Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh – Y học
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc
<p>Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh</p>Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minhvi-VNTạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh – Y học1859-1779Bất tương hợp giới và các bước thực hiện chuyển đổi giới tính
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141183
<p>Bất tương hợp giới chỉ tình trạng không phù hợp dai dẳng giữa nhận dạng giới và giới tính khi sinh. Bất tương hợp giới có thể kèm theo đau khổ về mặt tâm lý, được gọi là bức bối giới. Người bức bối giới quá mức thường có mong muốn chuyển đổi giới tính nhằm thay đổi các đặc điểm sinh học đặc trưng về giới của cơ thể để phù hợp với nhận dạng giới mà họ cảm nhận và trải nghiệm. Chuyển đổi giới tính chưa được phép thực hiện chính thức trong nước, khiến nhiều người chuyển giới có nhu cầu phải tìm đến các cơ sở y tế ở nước ngoài. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ công nhận về mặt nguyên tắc sang việc xây dựng hành lang pháp lý, cơ chế thực thi cụ thể cũng như phát triển hệ thống y tế và hỗ trợ xã hội cho quyền chuyển đổi giới tính. Bài viết này tổng quan các vấn đề liên quan đến bất tương hợp giới và trình bày các bước chính của quy trình chuyển đổi giới tính được áp dụng phổ biến hiện nay.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.01">Liên kết bài viết</a></p>Nguyễn Ngọc HàThái Kinh LuânHoàng Khắc ChuẩnĐỗ Anh Toàn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Các phương pháp phẫu thuật tạo hình dương vật ở bệnh nhân chuyển đổi giới tính
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141189
<p>Rối loạn bản dạng giới là trạng thái khó chịu hoặc đau khổ sâu sắc do sự không tương thích giữa giới tính sinh học và bản dạng giới, có thể gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tâm thần và chất lượng sống. Hiện nay các phương pháp can thiệp y khoa và phẫu thuật giúp cải thiện rõ rệt sự hài lòng của người bệnh. Phẫu thuật tạo hình ở người chuyển giới nam bao gồm phẫu thuật cắt bỏ cơ quan sinh dục và tái tạo cơ quan sinh dục ngoài. Trong đó, phẫu thuật tạo hình dương vật là phẫu thuật khó, phức tạp đòi hỏi sự hiểu biết về giải phẫu học và kinh nghiệm phẫu thuật tiết niệu để đáp ứng mục tiêu chức năng và thẩm mỹ của dương vật tân tạo như khả năng đi tiểu ở tư thế đứng, cảm giác xúc giác và khoái cảm, hài lòng về tình dục, hình thái thẩm mỹ và hạn chế biến chứng. Bài tổng quan này nhằm trình bày các phương pháp tạo hình dương vật ở người chuyển giới nam.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.02">Liên kết bài viết</a></p>Thái Kinh LuânHoàng Tiến Đạt
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Tái phát sinh hóa sau điều trị triệt căn ung thư tuyến tiền liệt
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141192
<p>Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là bệnh ác tính phổ biến, với 27–53% trường hợp tái phát sinh hóa (BCR) sau điều trị triệt căn. Hiện vẫn còn thiếu đồng thuận về định nghĩa BCR và có sự khác biệt trong khuyến cáo điều trị. Bài tổng quan này nhằm hệ thống hóa bằng chứng khoa học mới nhất để hỗ trợ quản lý BCR tối ưu tại Việt Nam, dựa trên các khuyến cáo của 4 hiệp hội tiết niệu và ung thư uy tín nhất trên thế giới bao gồm AUA, EAU, ASCO và NCCN. Sau phẫu thuật, định nghĩa BCR khác nhau giữa các hiệp hội (ví dụ: NCCN 0,1 ng/mL, AUA/ASCO 0,2 ng/mL, EAU 0,4 ng/mL). Sau xạ trị, định nghĩa thống nhất là PSA tăng 2 ng/mL so với mức thấp nhất (nadir). Các yếu tố nguy cơ độc lập bao gồm PSA, điểm Gleason/nhóm ISUP, giai đoạn ung thư và biên phẫu thuật dương tính. Quản lý BCR cần phân nhóm nguy cơ (thấp/cao) dựa trên PSA-DT và nhóm ISUP. PSMA PET/CT là phương tiện ưu tiên để phát hiện sớm tái phát lâm sàng, ngay cả ở mức PSA rất thấp. Điều trị cứu vớt nền tảng là xạ trị cứu vớt sớm sau phẫu thuật và hormon liệu pháp sau xạ trị. Quản lý BCR hiệu quả đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều. Phân nhóm nguy cơ (PSA-DT, ISUP) là tối quan trọng để định hướng chiến lược theo dõi hoặc điều trị cứu vớt kịp thời. Việc cá nhân hóa và áp dụng linh hoạt các khuyến cáo cập nhật là chìa khóa để cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân TTL. Các tài liệu được tổng hợp từ các hướng dẫn quốc tế và đối chiếu với y văn liên quan công bố trong giai đoạn 2018–2025.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.03">Liên kết bài viết</a></p>Thái Kinh LuânTrần Như Quang
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Động lực làm việc của nhân viên y tế: Kết quả từ nghiên cứu đánh giá thang đo Multidimensional Work Motivation Scale
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141254
<p>Đặt vấn đề: Động lực làm việc là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả và thành công của mỗi tổ chức, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất, mức độ gắn kết, năng suất và tỷ lệ luân chuyển của nhân viên. Việc đánh giá động lực làm việc giúp nhà quản lý bệnh viện quản trị nguồn nhân lực hiệu quả hơn, đặc biệt trong bối cảnh ngành y tế đang đối mặt với nhiều thách thức.</p> <p>Mục tiêu: Đánh giá động lực làm việc của nhân viên y tế (NVYT) bằng thang đo Multidimensional Work Motivation Scale (MWMS).</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 309 nhân viên y tế tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo danh sách NVYT tại bệnh viện, những NVYT được chọn sẽ gửi đồng thuận tham gia nghiên cứu và thực hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi đánh giá động lực làm việc.</p> <p>Kết quả: Thang đo MWMS có tính tin cậy nội bộ tốt với Cronbach's alpha từ 0,82–0,94 và tính giá trị về cấu trúc MWMS đã được xác nhận với mô hình bốn nhân tố phù hợp với dữ liệu. Đánh giá động lực làm việc trên 309 nhân viên với điểm trung bình là 3,99 và các yếu tố ảnh hưởng điểm động lực của nhân viên y tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố liên quan như độ tuổi, khoa làm việc, đào tạo nâng cao chuyên môn và thăng tiến trong công việc.</p> <p>Kết luận: Việc xây dựng môi trường làm việc hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp và cơ chế ghi nhận phù hợp nhằm duy trì và nâng cao động lực của nhân viên y tế.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.04">Liên kết bài viết</a></p>Lê Việt TùngTrương Minh MẫnTrần Thị Thanh NgaThái Thanh Trúc
