https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/issue/feedTạp chí Khoa học Đại học Công Thương 2026-03-17T01:56:22+07:00Open Journal Systems<p><strong>Trường Đại học Công Thương Tp. Hồ Chí Minh<br></strong></p>https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134722NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP TRÍCH LY THU NHẬN CHLOROPHYLL TỪ RONG Ceratophyllum submersum2026-03-16T10:30:14+07:00Lê Thị Hồng Ánhanhlth@huit.edu.vnTrần Việt Hưnganhlth@huit.edu.vnHoàng Thị Ngọc Nhơnanhlth@huit.edu.vn<p>Nghiên cứu này hướng đến thu nhận hàm lượng chlorophyll tổng từ rong <em>Ceratophyllum submersum</em> L. bằng ba phương pháp chiết xuất, bao gồm chiết xuất ngâm tĩnh, chiết xuất có sự hỗ trợ của vi sóng và sóng siêu âm. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh ba phương pháp chiết xuất trong việc thu chlorophyll từ <em>C. submersum</em>. Đối với phương pháp ngâm tĩnh với dung môi ethanol có nồng độ 80% ở nhiệt độ 50 ℃ trong thời gian 4 giờ thu được hàm lượng chlorophyll là 0,176 mg/g<sub>ck</sub>. Phương pháp chiết xuất có sự hỗ trợ của vi sóng với tỷ lệ nguyên liệu và dung môi là 1/30 w/v, công suất 360 W và thời gian 5 phút, hàm lượng chlorophyll thu được là 0,181 mg/g<sub>ck</sub>. Phương pháp chiết xuất có sự hỗ trợ của sóng siêu âm với công suất 262,5 W trong 20 phút cho hàm lượng chlorophyll là 0,147 mg/g<sub>ck</sub>. Như vậy, phương pháp chiết xuất bằng vi sóng hiệu quả cao so với hai phương pháp ngâm tĩnh và siêu âm.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134725NGHIÊN CỨU TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HOÁ CỦA DỊCH ÉP SƠ RI BẰNG PHƯƠNG PHÁP CÔ ĐẶC LẠNH ĐÔNG VÀ NHŨ HOÁ2026-03-16T10:30:17+07:00Đặng Thị Yếnkhachantuyen@hcmuaf.edu.vnTrần Hiếukhachantuyen@hcmuaf.edu.vnDương Thị Ngọc Diệpkhachantuyen@hcmuaf.edu.vnKha Chấn Tuyềnkhachantuyen@hcmuaf.edu.vn<p>Trái sơ ri (<em>Malpighia emarginata</em> DC.) là một trong những nguồn cung cấp vitamin C và các hợp chất có hoạt tính sinh học tự nhiên tốt nhất. Việc cô đặc và hình thành nhũ tương nước trong dầu (W/O) chứa dịch ép sơ ri giúp nâng cao khả năng ứng dụng và đa dạng hóa sản phẩm thực phẩm. Phương pháp cô đặc lạnh đông và nhũ hóa tự phát đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Số giai đoạn cô đặc và thời gian đông lạnh phù hợp cho từng giai đoạn đã được khảo sát. Các yếu tố ảnh hưởng đến đặc tính nhũ tương như tỉ lệ chất nhũ hóa, tỉ lệ dịch cô đặc và tốc độ khuấy đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy quá trình cô đặc lạnh đông được tiến hành trong 3 giai đoạn với thời gian đông lạnh tương ứng từng giai đoạn là 24 giờ, 36 giờ và 60 giờ thích hợp để cô đặc dịch ép trái sơ ri tươi. Nhũ tương W/O được tạo từ 40% dịch cô đặc và 10% polyglycerol polyricinoleate (PGPR) trong pha dầu, khuấy ở tốc độ 700 rpm trong 15 phút có độ ổn định cao với độ nhớt là 39,44 ± 0,58 mPas. Hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học như polyphenol tổng, flavonoid tổng, và vitamin C lần lượt 24,28 ± 0,26 mgGAE/g, 33,94 ± 1,84 mgQE/100 g và 34,95 ± 0,74 mgAAE/g. Khả năng chống oxy hóa xác định bằng phương pháp bắt gốc tự do DPPH đạt được 64,83% ± 1,07. