải Sông Vàm Cỏ Đông khu vực Bến Lức, Tỉnh Tây Ninh2026-03-26T08:32:39+07:00Nguyễn Văn Hồngnguyenvanhong79@gmail.comPhạm Ánh Bìnhnguyenvanhong79@gmail.comNguyễn Thị Thu Hằngnguyenvanhong79@gmail.comChâu Thanh Hảinguyenvanhong79@gmail.comTrần Minh Sơnnguyenvanhong79@gmail.com<p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá diễn biến chất lượng nước sông và tính toán sức chịu tải các chất ô nhiễm trên Sông Vàm Cỏ Đông, khu vực Bến Lức tỉnh Tây Ninh. Phương pháp đánh giá dựa theo Thông tư 76/2017/BTNMT kết hợp với mô hình lan truyền chất ô nhiễm MIKE 11 được sử dụng để đánh giá sức chịu tải các chất ô nhiễm Sông Vàm Cỏ Đông. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn nước Sông Vàm Cỏ Đông vẫn còn khả năng tiếp nhận các thông số NO2- (2.991,61 kg/ngày) và Tổng P (2.280,33 kg/ngày) nhưng không còn khả năng tiếp nhận đối với các thông số COD, BOD5, NH4+. Tổng N chủ yếu do tác động từ nước thải chăn nuôi và sinh hoạt của dân cư sống ven sông. Kết quả này là cơ sở khoa học quan trọng giúp các nhà quản lý môi trường đề xuất và triển khai các giải pháp kiểm soát nguồn thải, góp phần bảo vệ chất lượng nước, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và hướng tới phát triển bền vững.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136158Đánh giá xu thế thay đổi thành phần hóa học nước Hồ Hòa Bình dưới tác động của lắng đọng axit, giai đoạn 2000-20242026-03-26T08:32:36+07:00Doãn Hà Phongdoanhaphong@gmail.comNgô Thị Vân Anhvananhmd@gmail.comVũ Xuân Hùngdoanhaphong@gmail.comNguyễn Thị Kim Anhvananhmd@gmail.comNguyễn Thị Hằng Ngavananhmd@gmail.comLê Văn Linhdoanhaphong@gmail.com<p>Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá xu thế axit hóa và biến đổi thành phần hóa học nước hồ Hòa Bình theo thời gian trong bối cảnh lắng đọng axit. Với chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước hồ Hòa Bình 25 năm (2000-2024) trong khuôn khổ hoạt động của Mạng lưới giám sát lắng đọng axit vùng Đông Á (EANET), xu thế axit hóa và biến đổi chất lượng nước hồ Hòa Bình được đánh giá thông qua phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Seasonal Mann-Kendall đối với các ion chính bao gồm pH, H+, EC, độ kiềm, SO<sub>4</sub><sup>2-</sup>, NO<sub>3</sub><sup>-</sup> Cl<sup>-</sup>, NH<sub>4</sub><sup>+</sup>, Na<sup>+</sup>, K<sup>+</sup>, Ca<sup>2+</sup>, Mg<sup>2+</sup>. Kết quả chỉ ra rằng pH/H<sup>+</sup>, Cl<sup>-</sup> và Ca<sup>2+</sup> không có xu thế rõ ràng, tuy nhiên độ kiềm, EC, Mg<sup>2+</sup>, NH<sub>4</sub><sup>+</sup> và SO<sub>4</sub><sup>2-</sup> có xu thế giảm, trong khi đó Na<sup>+</sup>, K<sup>+</sup>, NO<sub>3</sub>- lại có xu hướng tăng. Đồng thời, kết quả phân tích tương quan giữa xu thế thay đổi thành phần hóa học nước hồ Hòa Bình và xu thế lắng đọng axit ướt (LĐƯ) tại trạm Hòa Bình chỉ ra rằng hồ Hòa Bình không bị axit hóa mặc dù nồng độ ion NO3- có xu hướng tăng từ lắng đọng axit nhưng được trung hòa do độ kiềm lớn của nước hồ Hòa Bình.</p>2026-03-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136160Xác định đặc trưng ô nhiễm vi nhựa trong mẫu nước mặt và cột nước trong mùa khô tại cửa Sông Hàn (Đà Nẵng)2026-03-25T12:10:49+07:00Nguyễn Thị Thanh Hoàinthoaimt@gmail.comTạ Lê Đăng Khôinthoaimt@gmail.comVũ Thị Thu Vânnthoaimt@gmail.comĐàm Văn Vệnthoaimt@gmail.comTrần Thị Thu Hươngnthoaimt@gmail.com<p>Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định đặc điểm ô nhiễm vi nhựa trong các mẫu nước mặt và cột nước vào mùa khô năm 2024 tại cửa sông Hàn (Đà Nẵng). Tổng cộng 8 mẫu nước mặt và 8 mẫu nước cột đã được thu thập và phân tích. Đặc trưng ô nhiễm về mật độ, hình dạng, màu sắc, kích thước và dạng polyme của vi nhựa được xác định bằng phương pháp kính hiển vi soi nổi và quang phổ hồng ngoại FTIR. Kết quả cho thấy vi nhựa có mặt ở hầu hết các vị trí lấy mẫu và mật độ vi nhựa trong nước mặt cao hơn