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Khảo sát chất lượng sống bằng thang điểm SF-36 ở bệnh nhân lọc màng bụng cao tuổi tại bệnh viện Nhân dân 115
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141255
<p>Đặt vấn đề: Bệnh viện Nhân dân 115 có 26% bệnh nhân trên 60 tuổi lọc màng bụng. Chất lượng cuộc sống (QoL) của người cao tuổi lọc màng bụng chưa được ghi nhận.</p> <p>Mục tiêu: Xác định chất lượng sống của người lọc màng bụng cao tuổi bằng thang điểm SF-36 và mối liên quan với một số yếu tố.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 69 trường hợp suy thận mạn trên 60 tuổi đang lọc màng bụng ít nhất 03 tháng, tại bệnh viện Nhân Dân 115, từ tháng 07/2020 đến tháng 08/2020. Dùng thang điểm SF-36 để đánh giá chất lượng sống. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20. Đề cương đã được thông qua Hội Đồng Đạo Đức bệnh viện.</p> <p>Kết quả: tuổi trung vị trong nghiên cứu là 67,9 tuổi, (IQR = 8,0). Nam chiếm 36,2%. Thời gian lọc màng bụng < 5 năm là 58,0%, 5-10 năm là 37,7% và > 10 năm là 4,3%. Hb máu trung vị 10,4 g/dL (IQR = 2,0). Điểm SF-36 sức khỏe chung mức trung bình là 42,0%, khá 29,0%, kém 17,4% và tốt 11,6%. Nhóm 60-65 tuổi có SF-36 mức khá cao hơn nhóm > 65 tuổi có ý nghĩa thống kê (35,5% so với 23,7%, p <0,01). Nhóm này cũng có SF-36 mức trung bình thấp hơn nhóm > 65 tuổi có ý nghĩa (32,36% so với 50%, p <0,01). Không có liên quan giữa chất lượng sống với các yếu tố khác.</p> <p>Kết luận: Lọc màng bụng là một lựa chọn khá tốt cho người bệnh suy thận mạn cao tuổi.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.05">Liên kết bài viết</a></p>Trần Thị HạnhNguyễn Thị Như ÝĐàm Minh KhuêLê Thị Hồng Vũ
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Thể tích chất xám toàn não và các thùy não ở bệnh nhân đau mạn tính do rối loạn thái dương hàm
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141259
<p>Đặt vấn đề: Đau mạn tính do rối loạn thái dương hàm (RLTDH) liên quan đến sự thay đổi trong cấu trúc não, đặc biệt là thể tích chất xám. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn còn hạn chế, đặc biệt về mối tương quan giữa thể tích chất xám và yếu tố tuổi ở nhóm bệnh nhân RLTDH.</p> <p>Mục tiêu: Xác định thể tích chất xám toàn não và các thùy não ở người đau mạn tính do RLTDH và người khỏe mạnh. Đồng thời, phân tích tương quan của các thể tích này so với tuổi.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu bệnh chứng, 30 bệnh nhân (BN) đau mạn tính do RLTDH và 30 người khỏe mạnh, đối chiếu bắt cặp nhau theo tuổi và giới. Thể tích chất xám được phân tích qua hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sọ não bằng phương pháp hình thái học dựa trên điểm ảnh ba chiều VBM (Voxel-based morphometry).</p> <p>Kết quả: Thể tích chất xám ở nhóm bệnh và nhóm chứng, mức toàn não lần lượt là 671,5 ml và 685,6 ml; mức thùy não lần lượt là thùy trán (167,3 ml và 171,4 ml), thùy đỉnh (76,1 ml và 76,9 ml), thùy chẩm (59,9 ml và 61,2 ml), thùy thái dương (102,9 ml và 104,1 ml) và thùy viền (55,8 ml và 57,2ml). Các khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p >0,05). Ở cả hai nhóm, thể tích chất xám có tương quan nghịch với tuổi cho cả mức toàn não và mức thùy não (p <0,05).</p> <p>Kết luận: Đau mạn tính do RLTDH không làm thay đổi đáng kể thể tích chất xám não so với nhóm chứng khỏe mạnh khi khảo sát ở mức toàn não và thùy não.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.06">Liên kết bài viết</a></p>Nguyễn Thị ThưNguyễn Hồ Quỳnh AnhĐặng Vũ Ngọc MaiLê Quang KhangNguyễn Thị Kim Anh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-012026-02-01292Khảo sát sự khác biệt của phân giai đoạn lâm sàng ban đầu (cTNM) và sau khi có kết quả mô bệnh học (pTNM) trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141264
<p>Đặt vấn đề: Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến, đứng thứ tư ở nam và thứ hai ở nữ tại Việt Nam. Việc xác định chính xác giai đoạn bệnh đóng vai trò quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị. Cả đánh giá lâm sàng (cTNM) và mô bệnh học sau phẫu thuật (pTNM) đều ảnh hưởng đến kết quả phân giai đoạn.</p> <p>Mục tiêu: So sánh sự khác biệt giữa phân giai đoạn cTNM và pTNM trong chẩn đoán UTĐTT.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên bệnh nhân UTĐTT nguyên phát điều trị tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) từ 12/2023–05/2024. Giai đoạn cTNM và pTNM được xác định theo tiêu chuẩn AJCC 8.0. Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14.2, ngưỡng ý nghĩa p <0,05.</p> <p>Kết quả: Trong 140 trường hợp, vị trí u thường gặp nhất là trực tràng (36,4%). Ung thư biểu mô tuyến không đặc hiệu chiếm 94,3%, chủ yếu độ biệt hoá trung bình (98,6%). Giai đoạn phổ biến nhất theo cTNM là T4aN2M0 (29,3%), theo pTNM là T3N0M0 (30,7%). Tỷ lệ tương đồng giữa cTNM và pTNM chỉ đạt 27,85%; sai lệch chủ yếu ở chẩn đoán di căn hạch. do đánh giá cao mức độ di căn hạch trong quá trình đánh giá lâm sàng.</p> <p>Kết luận: Mức tương đồng giữa cTNM và pTNM thấp. Cần phối hợp thêm các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, MRI hoặc CT scan để nâng cao độ chính xác của đánh giá giai đoạn lâm sàng.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.07">Liên kết bài viết</a></p>Lê Thị Thùy NgânLê Hồng NgânTrương Thị Ánh LinhTrần Thị Bích DânLưu Thị Thu ThảoĐặng Trần QuânHồ Phạm Thục Lan