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhũ tương W/O chứa dịch ép sơ ri bằng phương pháp cô đặc và nhũ hoá tự phát có tính ổn định và chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học có thể ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134738KHẢO SÁT MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU NHẬN DỊCH CHIẾT GIÀU POLYPHENOL VÀ FLAVONOID TỪ RỄ CÂY QUẢ NỔ (Ruellia tuberosa L.)2026-03-17T01:56:22+07:00Đỗ Mai Nguyên Phươnganhlth@huit.edu.vnHoàng Thị Trúc Quỳnhanhlth@huit.edu.vnLê Thị Hồng Ánhanhlth@huit.edu.vn<p>Cây quả nổ (<em>Ruellia tuberosa </em>L.) là một loài thực vật mọc hoang, thuộc họ Ô Rô (Acanthaceae), chứa các chất có hoạt tính sinh học như phenolic, flavonoid, triterpenoid, lignan, sterol, v.v. Gần như các bộ phận của cây đều sử dụng được và mang lại lợi ích cho sức khỏe con người. Nghiên cứu này nhằm khảo sát nguồn nguyên liệu, quá trình tiền xử lý và quá trình trích ly để thu nhận các hợp chất chống oxy hóa từ rễ cây quả nổ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, rễ cây quả nổ chứa hàm lượng chất khô là 69,22%, độ ẩm là 30,78%, hàm lượng tro 6,79%. Bên cạnh đó, phương pháp tiền xử lý phù hợp là sấy nguyên liệu ở nhiệt độ 60<sup>o</sup>C trong thời gian 4 giờ. Enzyme cellulase sử dụng có nồng độ 0,8% (v/w) và thời gian thủy phân là 60 phút. Điều kiện trích ly với nồng độ ethanol 50%, trong thời gian 40 phút ở nhiệt độ 50<sup>o</sup>C cho kết quả polyphenol tổng (TPC) là 10,2 0,28 (mgGAE/g chất khô) và flavonoid tổng (TFC) là 4,05 0,24 (mgQE/g chất khô). Việc nghiên cứu trích ly thu nhận các chất có hoạt tính sinh học có khả năng chống oxy hóa từ cây quả nổ nhằm cung cấp thêm các thông tin khoa học có giá trị; từ đó giúp cho việc khai thác sử dụng nguồn nguyên liệu trong thực tế phù hợp và có hiệu quả hơn.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134744KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH SẤY PHUN TẠO BỘT MÀU TỰ NHIÊN TỪ LÁ CÂY TAI TƯỢNG ĐỎ2026-03-17T01:55:20+07:00Trần Văn Caoanhnv@huit.edu.vnTrần Thiện Nguyênanhnv@huit.edu.vnLưu Thị Ngọc Duyênanhnv@huit.edu.vnNguyễn Ngọc Minh Ngânanhnv@huit.edu.vnNguyễn Văn Anhanhnv@huit.edu.vn<p>Lá cây tai tượng đỏ <em>(Acalypha wilkesiana)</em> là nguồn giàu anthocyanin và polyphenol có hoạt tính sinh học cao. Tuy nhiên, tiềm năng sử dụng nguyên liệu này trong công nghiệp vẫn chưa được khai thác. Nghiên cứu này nhằm thu nhận các nhóm chất có hoạt tính sinh học bằng hệ dung môi ethanol-nước có hỗ trợ siêu âm và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình sấy phun tạo bột màu tự nhiên. Bột màu sau khi sấy phun được đánh giá các đặc tính hóa lý và hàm lượng anthocyanin, polyphenol. Kết quả chỉ ra rằng, điều kiện tốt nhất để sấy phun bao gồm: hàm lượng maltodextrin bổ sung 10% (so với khối lượng của