Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
https://vjol.info.vn/hunre
<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội</strong></p>vi-VNTạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường0866-76081. NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CHỐNG OXY HÓA VÀ KHÁNG KHUẨN CỦA NẤM DƯỢC LIỆU Pleurotus tuber-regium
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141889
<p><em>Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng chống oxy hóa và kháng khuẩn của nấm dược liệu Pleurotus tuber-regium được nuôi trồng trong phòng thí nghiệm. Quả thể nấm được nuôi trồng và thu hái</em><em>,</em><em> nghiền nhỏ, tách chiết cao nấm với Ethanol 90° với tỉ lệ 1:24 (1</em> <em>gam nấm ngâm với 24</em> <em>ml dung môi) trong 4 giờ và đưa vào máy lắc trong 4 giờ, sau đó lọc thu dịch chiết. Cô quay chân không phần dịch chiết thu được cao chiết thành phẩm. Thí nghiệm khả năng chống oxy hóa bằng phương pháp dùng thuốc thử DPPH sử dụng đối chứng dương axit Ascorbic (Vitamin C) cho kết quả </em><em>khả năng kìm hãm (HTCO</em> <em>%) ở mẫu nấm tăng từ 52,36</em> <em>% lên 92,41</em> <em>%</em><em>. </em><em>K</em><em>ết quả cao chiết có giá trị IC<sub>50</sub> = 377,94</em> <em>µg/ml và kết quả mẫu đối chứng dương giá trị IC<sub>50</sub>= 79,77µg/ml. Khả năng kháng khuẩn bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch trên 2 loại vi khuẩn B. subtilis và E.coli với 3 nồng độ vi khuẩn và 3 nồng độ pha loãng, kết quả nghiên cứu cho thấy nấm P.tuber-regium có khả năng kháng khuẩn với 2 loại vi khuẩn, tốt nhất ở vi khuẩn Gram dương B. subtilis là tốt hơn so với vi khuẩn Gram âm E. coli.</em></p>Lê Thanh HuyềnLê Văn SơnNguyễn Khánh LinhNguyễn Quyền AnhCao Đăng Nam
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2025-10-312025-10-31585132. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG WEBGIS CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT KHU VỰC HÀ NỘI
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141894
<p><em>Bài báo được nhóm tác giả nghiên cứu nhằm giải quyết tình trạng dữ liệu quan trắc nước mặt phân tán, khó tiếp cận và thiếu tính trực quan trong bối cảnh ô nhiễm gia tăng do đô thị hóa và công nghiệp hóa. Mục tiêu là xây dựng hệ thống WebGIS quản lý, hiển thị và phân tích dữ liệu trên nền bản đồ, cho phép tra cứu thông tin các điểm quan trắc, xem các số liệu quan trắc theo từng điểm và tiếp nhận phản ánh từ người dân. Hệ thống được phát triển theo mô hình ba lớp, ứng dụng HTML/CSS, JavaScript (Leaflet/OpenLayers), PostgreSQL/PostGIS và PHP/Python. Kết quả là một nền tảng trực tuyến tương tác, minh bạch, hỗ trợ cơ quan quản lý giám sát và ra quyết định kịp thời, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng. Hệ thống có tiềm năng mở rộng sang giám sát các lĩnh vực môi trường khác và tích hợp IoT, AI trong tương lai</em>.</p>Lê Thị Thu HàĐặng Trần ChiếnNguyễn Tuấn MinhHà Minh Quang AnhChử Trung HuânNguyễn Thị Diệu
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2025-10-312025-10-315814263. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG NHÚNG IoT TÍCH HỢP AI GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG KHÔNG KHÍ MÔI TRƯỜNG THEO THỜI GIAN THỰC - ỨNG DỤNG THỬ NGHIỆM TẠI HÀ NỘI
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141909
<p><em>Ô nhiễm không khí, đặc biệt là bụi mịn PM2.5 là một vấn đề nghiêm trọng tại các thành phố lớn như Hà Nội. Nghiên cứu này phát triển một hệ thống giám sát không khí sử dụng công nghệ IoT, giúp thu thập và phân tích dữ liệu thời gian thực về chất lượng không khí, bao gồm các chỉ số như PM2.5, CO<sub>2</sub>, nhiệt độ và độ ẩm. Hệ thống được thử nghiệm tại Hà Nội và được tích hợp các mô hình dự báo chuỗi thời gian ARIMA và Long Short Term Memory (LSTM), cung cấp các dự báo về xu hướng ô nhiễm trong tương lai. Kết quả thử nghiệm chỉ ra khả năng giám sát và dự báo chính xác, hỗ trợ các cơ quan chức năng trong việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa kịp thời.</em></p>Nguyễn Văn HáchNguyễn Văn SuyênTrương Mạnh ĐạtPhạm Hồng Hải