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Tổn thương gan liên quan đến nhiễm khuẩn huyết: Tỉ lệ, kết cục và các yếu tố liên quan
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141266
<p>Mục tiêu: Xác định tỉ lệ, kết cục và các yếu tố liên quan của tổn thương gan liên quan đến nhiễm khuẩn huyết (SALI) ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nhập ICU.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát hồi cứu trên bệnh nhân ≥18 tuổi nhiễm khuẩn huyết theo Sepsis-3 tại khoa Hồi sức cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy, từ 9/2023–11/2024. SALI được xác định khi aminotransferase >2 lần giới hạn trên bình thường (>80U/L) và/hoặc bilirubin toàn phần ≥2 mg/dL. Các yếu tố liên quan được xác định bằng hồi quy logistic đa biến.</p> <p>Kết quả: Trong 219 bệnh nhân (tuổi trung vị 63, nam 49,3%), tỉ lệ sốc nhiễm khuẩn 71,2% và tử vong nội viện 32,4%. 122 bệnh nhân (55,7%) có SALI, trong đó thể tăng men gan phổ biến nhất. SALI không liên quan với tử vong nội viện, nhưng thể viêm gan thiếu oxy liên quan độc lập với tử vong (OR 3,01; KTC95%: 1,12–8,31; p=0,029). Các yếu tố liên quan với SALI gồm tuổi, giảm tiểu cầu, lactate máu cao và liều vận mạch cao.</p> <p>Kết luận: Tổn thương gan liên quan nhiễm khuẩn huyết thường gặp, chủ yếu là thể tăng men gan. Thể viêm gan thiếu oxy là yếu tố tiên lượng tử vong. Lactate máu cao, giảm tiểu cầu và liều vận mạch cao là yếu tố liên quan đến SALI.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.08">Liên kết bài viết</a></p>Huỳnh Quang ĐạiNguyễn Mạnh TuấnKiều Trung HiếuTrần Quang HuyNguyễn Ngọc TúNguyễn Vinh AnhNguyễn Kim HươngPhạm Thị Ngọc Thảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Mối liên quan giữa tính an toàn phẫu thuật, tính thẩm mỹ, sự hài lòng với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư tuyến giáp biệt hoá giai đoạn sớm sau phẫu thuật nội soi ngả tiền đình miệng và mổ mở
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141268
<p>Đặt vấn đề: Ung thư tuyến giáp (UTTG) là ung thư nội tiết thường gặp nhất, trong đó thể biệt hoá giai đoạn sớm chiếm đa số và có tiên lượng tốt nếu được điều trị kịp thời. Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu. Phẫu thuật mổ mở tuyến giáp mang lại hiệu quả cao về mặt ung thư học nhưng để lại sẹo vùng cổ, có thể ảnh hưởng đến thẩm mỹ, sự hài lòng và chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh, đặc biệt ở phụ nữ và người trẻ tuổi. Phẫu thuật nội soi cắt tuyến giáp qua ngả tiền đình miệng (Transoral Endoscopic Thyroidectomy Vestibular Approach – TOETVA) là kỹ thuật không để lại sẹo vùng cổ, giúp cải thiện thẩm mỹ trong khi vẫn đảm bảo kết quả ung thư học tương đương phẫu thuật mổ mở. Tuy nhiên, tại Việt Nam, mối liên quan giữa tính an toàn phẫu thuật với thẩm mỹ, sự hài lòng và CLCS của người bệnh sau TOETVA vẫn chưa được đánh giá đầy đủ.</p> <p>Mục tiêu: Phân tích mối liên quan giữa tính an toàn phẫu thuật, tính thẩm mỹ, sự hài lòng với chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật nội soi tuyến giáp qua ngả tiền đình miệng, có so sánh với nhóm phẫu thuật mở.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu so sánh hai phương pháp phẫu thuật (TOETVA và mổ mở) được thực hiện tại khoa Ngoại Tuyến giáp bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh, với phương pháp chọn mẫu thuận tiện.</p> <p>Kết quả: Ở nhóm phẫu thuật TOETVA, CLCS có tương quan nghịch mức độ trung bình với yếu tố giọng nói (r = -0,438) và tương quan thuận với tính thẩm mỹ (r = 0,357) và sự hài lòng (r = 0,381). Ở nhóm mổ mở, CLCS tương quan nghịch với giọng nói (r = -0,364) và nuốt (r = -0,336). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến xác định hai yếu tố độc lập ảnh hưởng đến CLCS là thời gian nằm viện (tác động nghịch, β = -0,322) và sự hài lòng (tác động thuận, β = 1,411), với mô hình phù hợp ở mức R = 0,658; R² = 0,433; Durbin–Watson = 2,299; p <0,001.</p> <p>Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao sự an toàn phẫu thuật cùng với trải nghiệm thẩm mỹ và sự hài lòng của người bệnh là yếu tố quan trọng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật tuyến giáp, đặc biệt với kỹ thuật TOETVA.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.09">Liên kết bài viết</a></p>Huỳnh Ngọc Phương QuếPhạm Huỳnh Anh TúNguyễn Phan Ngọc Thanh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Nhận thức về năng lực chăm sóc của người thân trong gia đình người bệnh sau đột quỵ điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141279
<p>Đặt vấn đề: Người bệnh (NB) sau đột quỵ (ĐQ) thường đối mặt với hạn chế về vận động và nhận thức, dẫn đến phụ thuộc nhiều vào người chăm sóc (NCS) trong gia đình. Nhận thức về năng lực chăm sóc của NCS có vai trò quan trọng trong đảm bảo an toàn NB, duy trì điều trị và hỗ trợ phục hồi. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu mô tả sự thay đổi nhận thức của NCS theo thời gian sau khi NB bị ĐQ.</p> <p>Mục tiêu: So sánh điểm nhận thức về năng lực chăm sóc của NCS trong gia đình NB tại 5 ngày, 30 ngày và 90 ngày sau ĐQ.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát dọc tiến cứu trên 199 NCS là người thân trong gia đình của NB ĐQ điều trị tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Chợ Rẫy, đủ 18 tuổi trở lên và đồng ý tham gia nghiên cứu, từ 12/2024 đến 06/2025, được phỏng vấn về các đặc điểm cá nhân và nhận thức về năng lực chăm sóc NB tại 3 thời điểm 5 ngày, 30 ngày và 90 ngày sau khi NB bị ĐQ.