dịch chiết), nhiệt độ sấy phun 120 <sup>o</sup>C và tốc độ sấy là 360 mL/giờ. Tại điều kiện đó, bột màu thu được có màu đỏ đặc trưng với hiệu suất thu hồi anthocyanin và polyphenol đạt 88,91 và 60,55%. Bột màu thu được chứa hàm lượng polyphenol đạt 36,44 mg GAE/g và anthocyanin 91,23 mg Cy3Glu/100 g, trong đó thành phần chính anthocyanin được xác định là cyanidin-3-O-(2''-galloyl-β-galactopyranoside). Bột màu từ lá cây tai tượng đỏ cần được đánh giá độc tính cấp và mạn, cũng như thử nghiệm trên động vật hoặc tế bào, để làm rõ khả năng ứng dụng trong các ngành công nghiệp như mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134761ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC VÀ NHIỆT ĐỘ SẤY ĐẾN CHẤT LƯỢNG BỘT GỐC MĂNG TÂY (Asparagus officinalis)2026-03-16T10:30:28+07:00Trần Thị Maittttra@hcmut.edu.vnNguyễn Minh Chánhttttra@hcmut.edu.vnNguyễn Đăng Khoattttra@hcmut.edu.vnTrần Thị Thu Tràttttra@hcmut.edu.vn<p>Gốc măng tây có nhiều tiềm năng trong ứng dụng làm thực phẩm. Sấy là phương pháp phổ biến để xử lý gốc măng tây sau thu hoạch. Mục tiêu thực hiện nghiên cứu nhằm khảo sát ảnh hưởng của kích thước nguyên liệu và nhiệt độ sấy đến thời gian và hoạt tính sinh học của bột thu được từ gốc măng tây sau quá trình sấy. Kết quả cho thấy kích thước mẫu ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian sấy, vật liệu có kích thước 2 mm có thời gian sấy nhanh hơn so với kích thước 10 và 50 mm. Ngoài ra, mức nhiệt độ sấy 70 °C thuận lợi cho việc giữ lại cao hơn phenolic và hoạt tính kháng oxy hóa so với nhiệt độ 40-60 °C. Kết quả khảo sát cho thấy bột gốc măng tây ở kích thước 2 mm, nhiệt độ sấy 70 °C, có thời gian sấy ngắn nhất là 3,5 giờ, cho hàm lượng phenolic tổng đạt 11,35 mg acid gallic/g và hoạt tính kháng oxy hóa đạt 4,49 µmol Trolox/g chất khô.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134768NGHIÊN CỨU TẠO BỘT BETACYANIN TỪ CỦ DỀN (Beta vulgaris) BẰNG PHƯƠNG PHÁP SẤY PHUN VÀ ỨNG DỤNG VÀO SẢN PHẨM BÁNH BÔNG LAN 2026-03-16T10:30:30+07:00Đỗ Thị Hiềnhiendt@huit.edu.vnHuỳnh Phan Phương Tranghiendt@huit.edu.vn<p>Nghiên cứu này tiến hành khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo bột betacyanin (trích ly từ củ dền - chất tạo màu cho thực phẩm, có khả năng kháng oxy hóa) và thử nghiệm ứng dụng vào bánh bông lan. Quá trình tạo bột betacyanin được thực hiện bằng kỹ thuật sấy phun với các yếu tố khảo sát: các loại chất mang maltodextrin (MD), gum arabic (GA), MD+GA với nồng độ 15, 20, 25% w/v, nhiệt độ sấy phun 145,155,165,175<sup>o</sup>C, tốc độ nhập liệu 4, 5, 6, 7 mL/phút. Bột betacyanin được ứng dụng thử nghiệm vào bánh bông lan với tỷ lệ bột mì và bột betacyanin 95:05, 90:10, 85:15, 80:20 w/w. Kết quả nghiên cứu cho thấy MD ở nồng độ 20% w/v, nhiệt độ sấy phun 155<sup>o</sup>C, tốc độ nhập liệu 5 mL/phút cho hiệu suất thu hồi, hàm lượng betacyanin và khả năng kháng oxy hóa đạt giá trị cao nhất lần lượt là 79,400%, 63,587 mg/g và 83,443%. Chụp SEM bột betacyanin cho thấy có khả năng