so với cột nước. Ô nhiễm vi nhựa giữa hai nhóm mẫu là không đồng nhất, dao động từ 0 đến 28 MP/L trong nước mặt và từ 0 đến 16 MP/L trong các mẫu cột nước. Dạng mảnh và sợi vi nhựa có kích thước nhỏ hơn chiếm ưu thế. Màu trắng là màu phổ biến nhất, tiếp theo là xanh lam, xanh lục, đỏ và các màu khác. Có 6 loại polyme với tổng số MPs/L là 116 và 48 MPs/L đã được ghi nhận trong các mẫu nước như PET (Polyethylene terephthalate), Nylon, Polyester... Trong đó, PET và nylon là loại polyme chiếm ưu thế nhất trong các mẫu nước mặt và mẫu cột nước với các giá trị lần lượt là 51,72; 34,48% và 16,67; 25%. Các loại polyme khác được quan sát thấy không đồng đều giữa các vị trí với tỷ lệ thấp hơn. Những phát hiện này cung cấp dữ liệu cơ sở cho nghiên cứu về vi nhựa ở vùng cửa sông ven biển Nam Trung Bộ và hỗ trợ các nghiên cứu sâu hơn về độc tính cũng như tác động sinh thái của nhựa tới môi trường cửa sông trong tương lai.</p>2026-03-25T10:31:51+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136162Đánh giá hiệu quả tách nước bùn đáy Hồ Tây bằng polyme điện tích dương2026-03-25T12:10:31+07:00Đỗ Khắc Uẩnhuong.hoangthithu@hust.edu.vnTrần Đắc Chíhuong.hoangthithu@hust.edu.vnHoàng Thị Thu Hươnghuong.hoangthithu@hust.edu.vn<p>Lớp bùn đáy ở Hồ Tây thường có độ dày từ 0,6 đến 1,2 m. Bùn đáy chứa các chất độc hại ảnh hưởng đến chất lượng nước hồ và các sinh vật sống. Bùn thải từ hồ phải được xử lý sơ bộ và tách nước trước khi vận chuyển đến bãi thải theo quy định. Trong nghiên cứu này, hai loại polyme điện tích dương (KP206BH2 và FLOPAM FO 4240SH) đã được sử dụng (với liệu lượng từ 100-500 mg/L) để đánh giá khả năng tách nước từ bùn đáy của Hồ Tây. Kết quả cho thấy hai loại polyme KP206BH2 và polyme FLOPAM FO 4240SH đều tăng hiệu quả tách nước. Polymer KP206BH2 cho hiệu quả tách nước ra tốt hơn so polymer FLOPAM FO 4240SH. Polymer KP206BH2 cũng có khả năng làm giảm COD, TN, TP tốt hơn so với polymer FLOPAM FO 4240SH. Do đó, polyme cation có thể sử dụng để tách nước bùn từ ao hồ.</p>2026-03-25T10:35:48+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136163Đánh giá dấu chân nước trong nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại Nghệ An2026-03-25T12:10:14+07:00Kim Minh Anhhuong.hoangthithu@hust.edu.vnLê Thị Thảo Vyhuong.hoangthithu@hust.edu.vnTrần Thị Minh Khuêhuong.hoangthithu@hust.edu.vnNguyễn Thị Hạnh Tiênhuong.hoangthithu@hust.edu.vnKim Văn Vạnhuong.hoangthithu@hust.edu.vnHoàng Thị Thu Hươnghuong.hoangthithu@hust.edu.vn<p>Tài nguyên nước ngọt đang đối mặt với nguy cơ suy giảm nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gia tăng nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Dấu chân nước được sử dụng như một công cụ khoa học nhằm đánh giá mức độ tiêu thụ nước trong các ngành sản xuất, phản ánh lượng nước sử dụng trực tiếp và gián tiếp. Việc đánh giá dấu chân nước trong nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp dữ liệu khoa học về tác động của ngành đối với tài nguyên nước, đồng thời đề xuất các giải pháp tối ưu sử dụng nước, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá dấu chân nước trong nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) khu vực ven biển tại Nghệ An, một trong những địa phương nuôi trồng thủy sản trọng điểm của miền Trung Việt Nam. Phương pháp điều tra, khảo sát 27 cơ sở nuôi tôm thẻ tại 4 xã ven biển gồm Diễn Kim, Diễn Trung, Nghi Hương và Nghi Thu cung cấp thông tin về lượng nước và tỷ lệ các loại nước được sử dụng trong một vụ nuôi. Tổng dấu chân nước trung bình đạt 3,01±0,44 m3/kg tôm sau thu hoạch, nước xanh lam chiếm 58,16%, tiếp đến dấu chân nước xanh lá (23,90%) và dấu chân nước xám (17,94%). Những kết quả này góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý sử dụng tài nguyên nước và thúc đẩy phát triển nghề nuôi tôm theo hướng bền vững.