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-165827344. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG ĐƯỜNG CƠ SỞ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI KHU VỰC VEN BIỂN TRUNG TRUNG BỘ
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141913
<p><em>Việc đánh giá hiệu quả của các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu hiện vẫn đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sự thiếu hụt các phương pháp định lượng</em><em>. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp tích hợp nhằm xây dựng đường cơ sở và đánh giá định lượng hiệu quả các giải pháp thích ứng dựa trên phân tích rủi ro, áp dụng cho khu vực ven biển Trung Trung Bộ, nghiên cứu điển hình tại tỉnh Quảng Nam (cũ). </em><em>Phương pháp này dựa trên khung đánh giá rủi ro của IPCC năm 2020, xác định rủi ro là hàm số của ba yếu tố: Hiểm họa, Mức độ phơi bày và Tính dễ bị tổn thương</em><em>. Nghiên cứu đã xây dựng một kịch bản “đường cơ sở” (giả định không có giải pháp mới) và so sánh với kịch bản “hiệu quả” (giả định triển khai đồng bộ 16 giải pháp) cho các mốc thời gian 2030 và 2050. </em><em>Kết quả cho thấy, đường cơ sở dự báo rủi ro trung bình của tỉnh sẽ tăng liên tục từ 0,42 (năm 2020) lên 0,49 (năm 2050), đẩy phần lớn các địa phương vào mức rủi ro “Cao” và “Rất cao”</em><em>. </em><em>Ngược lại, khi áp dụng đồng bộ các giải pháp, rủi ro giảm mạnh xuống còn 0,33 vào năm 2030 và duy trì ổn định, đưa tất cả các địa phương về mức rủi ro “Thấp” và “Rất thấp”</em><em>. </em><em>Phân tích sâu hơn chỉ ra rằng nhóm giải pháp “Cải thiện điều kiện sống và hạ tầng xã hội cơ bản” là hiệu quả nhất khi triển khai độc lập và là nhóm duy nhất có khả năng đảo ngược xu hướng gia tăng rủi ro</em><em>. </em><em>Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng một chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu toàn diện, đồng bộ và nhấn mạnh rằng đầu tư vào con người và phúc lợi xã hội là nền tảng cốt lõi để xây dựng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu</em><em>. </em><em>Phương pháp luận này cung cấp một công cụ khoa học hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong lựa chọn các giải pháp ưu tiên và phân bổ nguồn lực hiệu quả</em>.</p>Vũ Đức Đam Quang
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-165835425. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI TRÊN TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141914
<p><em>Bài nghiên cứu này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2024. Trên cơ sở lý thuyết đại diện, nghiên cứu tập trung vào ba biến: Đòn bẩy tài chính (LEV), quy mô doanh nghiệp (SIZE) và tốc độ tăng trưởng (GROWTH). Dữ liệu gồm 2.350 quan sát, được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và cơ sở dữ liệu Vietstock. Sau khi xử lý các quan sát thiếu và ngoại lai, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, tiến hành kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan và đa cộng tuyến. Phương pháp FGLS được áp dụng để khắc phục khuyết tật và đảm bảo tính vững của kết quả. Kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến ROA, trong khi quy mô doanh nghiệp không có ảnh hưởng đáng kể. Điều này cho thấy tăng trưởng bền vững là yếu tố then chốt để nâng cao khả năng sinh lời, trong khi mở rộng quy mô chưa chắc mang lại lợi ích tương ứng. Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị doanh nghiệp cần chú trọng hiệu quả sử dụng nguồn lực, đồng thời cung cấp hàm ý chính sách nhằm hỗ trợ khu vực doanh nghiệp phát triển ổn định và cạnh tranh hơn.</em></p>Trần Thu Hương
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-165843496. NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM MÔI TRƯỜNG TẠI DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ GA HÀNH KHÁCH NGÀNH HÀNG KHÔNG