tạo hạt hình cầu với số lượng lớn và tương đối đồng đều về kích thước. Chạy phổ FTIR của bột betacyanin có sự xuất hiện 4 đỉnh hấp thu đặc trưng của betacyanin đó là: 3362,53; 1634,03; 1384,38; 1024,32 cm<sup>-1</sup> tương ứng với các nhóm chức -OH, C=O, C=C và vòng thơm. Bánh bông lan có bổ sung betacyanin được đánh giá cảm quan bằng phương pháp so hàng thị hiếu tỷ lệ bổ sung 90:10 w/w là tốt nhất. Nghiên cứu tạo bột betacyanin thành công và có thể ứng dụng vào các sản phẩm khác.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134773KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CỦ SEN MUỐI CHUA TẠI HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG2026-03-16T10:30:33+07:00Huỳnh Văn Quốc Cảnhlb.tuyen@vnkgu.edu.vnLê Bích Tuyềnlb.tuyen@vnkgu.edu.vnDanh Trung Tínhlb.tuyen@vnkgu.edu.vnTrần Thị Tuyết Nhilb.tuyen@vnkgu.edu.vn<p>Nghiên cứu này đánh giá các yếu tố tác động đến chất lượng sản phẩm củ sen muối chua tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang. Các yếu tố khảo sát gồm nhiệt độ và thời gian chần, nồng độ muối ban đầu, nhiệt độ lên men và mật số <em>Lactiplantibacillus plantarum bổ sung ban đầu.</em> Kết quả cho thấy điều kiện chần ở 80 <sup>o</sup>C trong thời gian 30 giây kết hợp với nồng độ muối NaCl 4%, nhiệt độ lên men 30 <sup>o</sup>C với mật số vi khuẩn <em>Lactiplantibacillus plantarum </em>bổ sung vào dịch lên men là 10<sup>7</sup> CFU/g cho sản phẩm có độ cứng và độ sáng tốt, hàm lượng acid sinh ra cao, pH đạt tiêu chuẩn của sản phẩm rau quả muối chua, sản phẩm có chất lượng tốt nhất.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134787TÍNH HÓA LÝ CỦA MÀNG ĂN ĐƯỢC TỪ TINH BỘT KHOAI MÔN OXY HÓA Ở CÁC NỒNG ĐỘ HYDROGEN PEROXIDE KHÁC NHAU2026-03-16T10:30:35+07:00Nguyễn Thị Lươngthuylth@huit.edu.vnVõ Minh Thảothuylth@huit.edu.vnPhạm Thị Khánh Lythuylth@huit.edu.vnTrịnh Thị Hồng Lamthuylth@huit.edu.vnLê Thị Hồng Thúythuylth@huit.edu.vn<p>Nghiên cứu này trình bày kết quả xác định đặc tính hóa lý của màng ăn được từ tinh bột khoai môn oxy hóa (OTS) ở các nồng độ hydrogen peroxide khác nhau. Giá trị mức độ oxy hóa DO tăng từ 1,22 đến 1,59% khi tăng nồng độ hydrogen peroxide từ 1 đến 4%. Phổ FTIR của OTS xuất hiện peak hấp thụ tại 1730 cm<sup>-1</sup>, đặc trưng cho dao động của nhóm C=O, chứng tỏ phản ứng oxy hóa đã xảy ra. Đồng thời diện tích peak này tăng khi OTS có giá trị DO tăng. Vi ảnh SEM bề mặt và mặt cắt ngang của màng ăn được tạo từ OTS có cấu trúc bề mặt mịn, phẳng, đồng nhất, các thành phần phân tán đồng đều, lớp cấu trúc đồng nhất tăng dần theo chiều tăng nồng độ hydrogen peroxide. Độ bền kéo đứt và độ giãn đứt tăng trong khi độ thấm hơi nước lại giảm theo chiều tăng nồng độ hydrogen peroxide.