</p> <p>Kết quả: Điểm nhận thức về năng lực chăm sóc tăng có ý nghĩa thống kê theo thời gian (p <0,01). Điểm tổng trung bình tăng từ 73,68 ± 10,99 điểm (ngày 5) lên 89,47 ± 11,01 điểm (ngày 30), và 101,1 ± 11,03 điểm (ngày 90). Ba lĩnh vực đều cải thiện gồm sự hài lòng với NB, hiệu suất bản thân NCS và hệ quả đối với cá nhân NCS (p <0,01).</p> <p>Kết luận: Nhận thức về năng lực chăm sóc của NCS trong gia đình NB được cải thiện rõ rệt sau ba tháng, phản ánh quá trình thích nghi, tích lũy kinh nghiệm và gia tăng sự tự tin trong vai trò chăm sóc NB ĐQ.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.10">Liên kết bài viết</a></p>Nguyễn Anh TàiNguyễn Trọng NhânTrần Thị ThúyMai Thị Ngọc KiềuNguyễn Thị Thanh TrúcCao Mạnh Hùng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Phân tích xu hướng sử dụng thuốc trong tăng cường điều trị đái tháo đường típ 2 chưa đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết tại một bệnh viện đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141308
<p>Đặt vấn đề: Kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 gặp nhiều khó khăn và cần phối hợp thuốc nhằm tác động đa cơ chế. Trong những năm gần đây, chiến lược quản lý bệnh đái tháo đường típ 2 đã có nhiều sự thay đổi mạnh mẽ về tiếp cận điều trị. Tại các bệnh viện tuyến cơ sở ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng kê đơn và xu hướng thay đổi phác đồ điều trị ở đối tượng bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết.</p> <p>Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi trong sử dụng thuốc hạ đường huyết và cấu trúc phác đồ điều trị sau 1 năm ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 chưa đạt mục tiêu HbA1c tại một bệnh viện đa khoa ở Thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 415 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 ngoại trú có HbA1c ban đầu ≥ 7%. Dữ liệu được trích xuất từ hồ sơ bệnh án điện tử tại hai thời điểm: ban đầu (T0) và sau 1 năm (T1). Thời gian thu thập số liệu từ tháng 3/2025 đến tháng 9/2025, dựa trên dữ liệu bệnh nhân quản lý trong giai đoạn 2023-2024 tại bệnh viện Lê Văn Thịnh. Phép kiểm Wilcoxon được sử dụng để so sánh hai trung vị, phép kiểm McNemar để so sánh hai hay nhiều tỷ lệ.</p> <p>Kết quả: Thời gian theo dõi trung vị là 10,5 tháng. HbA1c trung vị giảm nhẹ từ 8,2% (7,5–9,2) xuống 8,0% (7,2–9,2). Tỷ lệ sử dụng metformin duy trì rất cao (91,8% tại T0 và 94,0% tại T1). Nhóm sulfonylurea còn được dùng phổ biến nhưng giảm nhẹ (70,3% xuống 67,0%), trong khi ức chế men DPP‑4 tăng mạnh từ 42,5% lên 75,9%. Nhóm SGLT2i tăng từ 1,6% lên 8,9%, trong khi nhóm GLP‑1 RA không được kê ở cả hai thời điểm. Tỷ lệ bệnh nhân dùng phối hợp 3 thuốc uống tăng từ 25,6% lên 41,7%, và phối hợp 3 thuốc uống kèm insulin cũng tăng, phản ánh xu hướng tăng cường điều trị.</p> <p>Kết luận: Cấu trúc phác đồ điều trị có xu hướng ngày càng nhiều thuốc hơn, với tỷ lệ phối hợp từ 3 thuốc trở lên tăng rõ rệt, phản ánh nhu cầu tăng cường điều trị ở nhóm bệnh nhân chưa đạt mục tiêu kiểm soát đường huyết. Tăng cường phối hợp thuốc làm cải thiện HbA1c có ý nghĩa mặc dù không đạt được mục tiêu kiểm soát trong điều trị. Do đó, tăng cường phối hợp thuốc đa cơ chế có thể góp phần tăng cường kiểm soát đường huyết ngoài việc tuân thủ chế độ ăn uống và vận động.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.11">Liên kết bài viết</a></p>Trần Doãn Minh TuấnLiêu Thị Trúc ThanhChâu Thị Yến TrinhNguyễn Thị MiềnLê Thị Bích Nhi
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Mối liên quan giữa suy yếu và các biến cố ngắn hạn ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141309
<p>Đặt vấn đề: Việc kiểm soát huyết áp ở người cao tuổi thường gặp nhiều thách thức do sự hiện diện của hội chứng suy yếu. Đây là yếu tố nguy cơ độc lập không chỉ cản trở việc đạt mục tiêu huyết áp mà còn liên quan mật thiết đến sự gia tăng các biến cố bất lợi nghiêm trọng.</p> <p>Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ suy yếu ở bệnh nhân (BN) cao tuổi tăng huyết áp (THA) và (2) Khảo sát mối liên quan giữa suy yếu và các biến cố ngắn hạn (trầm cảm, té ngã, chóng mặt, hạ huyết áp tư thế) ở đối tượng này.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trên BN THA ≥ 60 tuổi điều trị ngoại trú tại bệnh viện Thống Nhất. Suy yếu được đánh giá bằng thang điểm Edmonton Frail Scale (EFS). Cỡ mẫu được tính toán dựa trên mục tiêu lớn nhất là n=328. Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26, sử dụng kiểm định Chi bình phương/Fisher và hồi quy logistic đa biến.</p> <p>Kết quả: Nghiên cứu gồm 357 BN, tuổi trung bình 73 ± 8. Tỷ lệ suy yếu theo EFS là 23,2%. Các biến cố ngắn hạn ghi nhận gồm: Chóng mặt (52,6%), Té ngã (32,5%), Hạ huyết áp tư thế (14,9%). Suy yếu làm tăng nguy cơ trầm cảm (OR = 9,61; p <0,001) và các tác dụng phụ của thuốc (OR = 2,51; p <0,001). Phân tích hồi quy đa biến cho thấy suy yếu là yếu tố nguy cơ độc lập (AOR = 2,86; KTC 95%: 1,58 – 5,17) đối với các tác dụng phụ sau khi hiệu chỉnh.</p> <p>Kết luận: Tỷ lệ suy yếu ở BN cao tuổi THA khá cao (23,2%). Suy yếu có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc gia tăng nguy cơ trầm cảm và các biến cố bất lợi ngắn hạn.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.12">Liên kết bài viết</a></p>Nguyễn Văn TânHuỳnh Trung Quốc HiếuBàng Ái ViênTrần Quốc Thảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Giá trị chẩn đoán của chỉ số LDH/ADA dịch màng phổi trong tràn dịch màng phổi do lao
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141310