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141917
<p><em>Trách nhiệm môi trường ngày càng trở thành yếu tố thiết yếu trong quản lý các dự án xây dựng, đặc biệt với các công trình hạ tầng quy mô lớn như sân bay. Bài báo này làm rõ khái niệm, vai trò và nội hàm của trách nhiệm môi trường từ góc nhìn pháp lý và quản trị doanh nghiệp. Đồng thời phân tích hệ thống quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế, cũng như tổng hợp các tác động môi trường điển hình trong hoạt động xây dựng nhà ga hàng không. Các kinh nghiệm quốc tế được trích dẫn như minh chứng cụ thể cho hiệu quả của việc tích hợp trách nhiệm môi trường vào toàn bộ chu trình dự án. Trên cơ sở đó, bài viết cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn nhằm định hướng cho việc nâng cao năng lực quản lý cũng như giải pháp nâng cao trách nhiệm môi trường trong ngành xây dựng.</em></p>Lại Thị DungNguyễn Duy ThànhNguyễn Thị Vĩnh Hằng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-165850567. QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2024: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141921
<p><em>Bài viết đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Phú Thọ sau sáp nhập (gồm ba tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình) trong bối cảnh triển khai Luật Đất đai 2024. Với tổng diện tích tự nhiên 936,2 nghìn ha, trong đó có 263,7 nghìn ha đất nông nghiệp (chiếm 28,2 %), khu vực này đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, công tác quản lý đất đai còn tồn tại nhiều bất cập như: hơn 5 % diện tích sử dụng sai mục đích hoặc bị bỏ hoang; Quy hoạch chưa đồng bộ sau điều chỉnh địa giới hành chính (số xã giảm từ 512 xuống 148); Suy thoái đất do canh tác không bền vững và thiếu cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cấp quản lý. Luật Đất đai 2024 đưa ra nhiều đổi mới như số hóa bản đồ địa chính, minh bạch hóa quy trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất, song việc triển khai tại địa phương còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý, tăng cường phối hợp liên ngành và phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhằm quản lý và sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, bền vững.</em></p>Hà Mạnh HoanBùi Phương ThúyHoàng Thị Bích Ngọc
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2025-10-312025-10-315857698. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG TRONG CANH TÁC LÚA BA VỤ TẠI XÃ TÂN LONG, TỈNH ĐỒNG THÁP
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141933
<p><em>Nghiên cứu này đánh giá toàn diện hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và các rủi ro môi trường trong mô hình canh tác lúa ba vụ tại xã Tân Long, tỉnh Đồng Tháp thông qua khảo sát 30 nông hộ. Kết quả cho thấy một danh mục đa dạng các hoạt chất bảo vệ thực vật được nông dân sử dụng, với tần suất phun trung bình 3,52 lần/vụ cho thuốc trừ sâu và 3,62 lần/vụ cho thuốc trừ bệnh. Đáng chú ý, có đến 90,9 % số quan sát thuốc trừ sâu và 88,2 % số quan sát thuốc trừ bệnh được sử dụng với liều lượng cao hơn khuyến cáo. Các hoạt chất có độ độc cao thuộc nhóm Ib, II theo phân loại WHO như Fipronil, Chlorpyrifos Ethyl và Cypermethrin vẫn được sử dụng phổ biến. Thực hành an toàn trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn nhiều hạn chế: Chỉ 43,3 % nông hộ trang bị bảo hộ lao động và 40 % tuân thủ thời gian cách ly. Việc xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách, với 43,3 % nông hộ đốt bao bì sau khi sử dụng. Kết quả tính toán Chỉ số tác động môi trường (EIQ) cho thấy mức rủi ro rất cao, với tổng EIQ đồng ruộng trung bình cho các loại thuốc bảo vệ thực vật trên lúa là 250,60. Trong đó, nhóm thuốc trừ sâu chiếm phần lớn (EIQ tổng trung bình = 215,85), đặc biệt Fipronil đạt EIQ tổng trung bình = 571,33. Nghiên cứu cảnh báo về những rủi ro đáng kể đối với sức khỏe con người và môi trường, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi và thúc đẩy hướng tới nền nông nghiệp bền vững.</em></p>Lê Thị Diễm MiNguyễn Thanh Giao