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134788XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐỊNH LƯỢNG FORMALDEHYD TRONG ĐẬU PHỤ BẰNG PHƯƠNG PHÁP UV-VIS 2026-03-16T10:30:37+07:00Đỗ Thị Hằngdthang@bmu.edu.vnVõ Thị Hườngdthang@bmu.edu.vn<p>Đậu phụ là một thực phẩm có lợi cho sức khỏe vì chứa hàm lượng protein cao với giá trị dinh dưỡng tương đương protein có nguồn gốc động vật. Formaldehyd có chức năng như một chất kháng khuẩn, có thể làm chậm hoạt động của vi khuẩn trong thực phẩm chứa nhiều protein và giúp cho thực phẩm bảo quản được lâu, nhưng khi vào cơ thể con người formaldehyd có thể gây đột biến và là yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển của tế bào ung thư. Trong khi đó, Bộ Y tế vẫn chưa ban hành quy trình chuẩn để định lượng formaldehyd trong đậu phụ. Trước thực trạng đó, nghiên cứu được tiến hành nhằm xây dựng quy trình định lượng formaldehyd trong đậu phụ bằng phương pháp UV-Vis nhằm đánh giá formaldehyd trong đậu phụ lưu hành tại phường Quy Nhơn Nam – Gia Lai. Nghiên cứu này được thực hiện vào tháng 7 năm 2023. Trong quá trình phân tích định lượng, các mẫu được đo độ hấp thụ bằng máy quang phổ UV-Vis ở bước sóng 572,0 nm. Kết quả ban đầu các mẫu đều dương tính với hàm lượng 0,88 ppm; 0,79 ppm; 0,83 ppm; 0,94 ppm; 1,06 ppm có nghi ngờ quy trình tạo dương tính giả, nên chúng tôi tiến hành thêm với 7 mẫu có hàm lượng 0,57 ppm; 0,46 ppm; 0,90 ppm; 1,13 ppm; 0,16 ppm; 0,00 ppm; 1,93ppm có 1 mẫu giấy lau trong quá trình làm việc âm tính có thể thấy quy trình không tạo dương tính giả mà khả năng trong đậu tương có formaldehyd nội sinh và chúng tôi tiến hành tiếp tục trên các loại hạt thì tất cả đều dương tính với hàm lượng formaldehyde có độ dao động từ 0,08 ppm - 2,64 ppm.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134789ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DƯ LƯỢNG MỘT SỐ HÓA CHẤT BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG ĐẤT VÀ RAU, CỦ, QUẢ ÁP DỤNG KỸ THUẬT QUECHERS KẾT HỢP GC-MS/MS2026-03-16T10:30:40+07:00Nguyễn Đăng Giáng Châunthong.dhkh25@hueuni.edu.vnNguyễn Trương Nhật Ninthong.dhkh25@hueuni.edu.vnNguyễn Thị Hồngnthong.dhkh25@hueuni.edu.vn<p>Trong nghiên cứu này, hiệu quả của phương pháp phân tích dư lượng một số hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong nền mẫu đất, rau (cải xanh), củ (khoai tây), và quả (cà chua, chanh dây, bí đao) đã được thực hiện theo hướng dẫn đánh giá phương pháp của AOAC và SANTE/ 2019/12682. Các HCBVTV nghiên cứu bao gồm cypermethrin, BHC (alpha), fenpropathrin, heptachlor, ethion, và 4,4’-DDT. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chiết QuEChERS kết hợp với kỹ thuật sắc ký khí nối với khối phổ ba tứ cực (GC-MS/MS) để phân tích. Kết quả cho thấy phương pháp có khoảng tuyến tính rộng từ 10 – 100 µg/L trên ba nền mẫu đại diện là nền mẫu dung môi n-hexane, nền cải xanh, và nền cà chua. Ảnh hưởng nền mẫu thấp (< 20%). Trong mẫu rau củ quả, giới hạn định lượng của các chất nghiên cứu thấp, dao động từ 0,011 – 0,017 mg/kg, trong mẫu đất dao động từ 0,022 – 0,032 mg/kg. Phương pháp phân tích đáp ứng các tiêu chí về độ đúng và độ lặp lại theo chuẩn AOAC, với độ đúng nằm trong khoảng 80–110% và độ lặp lại (RSDr) nhỏ hơn 15%. Phương pháp này có thể được áp dụng để phân tích đồng thời các HCBVTV có tính chất tương tự trong các nền mẫu nông sản và môi trường với độ nhạy và độ chính xác cao.