<p>Đặt vấn đề: Tràn dịch màng phổi (TDMP) là một trong những thể lao ngoài phổi phổ biến, song việc chẩn đoán xác định còn gặp nhiều khó khăn do các xét nghiệm vi sinh có độ nhạy thấp. Các chỉ số sinh hóa, đặc biệt là tỷ số LDH/ADA dịch màng phổi có giá trị trong hỗ trợ chẩn đoán.</p> <p>Mục tiêu: Xác định giá trị chẩn đoán của tỷ số LDH/ADA DMP trong TDMP do lao.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, bệnh–chứng trên 79 bệnh nhân TDMP nhập viện tại Khoa Nội hô hấp bệnh viện Quân y 175 (11/2023 – 6/2024). Ngưỡng cắt tối ưu của tỷ số LDH/ADA được xác định bằng đường cong ROC.</p> <p>Kết quả: Tỷ số LDH/ADA ở nhóm TDMP do lao (5,8) thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm không do lao (15,9). Diện tích dưới đường cong ROC của tỷ số LDH/ADA đạt AUC = 0,87. Ngưỡng cắt tối ưu LDH/ADA ≤ 8,77 có giá trị chẩn đoán TDMP do lao với độ nhạy 76,9%, độ đặc hiệu 92,5%, giá trị tiên đoán dương 90,9% và giá trị tiên đoán âm 80,4%.</p> <p>Kết luận: Tỷ số LDH/ADA DMP có giá trị tốt trong chẩn đoán TDMP do lao. Việc xác định ngưỡng cắt phù hợp cho từng cơ sở lâm sang và quần thể bệnh nhân là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán, điều trị.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.13">Liên kết bài viết</a></p>Huỳnh Cẩm ThưHà Mạnh TuấnNguyễn Hải Công
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Khảo sát nhận thức của sinh viên Điều dưỡng đối với kỳ thi thực hành lâm sàng OSCE tại một trường Điều dưỡng ở Việt Nam
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141311
<p>Đặt vấn đề: Kỳ thi thực hành lâm sàng theo cấu trúc khách quan (OSCE) là phương pháp đánh giá quan trọng nhằm phản ánh năng lực thực hành lâm sàng của sinh viên Điều dưỡng. Nhận thức đúng về OSCE giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn, giảm lo lắng và nâng cao hiệu quả thi cử. Do đó, việc khảo sát nhận thức của sinh viên đối với OSCE là cần thiết nhằm hỗ trợ cải tiến hoạt động giảng dạy và đánh giá.</p> <p>Mục tiêu: Khảo sát nhận thức của sinh viên Điều dưỡng về kỳ thi OSCE và mô tả sự khác biệt về nhận thức giữa sinh viên năm 2 và năm 3.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 113 sinh viên Điều dưỡng năm 2 và năm 3 tại một trường Điều dưỡng ở Việt Nam từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2022. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự báo cáo gồm 18 mục, đánh giá nhận thức của sinh viên trước, trong và sau kỳ thi OSCE, sử dụng thang đo Likert 4 mức.</p> <p>Kết quả: Mức độ nhận thức chung của sinh viên về kỳ thi OSCE ở mức khá, với điểm trung bình là 3,18 ± 0,65. Sinh viên năm 3 có điểm nhận thức trung bình cao hơn sinh viên năm 2 (3,21 ± 0,70 so với 3,16 ± 0,60), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p >0,05). Một số nội dung liên quan đến sự chuẩn bị, trải nghiệm và mức độ tự tin trong kỳ thi OSCE ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm (p <0,05). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức theo giới tính, tôn giáo, nơi cư trú và phương thức trúng tuyển.</p> <p>Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng cường các hoạt động hướng dẫn và hỗ trợ là cần thiết nhằm nâng cao nhận thức và sự tự tin của sinh viên Điều dưỡng khi tham gia kỳ thi thực hành lâm sàng theo cấu trúc khách quan (OSCE).</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.14">Liên kết bài viết</a></p>Bùi Thị Bảo Ngọc
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Nhiễm khuẩn đường tiết niệu và kháng kháng sinh tại khoa Tiết niệu, bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2024
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141313
<p>Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là nhiễm khuẩn thường gặp ở bệnh nhân nội trú, với tình trạng kháng kháng sinh ngày càng gia tăng, gây thách thức lớn trong điều trị tại các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện tuyến cuối.</p> <p>Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN), các yếu tố liên quan và tình trạng kháng kháng sinh tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TPHCM) năm 2024.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu 390 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nội trú ≥18 tuổi tại khoa Tiết niệu, BV ĐHYD TPHCM (01 – 12/2024). Mẫu được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống từ 1041 hồ sơ bệnh án điện tử, gồm thông tin nhân khẩu học, bệnh lý nền, tiền căn, kết quả vi sinh và kháng sinh đồ. Hồi quy logistic đơn biến và đa biến được dùng để xác định các yếu tố liên quan đến NKĐTN, với ngưỡng ý nghĩa thống kê khi p <0,05.</p> <p>Kết quả: Tỷ lệ NKĐTN trên bệnh nhân nội trú lại khoa Tiết niệu là 28,2%. Giới nữ (OR = 1,86; KTC 95%: 1,11 – 3,09), bệnh thận (OR = 2,04; KTC 95%: 1,12 – 3,72), tắc nghẽn đường tiết niệu (OR = 9,57; KTC 95%: 3,04 – 30,15), tiền căn NKĐTN (OR = 2,81; KTC 95%: 1,55 – 5,09) và tiền căn phẫu thuật thận–niệu (OR = 3,16; KTC 95%: 1,83 – 5,48) có số chênh NKĐTN cao hơn; trong khi sử dụng ống thông tiểu có số chênh NKĐTN thấp hơn. Vi khuẩn Gram âm chiếm 84%, chủ yếu là Escherichia coli (52%). Các vi khuẩn kháng cao với các nhóm kháng sinh Cephalosporin và Fluoroquinolone, còn nhạy với Carbapenem và Fosfomycin.</p> <p>Kết luận: NKĐTN vẫn phổ biến với tình trạng kháng thuốc đáng lo ngại. Việc nhận diện yếu tố nguy cơ và gợi ý xu hướng đề kháng giúp định hướng sử dụng kháng sinh hợp lý.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.15">Liên kết bài viết</a></p>Huỳnh Vân NhiHuỳnh Ngọc Vân AnhNguyễn Văn ÂnTô Gia Kiên
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Nghiên cứu chỉ định và tính an toàn của nội soi tán sỏi niệu quản hai bên đồng thời tại bệnh viện Bình Dân
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141314
