https://vjol.info.vn/dntu/issue/feed Tạp chí Khoa học và Công nghệ- Đại học Công nghệ Đồng Nai 2026-03-04T07:51:14+07:00 Lê Danh Quang tapchikhoahoc@dntu.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai</strong></p> https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133030 TỔNG HỢP XANH HẠT NANO BẠC TỪ DỊCH CHIẾT LÁ NGŨ TRẢO (Vitex Negundo L.) VÀ BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA 2026-03-04T07:50:47+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trong nghiên cứu này, hạt nano bạc (AgNPs) được tổng hợp bằng phương pháp sử dụng dịch chiết từ lá ngũ trảo (Vitex negundo L.) vừa đóng vai trò là chất khử và chất ổn định. Quá trình tổng hợp được xác nhận thông qua sự chuyển màu từ vàng sang nâu sẫm và đỉnh hấp thụ phổ UV-Vis đặc trưng tại 442 nm. Hình thái và kích thước của AgNPs được xác định bằng SEM, cho thấy các hạt có hình cầu đồng đều, kích thước trung bình từ 10 đến 40 nm . Khả năng chống oxy hóa của AgNPs được đánh giá bằng phương pháp DPPH (2,2- diphenyl-1-picrylhydrazyl). Kết quả cho thấy hoạt tính chống oxy hóa tăng theo nồng độ, hiệu suất khử gốc DPPH với giá trị EC₅₀ của AgNPs là 0,53 mg/mL, so với dịch chiết (EC₅₀ = 0,65 mg/mL), cho thấy hiệu quả chống oxy hóa của AgNPs cao hơn đáng kể. Kết quả cho thấy AgNPs tổng hợp từ lá ngũ trảo không chỉ có kích thước nano ổn định mà còn thể hiện hoạt tính sinh học, đặc biệt là khả năng chống oxy hóa, khẳng định tiềm năng ứng dụng trong y sinh học, dược phẩm và mỹ phẩm.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133031 PHÁT TRIỂN DU LỊCH XANH Ở VIỆT NAM: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI, NHẬN THỨC VÀ TÔN GIÁO 2026-03-04T07:50:52+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Phát triển du lịch xanh là một định hướng quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm tài nguyên. Trong tiến trình này, các yếu tố xã hội đóng vai trò then chốt trong việc hình thành nhận thức và hành vi của du khách. Nghiên cứu này phân tích tác động của các yếu tố xã hội đến phát triển du lịch xanh tại Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò trung gian của nhận thức về du lịch xanh của du khách và vai trò điều tiết của tôn giáo. Dữ liệu được thu thập từ 360 du khách trong nước và quốc tế đã tham gia các hoạt động du lịch gắn với yếu tố bền vững, và được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính dựa trên bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy các yếu tố xã hội, bao gồm hành vi lựa chọn du lịch xanh, giáo dục và đào tạo, tài nguyên du lịch văn hóa và sự tham gia của cộng đồng, đều tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến nhận thức và phát triển du lịch xanh. Trong đó, giáo dục và đào tạo có ảnh hưởng mạnh nhất. Đặc biệt, tôn giáo thể hiện vai trò điều tiết, làm gia tăng tác động của hành vi lựa chọn du lịch xanh đến nhận thức của du khách. Nghiên cứu góp phần mở rộng cách tiếp cận xã hội - văn hóa trong nghiên cứu du lịch xanh và gợi mở các hàm ý chính sách phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133032 NHẬN THỨC MÔI TRƯỜNG VÀ XU HƯỚNG SỞ HỮU Ô TÔ XANH TẠI VIỆT NAM: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA TÀI CHÍNH CÁ NHÂN 2026-03-04T07:50:56+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trong bối cảnh toàn cầu hướng tới phát triển bền vững, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến các sản phẩm thân thiện với môi trường, trong đó ô tô xanh là xu hướng nổi bật. Nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa tài chính cá nhân, nhận thức môi trường và xu hướng sở hữu ô tô xanh tại Việt Nam. Cụ thể, nghiên cứu xem xét tác động của năng lực tài chính cá nhân (thu nhập, thói quen tiết kiệm, khả năng tiếp cận tín dụng và hiểu biết tài chính) đối với ý định mua ô tô xanh, đồng thời đánh giá vai trò của nhận thức môi trường trong việc hình thành hành vi tiêu dùng bền vững. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng với mẫu khảo sát gồm 272 người tiêu dùng tiềm năng tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi có cấu trúc và phân tích bằng Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sở hữu ô tô xanh. Ngoài ra, các cuộc phỏng vấn chuyên gia được tiến hành nhằm bổ sung thông tin định tính về động cơ tiêu dùng và hạn chế tài chính. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng cho thấy tài chính cá nhân và nhận thức môi trường đều có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi mua ô tô xanh. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách tài chính xanh và phát triển chiến lược khuyến khích tiêu dùng bền vững tại Việt Nam.