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134793KHẢO SÁT CÁC THÔNG SỐ HÓA-LÝ VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA VI KHUẨN CÓ CHỨA GEN KHÁNG KHÁNG SINH TRONG CÁC MẪU NƯỚC GIẾNG KHOAN TẠI MỘT SỐ XÃ Ở HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE2026-03-16T10:30:43+07:00Lê Quang Duythuyptp@huit.edu.vnPhạm Thị Phương Thùythuyptp@huit.edu.vn<p>Kháng kháng sinh đã trở thành mối quan tâm toàn cầu đối với sức khỏe của con người. Nhiều nghiên cứu trước đây đã xác định sự hiện diện và tỷ lệ của vi khuẩn và gen kháng kháng sinh trong các mẫu nước sinh hoạt, nước mặt, nước thải, v.v. Tuy nhiên, sự hiện diện của vi khuẩn có chứa gen kháng kháng sinh trong nước giếng khoan vẫn chưa được nghiên cứu nhiều. Trong nghiên cứu này, chất lượng nước giếng khoan tại 7 xã thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre được đánh giá sơ bộ dựa trên các yếu tố hóa lý và vi sinh vật. Kết quả phân tích hóa lý cho thấy đa số các mẫu nước giếng đều có tính acid (pH<7) và chỉ có nước giếng ở xã Châu Hưng và xã Phú Thuận đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT với các chỉ tiêu trong khảo sát. Kết quả phân tích vi sinh vật cho thấy tổng số vi khuẩn dị dưỡng hiếu khí trong nước giếng dao động từ 50,0 ± 2,0 CFU/L - 142,3 ± 9,9 CFU/L. Mẫu nước tại vị trí xã Thới Thuận có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất, lần lượt là 27,9%, 28,9%, 11,7%, 21,4% và 19,7% tương ứng với các kháng sinh ampicillin, amoxicillin, cefazolin, penicillin G và tetracycline. Ba chủng vi khuẩn đa kháng đã được định danh gồm <em>Enterobacter cloacae, Bacillus cereus </em>và <em>Pseudomonas aeruginosa</em>. Phân tích cho thấy sự hiện diện của gen <em>bla<sub>TEM</sub></em>, <em>bla<sub>CTX-M </sub></em>và <em>tet<sub>M</sub></em> trong các vi khuẩn phân lập được. Kết quả này bước đầu cho thấy có sự hiện diện của vi khuẩn có chứa gen kháng kháng sinh trong nước giếng, từ đó cung cấp thông tin quan trọng cho việc đánh giá tác động của hiện trạng kháng kháng sinh đối với sức khỏe cộng đồng.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134798ẢNH HƯỞNG CỦA AI ĐẾN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG VIỆC CỦA GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH2026-03-16T10:30:45+07:00Nguyễn Thị Bích Thuỷquyetnx@huit.edu.vnNguyễn Xuân Quyếtquyetnx@huit.edu.vnHồ Thị Hà Vyquyetnx@huit.edu.vnHoàng Hiếu Ngânquyetnx@huit.edu.vn<p>Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) hiện trở lên thường xuyên, hỗ trợ giảng viên nghiên cứu khoa học (NCKH). Tuy nhiên, các trường đại học công lập tại TP.HCM vẫn chưa được xem xét toàn diện và đầy đủ. Nghiên cứu bằng phương pháp định lượng và thực hiện khảo sát 322 giảng viên các trường đại học công lập (giảng viên công lập) tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã ứng dụng AI trong