<p>Đặt vấn đề: Sỏi đường tiết niệu là bệnh lý khá phổ biến, trong đó sỏi đường tiết niệu hai bên chiếm tỷ lệ khoảng 15%. Tiếp cận một bệnh nhân có sỏi niệu quản hai bên, lựa chọn can thiệp hai bên đồng thời hay can thiệp lần lượt mỗi bên, đây vẫn là một câu hỏi khó.</p> <p>Mục tiêu: Chỉ định khi thực hiện nội soi tán sỏi niệu quản hai bên đồng thời nhưng vẫn đảm bảo được tính an toàn cho bệnh nhân.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt trường hợp (TH) được thực hiện từ tháng 07/2023 đến tháng 04/2024 tại bệnh viện Bình Dân. Tổng số 70 trường hợp được thực hiện nội soi tán sỏi niệu quản hai bên đồng thời.</p> <p>Kết quả: Nghiên cứu 70 TH gồm 44 TH nam giới (62,9%) và 26 TH nữ giới (37,1%). Tuổi trung bình 50,2 ± 12,6 tuổi. Kích thước sỏi niệu quản trung bình 10,8 ± 4,4 (5 – 22) mm. Thời gian phẫu thuật 41,7 ± 11,9 phút, thời gian nằm viện sau phẫu thuật 2,6 ± 1,5 ngày. Tỷ lệ sạch sỏi sau phẫu thuật 92,9%. Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ghi nhận gồm tổn thương niệu quản PULS I là 10 TH (14,3%), Clavien-Dindo I là 2 TH (2,9%) do sốt sau phẫu thuật, Clavien-Dindo II là 2 TH (2,9%) gồm 1 TH sốt sau phẫu thuật cần nâng bậc kháng sinh điều trị, 1 TH tụ dịch quanh thận sau phẫu thuật. Biến chứng sau phẫu thuật có liên quan đến thời gian phẫu thuật và tình trạng nước tiểu khi tán sỏi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,05).</p> <p>Kết luận: Nội soi tán sỏi niệu quản hai bên đồng thời là phương pháp an toàn, có kết quả tốt nếu chọn lọc bệnh nhân thích hợp, tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu được kiểm soát với kết quả cấy nước tiểu trước phẫu thuật âm tính. Đặc biệt, sỏi niệu quản có kích thước ≤ 15 mm và số lượng sỏi 1 viên mỗi bên niệu quản, thời gian phẫu thuật ≤ 50 phút. Bên cạnh đó, giúp giảm số lượng cuộc phẫu thuật, số lần vô cảm mà bệnh nhân phải trải qua, tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.16">Liên kết bài viết</a></p>Vũ Thiện PhúcĐỗ Anh Toàn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Khảo sát tình trạng khứu giác ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141316
<p>Mục đích: Khảo sát tình trạng rối loạn khứu giác ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT).</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 65 bệnh nhân VMXMT được điều trị tại khoa Tai Mũi Họng, bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), từ tháng 01 đến tháng 08 năm 2025.</p> <p>Kết quả: Trong 65 bệnh nhân VMXMT, tuổi trung bình 46,4 ± 14,0 tuổi, tỷ lệ nữ giới chiếm 56,9 % và tỷ lệ nam giới là 43,1 %. Tỷ lệ bình khứu chiếm 60,0 %, giảm khứu 27,7 %, mất khứu 12,3 %.</p> <p>Kết luận: Trên bệnh nhân VMXMT được đánh giá bằng test Sniffin’ Sticks, rối loạn khứu giác khá phổ biến. Test Sniffin’ Sticks là công cụ khả thi để đánh giá khách quan chức năng khứu giác, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong quá trình chẩn đoán cơ bản về rối loạn chức năng khứu giác.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.17">Liên kết bài viết</a></p>Lý Xuân QuangVõ Hương Duyên
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Khảo sát các hình thái tuyến vú và những yếu tố tác động đến nhu cầu thẩm mỹ ngực của phụ nữ
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141318
<p>Đặt vấn đề: Hình thái tuyến vú không như mong muốn có ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu thẩm mỹ ngực ở phụ nữ. Nhu cầu này chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm sự không hài lòng về ngoại hình, những bất tiện chức năng trong sinh hoạt hằng ngày, cũng như ảnh hưởng từ xã hội và truyền thông. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu về hình thái tuyến vú và các yếu tố thúc đẩy nhu cầu thẩm mỹ ngực vẫn còn hạn chế.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành trên 100 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên đến khám với nhu cầu thẩm mỹ ngực tại khoa Tạo hình – Thẩm mỹ, bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 3/2024 đến tháng 2/2025. Các dữ liệu về đặc điểm cá nhân, động lực thẩm mỹ và hình thái tuyến vú được thu thập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Thống kê mô tả và các biến định tính được trình bày dưới dạng tần suất và tỷ lệ phần trăm.</p> <p>Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 34,6 ± 6,8, dao động từ 25 đến 48 tuổi. Các hình thái tuyến vú thường gặp nhất gồm vú nhỏ (73%) và vú không cân đối hai bên (60%), quầng vú to (25%), vú xệ (24%). Trong các yếu tố thúc đẩy nhu cầu thẩm mỹ ngực, không hài lòng về bản thân là yếu tố thường gặp nhất (54%), xuất hiện ở hầu hết các hình thái vú. Mong muốn giữ vẻ trẻ trung (49%) và mong muốn hoàn thiện hình thể (45%) cũng là những yếu tố phổ biến. Các yếu tố liên quan đến công việc, truyền thông xã hội và ý kiến của bạn bè, gia đình chiếm tỷ lệ thấp.</p> <p>Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu thẩm mỹ ngực ở phụ nữ chủ yếu xuất phát từ mong muốn cá nhân nhằm cải thiện ngoại hình và tăng sự tự tin, hơn là do tác động của các yếu tố xã hội bên ngoài. Vú nhỏ và vú không cân đối là hai hình thái tuyến vú phổ biến nhất trong nhóm đối tượng được khảo sát.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.18">Liên kết bài viết</a></p>Trần Ngọc LĩnhVũ Hữu ThịnhNguyễn Mạnh ĐônNguyễn Thái Thùy DươngTrương Thị Tú Anh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Kỹ năng đánh giá thể chất trong thực hành lâm sàng của sinh viên Điều dưỡng Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và các yếu tố liên quan
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141320