</p>2026-03-25T10:47:03+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136166Phân tích tính khả thi và định hướng ứng dụng các mô hình đánh giá tác động kinh tế - xã hội của các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam2026-03-25T12:09:56+07:00Nguyễn Thành Côngtcongnguyen90@gmail.com<p>Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính (KNK) theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), việc lựa chọn và áp dụng các công cụ mô hình hóa để đánh giá toàn diện tác động kinh tế - xã hội của các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là yêu cầu cấp thiết. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về các nhóm mô hình chính thường được sử dụng trên thế giới và có tiềm năng áp dụng tại Việt Nam, bao gồm: mô hình cân bằng tổng thể (CGE), mô hình đánh giá tích hợp (IAM), mô hình cân bằng từng phần và mô hình kinh tế lượng. Nội dung bài báo tập trung phân tích sâu về nguyên lý, cấu trúc, ưu nhược điểm và khả năng ứng dụng của hai nhóm mô hình thường được ứng dụng rộng rãi nhất là CGE và IAM. Đặc biệt, bài báo làm rõ cách thức các mô hình CGE được sử dụng để phân tích các công cụ chính sách phức tạp như thị trường các-bon, thông qua việc tổng hợp các nghiên cứu điển hình trên thế giới. Một số mô hình như AIM, GEM cũng được giới thiệu để minh họa cho ứng dụng thực tiễn. Cuối cùng, bài báo thảo luận những thách thức về dữ liệu, năng lực kỹ thuật, các giả định mô hình và đề xuất định hướng nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng các công cụ này trong quá trình hoạch định chính sách khí hậu tại Việt Nam.</p>2026-03-25T10:49:08+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/TCKHBDKH/article/view/136167Cơ chế ITMO trong thỏa thuận paris: cơ hội và thách thức triển khai tại Việt Nam2026-03-25T12:09:36+07:00Đặng Quang Thịnhthinhdangq@gmail.comNguyễn Thị Quỳnh Ngathinhdangq@gmail.com<p>Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng không vào năm 2050 và giảm 43,5% lượng phát thải khí nhà kính (KNK) vào năm 2030 so với Kịch bản phát triển thông thường (BAU) trong Đóng góp quốc gia tự quyết định năm 2022 (NDC2), việc triển khai cơ chế Kết quả giảm nhẹ được chuyển giao quốc tế (ITMO) theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris là một công cụ để Việt Nam nâng cao tham vọng về khí hậu. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu để đánh giá các cơ hội và thách thức liên quan đến triển khai ITMO tại Việt Nam, tập trung vào ba khía cạnh chính: kinh nghiệm quốc tế, bối cảnh của Việt Nam và đề xuất các giải pháp. Phân tích các trường hợp từ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Nhật Bản, Đức, Ghana, Thái Lan và Zambia cho thấy các quốc gia này đã xây dựng khung pháp lý vững chắc, hệ thống đăng ký quốc gia, cơ chế điều chỉnh tương ứng (Corresponding Adjustment - CA) và sự tham gia của khu vực tư nhân, từ đó đảm bảo tính minh bạch, tránh tính kép và duy trì toàn vẹn môi trường. Tại Việt Nam, các cơ hội nổi bật bao gồm nền tảng pháp lý từ Luật Bảo vệ Môi trường 2020, Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP, cùng kinh nghiệm từ các cơ chế Kyoto trước đây. ITMO có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, lâm nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải, hỗ trợ huy động vốn quốc tế, chuyển giao công nghệ sạch và nâng cao vị thế trên thị trường các-bon toàn cầu. Tuy nhiên, các thách thức bao gồm thiếu quy định chi tiết về ủy quyền và CA, hạn chế về năng lực kỹ thuật, hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực và tài chính. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), và tăng cường hợp tác quốc tế để khắc phục những hạn chế này, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu đánh giá tính khả thi kinh tế-xã hội của các đề xuất trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng quốc gia.</p>2026-03-25T10:51:38+07:00Bản quyền (c)