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-165870799. NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG NHÀ CHUNG CƯ TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG YÊN HOÀ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141936
<p><em>Trong thị trường bất động sản tại Hà Nội, các mặt hàng giao dịch mua bán, cho thuê hiện nay đa phần là các căn hộ chung cư và nhà đất. Phường Yên Hoà, thành phố Hà Nội là một khu vực đô thị phát triển nhanh với mật độ dân cư cao. Những năm gần đây, thị trường nhà chung cư trên địa bàn phường Yên Hòa có nhiều biến động, đặc biệt trong giai đoạn 2020 - 2025, do ảnh hưởng của các yếu tố như đại dịch Covid-19, việc sáp nhập đơn vị hành chính, chính sách quản lý đất đai, cung - cầu nhà ở, tình hình kinh tế vĩ mô, cũng như sự thay đổi trong nhu cầu và xu hướng của khách hàng mua nhà. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra khảo sát, chọn điểm nghiên cứu, kết hợp phân tích định lượng và định tính nhằm xác định những nhân tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu và giá cả căn hộ chung cư. Kết quả cho thấy có năm nhóm yếu tố chính tác động mạnh đến thị trường: Yếu tố pháp lý; Vị trí, cơ sở hạ tầng, những tiện ích và tình trạng môi trường; Uy tín và thương hiệu của chủ đầu tư; Giá bán và chính sách thanh toán và diện tích căn hộ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người mua ngày càng quan tâm đến chất lượng dịch vụ quản lý, không gian sống xanh và các yếu tố bền vững. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nhà chung cư tại khu vực này không chỉ giúp làm rõ các đặc điểm và xu hướng phát triển mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân trong việc đưa ra các quyết định phù hợp. Từ kết quả này, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển bền vững thị trường nhà chung cư tại phường Yên Hoà.</em></p>Vũ Thị Thu Hiền
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2026-04-162026-04-1658809610. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ RỦI RO MÔI TRƯỜNG TẠI KHU DÂN CƯ CẠNH MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
https://vjol.info.vn/hunre/article/view/141937
<p><em>Nghiên cứu nhằm mục đích</em> <em>đánh giá chất lượng môi trường không khí tại</em><em> khu dân cư c</em><em>ạnh một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, đồng thời đánh giá rủi ro về môi trường và sức khỏe đối với cộng đồng. Dựa trên dữ liệu quan trắc môi trường không khí định kỳ thu thập từ kết quả quan trắc môi trường tỉnh Thanh Hóa qua các năm 2024, 2025 và khảo sát thực</em><em> địa, nghiên cứu đã đạt được những kết quả quan trọng. Cụ thể, </em><em>tại khu dân cư cạnh một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa</em><em>, các kết quả quan trắc</em><em> môi trường không khí đều nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (trung bình 1 giờ).</em> <em>Độ ồn giờ cao điểm ban ngày (6</em> <em>h đến 18</em> <em>h) dao động từ 67,4 ÷</em> <em>75,7</em> <em>dBA, trong đó 46,4</em> <em>% các thời điểm quan trắc tiếng ồn tại khu dân cư vượt</em><em> giới hạn cho phép</em><em> QCVN26:2010/BTNMT</em><em>.</em> <em>N</em><em>ồng độ bụi PM<sub>10</sub> (trung bình 1 giờ) </em><em>trong không khí dao động trong khoảng 69 </em><em>÷ </em><em>102 µg/m<sup>3</sup>. Kết quả đánh giá rủi ro chỉ ra rằng, rủi ro môi trường có mức độ trung bình, với tất cả các hệ số rủi ro môi trường RQ <</em><em> 1. </em><em>C</em><em>hỉ số</em><em> rủi ro</em><em> sức khỏe</em><em> HQ <1 tương ứng </em><em>mức rủi ro chấp nhận được. Trong đó, rủi ro đối với bụi có giá trị cao hơn</em><em> nhiều so với các</em><em> khí SO</em><em><sub>2</sub>, NO</em><em><sub>2</sub></em><em>, NH</em><em><sub>3</sub></em><em>, H</em><em><sub>2</sub>S</em><em>.</em></p>Lê Anh TrungBùi Sỹ BáchVõ Anh Ngọc
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường
2025-10-312025-10-315897104