<p>Đặt vấn đề: Kỹ năng đánh giá thể chất (KNĐGTC) là nền tảng trong chăm sóc điều dưỡng toàn diện, giúp phát hiện sớm bất thường và hỗ trợ quyết định lâm sàng. Mặc dù đã được tích hợp trong chương trình đào tạo, mức độ áp dụng kỹ năng này của sinh viên điều dưỡng trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam vẫn chưa được khảo sát đầy đủ. Việc nhận diện thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng sẽ góp phần định hướng cải tiến đào tạo và nâng cao năng lực thực hành.</p> <p>Mục tiêu: Xác định điểm trung bình áp dụng kỹ năng đánh giá thể chất của sinh viên Điều dưỡng trong thực hành lâm sàng và các yếu tố liên quan.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 112 sinh viên Điều dưỡng năm 3 và năm 4 tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 03 – 07/2023. Dữ liệu được thu thập dựa trên bộ câu hỏi “Physical Assessment Skills Used by Registered Nurses” để khảo sát mức độ áp dụng kỹ năng đánh giá thể chất, gồm 70 mục đánh giá theo thang Likert 6 mức (0–5).</p> <p>Kết quả: Điểm trung bình KNĐGTC là 237,34 ± 64,37 (Thang 0–350). Sinh viên thường xuyên thực hiện các kỹ năng cơ bản (xác định người bệnh, đo dấu sinh hiệu), trong khi các kỹ năng chuyên biệt (khám màng nhĩ, đo áp lực tĩnh mạch cổ ngoài (JVP), khám vú) ít được áp dụng. Có khác biệt theo giới (nữ cao hơn nam; p = 0,001).</p> <p>Kết luận: KNĐGTC của sinh viên điều dưỡng còn chưa đồng đều; cần tăng cường rèn luyện có giám sát đặc biệt là các kỹ năng chuyên biệt và khuyến khích tự học để nâng cao năng lực thực hành.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.19">Liên kết bài viết</a></p>Phạm Thị Kiều NgaChu Thị LoanHuỳnh Thụy Phương Hồng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Đặc điểm lâm sàng và diễn tiến điều trị dự phòng tái hoạt siêu vi viêm gan B ở bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế miễn dịch
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141323
<p>Đặt vấn đề: Tái hoạt siêu vi viêm gan B (HBV) là biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân nhiễm HBV điều trị ức chế miễn dịch (UCMD).</p> <p>Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và diễn tiến điều trị dự phòng tái hoạt HBV ở bệnh nhân điều trị UCMD.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca ở bệnh nhân người lớn có HBsAg dương hoặc anti-HBc dương điều trị dự phòng tái hoạt HBV tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p>Kết quả: 151 bệnh nhân tuyển vào nghiên cứu, tuổi trung vị là 60, nữ 54,3%. 72,8% có HBsAg âm, anti-HBc dương. Ung thư là chỉ định UCMD nhiều nhất (80,8%). Tenofovir là thuốc đồng vận nucleot(s)ide (NA) sử dụng 97,4%. 4 trường hợp tái hoạt HBV do điều trị UCMD trước điều trị tái hoạt với NA. 147 bệnh nhân điều trị dự phòng, 1 trường hợp tái hoạt HBV do ngưng NA, không có trường hợp suy gan cấp hay tử vong. Tỷ lệ viêm gan là 55,6%, 17,2% bệnh nhân hoãn UCMD do viêm gan.</p> <p>Kết luận: Điều trị dự phòng bằng NA có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa tái hoạt HBV. Viêm gan là biến chứng thường gặp, có thể do viêm gan do thuốc hơn là thất bại điều trị dự phòng. Cần sàng lọc toàn diện và quản lý theo nguy cơ tái hoạt HBV ở bệnh nhân sử dụng UCMD.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.20">Liên kết bài viết</a></p>Phạm Đình DuyNguyễn Thị Cẩm HườngHuỳnh Thị Kim Hồng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Khảo sát đặc điểm huyết đồ ở trẻ em có bệnh lý hô hấp tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141325
<p>Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thiếu máu, tăng/giảm số lượng bạch cầu (SLBC) và tăng/giảm số lượng tiểu cầu (SLTC) ở trẻ em mắc các bệnh lý đường hô hấp tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và so sánh tỉ lệ này giữa nhóm lao phổi và nhóm bệnh lý đường hô hấp không do lao.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 bệnh nhi (dưới 16 tuổi) được chẩn đoán có ít nhất một bệnh lý hô hấp và có kết quả công thức máu (CTM) lúc nhập viện tại khoa Nhi bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, từ tháng 02/2024 đến hết tháng 05/2024.</p> <p>Kết quả: Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới (59,2% so với 40,8%). Tuổi trung vị là 94,5 tháng (IQR: 29,0 – 164,8). Hai nhóm bệnh chính là lao phổi (45%) và bệnh hô hấp khác (55%, chủ yếu là viêm phổi). Tỉ lệ thiếu máu chung là 46,9%. Tỉ lệ này ở nhóm lao phổi là 68,2%, cao hơn đáng kể so với nhóm bệnh hô hấp khác là 29,6% (p <0,001). Trẻ em mắc lao phổi có nguy cơ thiếu máu gấp 5,09 lần so với trẻ mắc bệnh hô hấp khác. Tỉ lệ tăng và giảm SLBC lần lượt là 45,9% và 8,2%. Tỉ lệ tăng và giảm SLTC lần lượt là 36,7% và 6,2%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ tăng/giảm SLBC và SLTC giữa hai nhóm bệnh (p >0,05). Các chỉ số khác: Giá trị trung bình của chỉ số hemoglobin (HGB) và dung tích HC (HCT), và giá trị trung vị của số lượng hồng cầu (SLHC) ở nhóm lao phổi thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm bệnh hô hấp khác (p <0,05). Tỉ lệ giảm thể tích HC trung bình (MCV) và tỉ lệ giảm lượng Hb trung bình trong một HC (MCH) là tương tự nhau giữa hai nhóm thiếu máu (p >0,05). Loại BC ưu thế ở nhóm tăng BC: BCĐNTT ưu thế chiếm 77,8%, BC lympho ưu thế chiếm 8,9%.</p> <p>Kết luận: Trẻ em mắc lao phổi có tỉ lệ thiếu máu cao hơn đáng kể so với trẻ mắc bệnh lý hô hấp khác. Các chỉ số HGB, HCT và SLHC cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm lao phổi. Không có sự khác biệt về tăng/giảm SLBC, SLTC, MCV và MCH giữa hai nhóm.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.21">Liên kết bài viết</a></p>Lê Huỳnh ĐứcHuỳnh Minh SangLê Văn CátTrần Hoàng KimLâm Kim KhánhTrương Ngọc Trung NhânBế Thị Thùy TrinhDanh Sĩ TrìnhHuỳnh Anh Tuấn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Mô hình kháng thuốc và kết quả điều trị Helicobacter pylori ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Thành phố
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141564