NCKH, kiểm định thang đo Cronbach's alpha, nhân tố khám phá (EFA), phân tích độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút trích (AVE) và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả phân tích cho thấy cả 06 yếu tố đại diện của ứng dụng AI, gồm: Điều kiện hỗ trợ AI (DK); Thói quen trải nghiệm AI (TQ); Kỹ năng sử dụng AI (KN); Chính sách ứng dụng AI(CS); Kỳ vọng ứng dụng AI (KV); Xu thế ứng dụng AI (XT), đều có ảnh hưởng nhiều đến biến NCKH (NC) và Kết quả công việc của giảng viên (KQ). Nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý tăng cường ứng dụng AI trong NCKH, nhằm gia tăng kết quả công việc của giảng viên công lập tại TP.HCM.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134802KHẢO SÁT TÍNH THẨM MỸ VÀ ĐỘ BÁM DÍNH CỦA CÁC LOẠI NAM CHÂM ỨNG DỤNG TRONG MAY TRANG PHỤC2026-03-16T10:30:48+07:00Nguyễn Thị Ngọc Trinhdaotta@huit.edu.vnCao Phương Trâmdaotta@huit.edu.vnTrương Thị Hàdaotta@huit.edu.vnMai Thị Phương Duyêndaotta@huit.edu.vnNgô Hoài Quang Trungdaotta@huit.edu.vnTrần Thị Anh Đàodaotta@huit.edu.vn<p>Nghiên cứu này tìm hiểu tổng quát về nam châm và trình bày cuộc thử nghiệm may 4 loại nam châm đất hiếm có quy cách khác nhau lên 2 loại vải khác nhau (100% cotton và CVC 60/40, kiểu dệt vân điểm, cùng định lượng 180 g/m<sup>2</sup>) để xem xét độ bám dính và tính thẩm mỹ để tìm giải pháp khả thi nhất cho nút áo. Qua khảo sát lấy ý kiến 65 sinh viên ngành công nghệ dệt may, mẫu nút nam châm hình tròn được bọc trong miếng PVC, có độ dày 2 mm (mẫu nam châm số 4) nhận được 88% ý kiến đánh giá là không làm cộm nhăn vải, 90% ý kiến là bám dính tốt, kích thước nam châm cũng khá đa dạng phù hợp nhiều loại nẹp áo (1,5; 1,8 hay 2 cm). Thí nghiệm đo lực kéo cũng cho thấy độ bám dính của nút nam châm số 4 xấp xỉ độ bám dính của nút bấm truyền thống khi may vào vải. Kết quả thí nghiệm không thay đổi nhiều trên 2 loại vải trên. Nghiên cứu đánh giá mẫu nam châm số 4 là một lựa chọn khả thi về mặt thẩm mỹ và độ bám dính để thay thế cho nút áo thông thường. Nghiên cứu này là tiền đề cho thiết kế và may các mẫu trang phục có ứng dụng nam châm cho người cao tuổi gặp khó khăn trong vận động hoặc người cần sự tiện lợi khi thay quần áo.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134808KHAI THÁC TẬP HỮU ÍCH TRUNG BÌNH CAO VỚI RÀNG BUỘC TƯƠNG QUAN2026-03-16T10:30:51+07:00Nguyễn Thị Thanh Thủylenv@huit.edu.vnNguyễn Văn Lễlenv@huit.edu.vnMạnh Thiên Lýlenv@huit.edu.vn<p>Tập hữu ích cao là một trong những khái niệm quan trọng trong bài toán khai thác tập mục. Nhằm khắc phục sự mất cân đối về độ hữu ích giữa các phần tử trong tập mục, khái niệm độ hữu ích trung bình đã được đề xuất. Tuy nhiên, một số tập mục đạt độ hữu ích trung bình cao vẫn tồn tại mức tương quan thấp giữa các phần tử, làm giảm giá trị trong quá trình phân tích kinh doanh. Để khắc phục hạn chế này, bài báo đề xuất phương pháp khai thác tập hữu ích trung bình cao có xét đến yếu tố tương quan thông qua thuật toán CHAU (Correlated High