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133033 ẢNH HƯỞNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN SỰ CAM KẾT CỦA NHÂN VIÊN – VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA NIỀM TIN VÀO TỔ CHỨC – TRƯỜNG HỢP CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI C.P. VIỆT NAM 2026-03-04T07:51:00+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một chủ đề gây tranh luận trong thời gian hiện nay. Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá toàn diện một doanh nghiệp về mặt cạnh tranh cũng như phát triển bền vững, ngoài ra việc nhận thức rõ trách nhiệm xã hội đóng vai trò quyết định sự gắn kết nhân viên, là chìa khóa thành công trong việc phát triển nhân sự và vận hành kinh doanh. Nghiên cứu tiến hành và lấy kết quả từ 295 khảo sát tại trụ sở chính Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam với hình thức trực tuyến. Kết quả nghiên cứu cho thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng, môi trường, người tiêu dùng, nhân viên và Nhà nước đều tác động tích cực trực tiếp đến niềm tin và sự cam kết của nhân viên đối với tổ chức. Đồng thời, niềm tin vào tổ chức đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và sự cam kết của nhân viên. Trong đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với Nhà nước có tác động mạnh nhất. Đồng thời, niềm tin vào tổ chức tác động trực tiếp lên sự cam kết của nhân viên. Kết quả này là cơ sở thực tiễn để doanh nghiệp tăng cường chính sách CSR và đề xuất những hàm ý quản trị.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133034 PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI – KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 2026-03-04T07:51:02+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trọng tài thương mại là một phương thức hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp, được áp dụng phổ biến trên toàn cầu. Tại Việt Nam, mặc dù hệ thống pháp luật đã ghi nhận và cho phép áp dụng phương thức này, song thực tiễn cho thấy còn tồn tại không ít bất cập, chưa theo kịp yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện khung pháp lý về trọng tài thương mại là điều cấp thiết nhằm đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích các quy định pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại tại Việt Nam và một số quốc gia khác. Dựa trên những phân tích này, tác giả đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trọng tài thương mại, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133035 CẢI THIỆN TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG VIỆC HỌC NGOẠI NGỮ QUA CHATGPT – MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 2026-03-04T07:51:04+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trong kỷ nguyên giáo dục do AI - hỗ trợ, việc tích hợp các công cụ nhân tạo vào việc học ngôn ngữ mang đến những cơ hội mới để nuôi dưỡng cả kỹ năng ngôn ngữ và tư duy phản biện. Nghiên cứu này tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng ChatGPT như một đối tác đối thoại để tăng cường tư duy phản biện ở những sinh viên không chuyên tiếng Anh. Dựa trên Lý thuyết văn hóa xã hội của Vygotsky và khái niệm học tập đối thoại, ChatGPT được sử dụng như một đối thoại ảo để tạo điều kiện cho việc lập luận, phản ánh và tìm hiểu. Một thiết kế bán thử nghiệm đã được tiến hành với 346 sinh viên tại Đại học Công nghệ Đồng Nai, Việt Nam, trong hơn mười tuần. Nhóm thử nghiệm tham gia vào các cuộc thảo luận có cấu trúc và các bài tập tương tác với ChatGPT, trong khi nhóm đối chứng tuân theo các hoạt động thực hành thông thường. Các bài kiểm tra trước và sau, cùng với các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc, cho thấy nhóm thử nghiệm đạt được những cải thiện lớn hơn về cả tư duy phản biện và phát triển ngôn ngữ. Các phát hiện định tính nhấn mạnh rằng cuộc hội thoại do AI làm trung gian đã tạo ra một môi trường hỗ trợ khuyến khích sự tham gia nhận thức sâu sắc hơn. Những kết quả này nhấn mạnh tiềm năng của AI không chỉ là một công cụ hỗ trợ học ngôn ngữ mà còn là một nền tảng nhận thức có ý nghĩa đối với đổi mới chương trình giảng dạy, đào tạo sinh viên và tinh thần trách nhiệm đưa AI vào giáo dục một cách có chọn lọc.