<p>Đặt vấn đề: Kháng kháng sinh Helicobacter pylori (H. pylori) ngày càng gia tăng làm giảm hiệu quả điều trị.</p> <p>Mục tiêu: Nghiên cứu xác định mô hình kháng thuốc và kết quả điều trị nhiễm H. pylori ở trẻ em tại bệnh viện Nhi đồng Thành phố.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tổng cộng 157 trẻ có triệu chứng tiêu hóa được nội soi dạ dày (10/2019-05/2021). Sinh thiết dạ dày để cấy H. pylori, test urease nhanh, mô học và PCR gen ureA. Kháng sinh đồ với clarithromycin (CLA), metronidazole (MET), amoxicillin (AMO), levofloxacin (LEV) và tetracycline (TET) xác định bằng E-test. Chẩn đoán và điều trị theo hướng dẫn của phác đồ bệnh viện. Đánh giá tiệt trừ H. pylori bằng xét nghiệm kháng nguyên đơn dòng trong phân.</p> <p>Kết quả: Tỷ lệ nhiễm H. pylori là 78%, và 17% có loét dạ dày tá tràng. Năm mươi ba trẻ được điều trị theo kháng sinh đồ, và 56 trẻ theo kinh nghiệm. CLA có tỷ lệ kháng cao nhất (74%), tiếp theo là LEV (55%), MET (42%) và AMO (21%); không phát hiện kháng TET. Mô hình kháng thuốc gồm kháng đơn (15,1%), kháng kép (28,3%), kháng ba (24,5%) và kháng bốn thuốc (11,3%). Dị kháng MET gặp ở 2 ca. Tỷ lệ tiệt trừ đạt 59% với điều trị theo kinh nghiệm và 63% theo kháng sinh đồ.</p> <p>Kết luận: Kháng kháng sinh H. pylori ở trẻ em đáng báo động, đặc biệt với CLA và LEV, làm giảm hiệu quả điều trị. Việc xây dựng chiến lược tiệt trừ dựa trên kháng sinh đồ và giám sát kháng thuốc định kỳ là cần thiết nhằm tối ưu hóa điều trị và hạn chế thất bại tiệt trừ H. pylori.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.22">Liên kết bài viết</a></p>Nguyễn Cẩm TúNguyễn Ngọc Vân Phương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Trải nghiệm của sinh viên cử nhân điều dưỡng về phương pháp học đảo chiều kết hợp hướng dẫn đồng đẳng trong học phần Hồi sức Cấp cứu tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141566
<p>Đặt vấn đề: Phương pháp lớp học đảo chiều và giảng dạy đồng đẳng được chứng minh có tiềm năng cải thiện kết quả học tập trong đào tạo điều dưỡng. Tuy nhiên, bằng chứng tại Việt Nam, đặc biệt trong các học phần chuyên sâu như Hồi sức - Cấp cứu, vẫn còn hạn chế.</p> <p>Mục tiêu: Tìm hiểu cảm nhận của sinh viên cử nhân điều dưỡng về phương pháp lớp học đảo chiều kết hợp giảng dạy đồng đẳng trong học phần Hồi sức Cấp cứu tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.</p> <p>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định tính được thực hiện trên 22 sinh viên điều dưỡng năm 4 tham gia đầy đủ học phần Hồi sức Cấp cứu năm học 2025–2026. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sâu cá nhân bằng bảng hỏi bán cấu trúc, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 60 phút. Dữ liệu được phân tích theo thuyết kiến tạo với quy trình mã hóa của Charmaz, tập trung vào bốn nhóm khái niệm: kiến tạo nhận thức, đồng kiến tạo kiến thức, hỗ trợ kiến tạo và kiến tạo học tập.</p> <p>Kết quả: Tuổi trung bình của sinh viên là 21,14 ± 0,47; đa số là nữ (81,82%). Phân tích dữ liệu cho thấy mô hình học tập này kích hoạt mạnh mẽ sự tham gia nhận thức, thúc đẩy tự học và trách nhiệm giải trình, tăng cường tương tác học tập ngang hàng, đồng thời làm nổi bật vai trò neo đỡ của giảng viên. Trải nghiệm đảm nhận vai trò “người dạy” giúp sinh viên phát triển sự tự tin, tư duy phản biện và bản sắc học tập kiến tạo.</p> <p>Kết luận: Lớp học đảo chiều kết hợp giảng dạy đồng đẳng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình kiến tạo tri thức và hình thành bản sắc học tập của sinh viên điều dưỡng trong học phần Hồi sức Cấp cứu. Việc triển khai cần được thiết kế phù hợp với bối cảnh đào tạo và văn hóa học đường tại Việt Nam.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.23">Liên kết bài viết</a></p>Huỳnh Thụy Phương HồngChu Thị LoanLiêu Ngọc LiênLê Ngọc Tuyết
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Stent kim loại phủ silicone trong điều trị tắc nghẽn nặng đường dẫn khí trung tâm do ung thư trung thất
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141567
<p>Tắc nghẽn đường dẫn khí trung tâm do nguyên nhân ác tính là một bệnh cảnh nặng, có thể đe dọa tính mạng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 79 tuổi, hẹp nặng đoạn 1/3 trên khí quản do u trung thất chèn ép và xâm lấn. Bệnh nhân được nội soi phế quản ống cứng đặt stent kim loại phủ silicone (stent “lai”) thành công, giúp tái thông đường dẫn khí ngay lập tức. Ca lâm sàng này minh họa rõ hiệu quả của stent kim loại phủ silicone (stent “lai”) như một phương pháp điều trị giảm nhẹ trong quản lý tắc nghẽn đường dẫn khí trung tâm do nguyên nhân ác tính.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.24">Liên kết bài viết</a></p>Ngô Anh TrungNguyễn Hoàng Linh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292Bất sản túi mật trên bệnh nhi nang ống mật chủ
https://vjol.info.vn/Yhcm_yhoc/article/view/141568
<p>Đặt vấn đề: Bất sản túi mật là một dị tật hiếm gặp, đặc biệt hiếm khi phối hợp với nang ống mật chủ. Số lượng các báo cáo quốc tế rất hạn chế, chủ yếu ở người lớn dưới dạng ca lâm sàng. Chúng tôi chưa ghi nhận báo cáo nào trong nước về dị tật phối hợp này ở cả người lớn và trẻ em.</p> <p>Ca lâm sàng: Bệnh nhi nam 13 tuổi, khám vì đau bụng và phát hiện nang ống mật chủ trên siêu âm bụng. khám bụng mềm, không điểm đau, không vàng da. Bilirubin toàn phần, trực tiếp, AST, ALT, GGT, Amylase, Lipase trong giới hạn bình thường. Cộng hưởng từ mật tụy ghi nhận: ống mật chủ dãn 12 mm (loai Ic theo Todani), không thấy túi mật. Trẻ được phẫu thuật điều trị nang ống mật chủ. Trong mổ ghi nhận túi mật và ống túi mật bất sản. Đường mật dãn được cắt ở dưới nơi hợp lưu các ống gan và nối với hỗng tràng theo Roux-en-Y. Hậu phẫu diễn tiến thuận lợi, bệnh nhi xuất viện sau 6 ngày.</p> <p>Kết luận: Dị tật phối hợp bất sản túi mật và nang ống mật chủ cực kì hiếm gặp. Không có ống túi mật làm mốc giải phẫu, cần chú ý khi bốc tách và cắt nang tại vị trí phù hợp nhằm tránh tổn thương đường mật và thuận lợi cho việc tái lập lưu thông mật ruột.</p> <p><a href="https://doi.org/10.32895/hcjm.m.2026.02.25">Liên kết bài viết</a></p>Trần Thanh TríHồ Phi DuyTrịnh Nguyễn Hạ ViPhan Tuấn KiệtLưu Nguyễn An Thuận
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
2026-02-022026-02-02292