Average Utility). Nghiên cứu tập trung cải tiến công thức tính giá trị chặn trên của độ hữu ích trung bình nhằm tăng khả năng tỉa ứng viên, từ đó nâng cao hiệu suất xử lý của thuật toán. Kết quả thực nghiệm so sánh với phương pháp tiên tiến hiện nay là thuật toán CoHAI trên các bộ dữ liệu có đặc trưng thưa và dày khác nhau như Chainstore, Kosarak, Retail, Accident, Mushroom và Chess cho thấy phương pháp đề xuất đạt hiệu năng tốt hơn xét trên cả thời gian thực thi và mức tiêu thụ bộ nhớ.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134812CHUYỂN ĐỔI ẢNH NHUỘM HE SANG ẢNH IHC BẰNG PHƯƠNG PHÁP FEYNMAN-KAC DIFFUSION2026-03-16T10:30:53+07:00Trần Đình Toàntoantd@huit.edu.vnHoàng Thế Anhtoantd@huit.edu.vnHuỳnh Thị Châu Lantoantd@huit.edu.vnNguyễn Thanh Longtoantd@huit.edu.vn<p>Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất phương pháp Feynman Diffusion Generative Model nhằm chuyển đổi ảnh mô HE sang ảnh IHC, kết quả này giúp hỗ trợ bác sĩ trong việc lập phác đồ điều trị ung thư vú. Phương pháp này khai thác Kỹ thuật Feynman, trong đó tận dụng mối liên hệ giữa phương trình vi phân ngẫu nhiên (SDEs) và phương trình vi phân riêng phần (PDEs), một hướng tiếp cận đã mang lại nhiều thành công trong các nghiên cứu trước về SDEs. Cụ thể, chúng tôi biểu diễn quá trình khuếch tán ngược dưới dạng công thức Feynman-Kac, cho phép chuyển đổi từ mô hình SDE sang hệ PDE tương ứng để mô tả quá trình phục hồi dữ liệu từ trạng thái nhiễu về dữ liệu thực. Việc sử dụng PDE giúp tăng cường tính ổn định và độ chính xác khi suy luận, đồng thời tối ưu hóa hàm mục tiêu dạng Flow normalizing liên quan đến luồng của phân phối dữ liệu. Kết quả thực nghiệm trên mô hình đề xuất đạt 19,25 PSNR và 0,569 SSIM, cao hơn so với các phương pháp đã công bố trước đó trên tập dữ liệu BCI.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dhcongthuongHCM/article/view/134817PHƯƠNG PHÁP MỚI ĐỂ CẢI THIỆN CÔNG SUẤT CHO CÁC BỘ CỘNG2026-03-17T01:26:46+07:00Lê Thành Tớitoilt@huit.edu.vnTrương Trí Lạctoilt@huit.edu.vn<p>Bộ cộng là một trong những thành phần quan trọng tạo nên hệ thống tính toán. Việc tối ưu hóa công suất, tốc độ và độ trễ của bộ cộng đã góp phần vào việc tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả. Bài báo này đề xuất một quy trình thiết kế mạch logic tổ hợp sử dụng phương pháp thiết kế bất đồng bộ dựa trên Null Convention Logic (NCL). Để minh họa cho quy trình được đề xuất, Carry Look Ahead (CLA) và Ripple Carry Adder (RCA) được chọn để thực hiện. Các bộ cộng này được tổng hợp bằng công cụ DC (Design Compiler) với các thư viện cell thông thường. Ngoài ra, chúng tôi cũng thực hiện so sánh kết quả tổng hợp của các bộ cộng được đề cập ở trên bằng cách sử dụng các kỹ thuật bất đồng bộ dựa trên NCL và kỹ thuật đồng bộ. Kết quả tổng hợp cho thấy công suất của các thiết kế bất đồng bộ dựa trên NCL giảm 62,88% (RCA) và 75,09% (CLA) so với các thiết kế đồng bộ tương ứng.</p>2026-02-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c)