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133036 TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 2026-03-04T07:51:07+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài viết tập trung phân tích thực trạng mức độ tự chủ tài chính của các trường đại học công lập tại Việt Nam trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học. Trên cơ sở nghiên cứu so sánh mô hình quản lý tài chính của một số quốc gia có nền giáo dục phát triển, nghiên cứu chỉ ra những bài học kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục phát triển có thể vận dụng phù hợp với điều kiện trong nước. Kết quả cho thấy việc tăng cường quyền tự chủ tài chính không chỉ tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học chủ động hơn trong quản lý ngân sách và tài sản, mà còn thúc đẩy đổi mới và sáng tạo trong huy động, sử dụng nguồn lực. Việc đánh giá được thực trạng tự chủ đại học và tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam cho phép xác định những yêu điểm và hạn chế của quá trình tực chủ đại học. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị về chính sách và cơ chế nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện tự chủ tài chính theo hướng bền vững, góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh và thúc đẩy hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133037 TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN: NGHI LỄ, THẨM MỸ VÀ GIÁ TRỊ TINH THẦN TRONG THỜI HIỆN ĐẠI 2026-03-04T07:51:09+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Trà đạo Nhật Bản (茶道, sadō hoặc chadō) không chỉ là một phương thức uống trà mà còn là nghệ thuật sống, mang đậm tính triết lý và thẩm mỹ, phản ánh tinh thần dân tộc và sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Trong thời đại toàn cầu hóa, trà đạo không chỉ giữ vai trò như một nghi lễ truyền thống mà còn đóng góp vào việc nuôi dưỡng tinh thần, phát triển giáo dục, quảng bá văn hóa và xây dựng bản sắc Nhật Bản trên trường quốc tế. Bài nghiên cứu này nhằm phân tích toàn diện lịch sử, đặc điểm, nghi lễ thẩm mỹ và giá trị tinh thần của trà đạo dựa trên tài liệu, so sánh và tổng hợp các công trình từ truyền thống đến hiện đại, qua đó khẳng định vai trò của trà đạo như một di sản văn hóa phi vật thể có sức sống lâu bền.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133038 TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ DỰA TRÊN NHIỆM VỤ ĐẾN HIỆU QUẢ NÓI CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN ANH – MỘT NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 2026-03-04T07:51:11+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Nghiên cứu này tìm hiểu tác động của việc giảng dạy ngôn ngữ dựa trên nhiệm vụ (TBLT) đến hiệu quả nói tiếng Anh của sinh viên không chuyên Anh tại trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Trong năm học 2025, 162 sinh viên không chuyên ngành tiếng Anh đã tham gia vào nghiên cứu này. Những sinh viên tham gia được chia thành hai nhóm: một nhóm thực nghiệm được đào tạo thông qua TBLT và một nhóm đối chứng được dạy bằng các phương pháp truyền thống. Để đánh giá sự lưu loát, chính xác và tương tác, dữ liệu đã được thu thập thông qua các bài kiểm tra trước và sau, cũng như bảng câu hỏi khảo sát và phương pháp quan sát lớp học. Kết quả cho thấy sinh viên trong nhóm thực nghiệm có hiệu suất nói tốt hơn các bạn cùng lớp, đặc biệt là sự lưu loát và năng lực giao tiếp. Những dữ liệu này cho thấy TBLT là một cách tuyệt vời để cải thiện khả năng nói EFL trong giáo dục đại học. Theo nghiên cứu, việc đưa các hoạt động dựa trên nhiệm vụ vào các lớp học tiếng Anh có thể tăng cường sự tham gia, tính tự chủ và kết quả học tập liên quan đến giao tiếp của người học.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/dntu/article/view/133039 XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ QUẢN LÝ GIAO DỊCH TIỀN ẢO – QUA NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT SINGAPORE VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 2026-03-04T07:51:13+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Singapore, với cách tiếp cận mở và minh bạch, đã phát triển một khung pháp lý rõ ràng nhằm điều chỉnh việc giao dịch và sử dụng tiền ảo, đồng thời đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng và phòng chống các hành vi tội phạm tài chính. Tại Singapore, tiền ảo không được công nhận là tiền tệ hợp pháp nhưng có thể được sử dụng trong các giao dịch và đầu tư với sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý tài chính như Cơ quan tiền tệ Singapore (The Monetary Authority of Singapore - MAS). Bài báo phân tích các ưu điểm của hệ thống pháp lý Singapore và các mô hình điều chỉnh tiền ảo, từ đó đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam, bao gồm việc xây dựng khung pháp lý linh hoạt, bảo vệ quyền lợi người dân, ngăn ngừa tội phạm tài chính và thúc đẩy phát triển công nghệ số. Bài viết kết luận rằng Việt Nam cần áp dụng những bài học từ Singapore để hoàn thiện khung pháp lý cho việc quản lý tiền ảo trong bối cảnh hội nhập quốc tế.</p> 2026-02-07T00:00:00+07:00 Bản quyền (c)