Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM
<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh</strong></p>HoChiMinh University of Bankingvi-VNTạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á1859-3682Phản ứng của nhà đầu tư trước sự bất ổn của doanh nghiệp: Phân tích đa chiều về biến động tăng trưởng
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125986
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này xem xét tác động của biến động tăng trưởng (BĐTT) đến hành vi thuộc nhà đầu tư.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dựa trên việc kết hợp lý thuyết Tín hiệu và Tài chính hành vi, nghiên cứu lập luận sự bất ổn trong hoạt động cơ bản của doanh nghiệp như một tín hiệu rủi ro quan trọng được thị trường diễn giải. BĐTT được đo lường bằng thang đo đa chiều ở các khía cạnh: Doanh thu, lợi nhuận hoạt động, tài sản và lao động. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 470 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013–2023 và phương pháp hồi quy với sai số chuẩn hiệu chỉnh (PCSE).<br>Kết quả nghiên cứu: Kết quả thực nghiệm cho thấy các thành phần thuộc BĐTT có tác động cùng chiều và đạt ý nghĩa thống kê lên phản ứng của nhà đầu tư. Sự bất ổn doanh thu và lợi nhuận có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.<br>Giá trị đóng góp mới: Nhà đầu tư tại Việt Nam nhạy cảm đáng kể với các tín hiệu rủi ro phát sinh từ hoạt động nội tại của doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét BĐTT như một cấu trúc đa chiều nhằm đánh giá toàn diện rủi ro thuộc doanh nghiệp.</p>Ngô Thành TrungVũ Hữu Thành
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-2523751810.63065/ajeb.vn.2025.237.125986Tác động của giá vàng đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh bất định chính sách thương mại toàn cầu
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125988
<p>Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của giá vàng đến thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam trong bối cảnh có sự bất định của chính sách thương mại toàn cầu. <br>Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng mô hình vector hiệu chỉnh sai số (VECM) và dữ liệu chuỗi thời gian với 215 mẫu quan sát trong giai đoạn 2007–2024. <br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy giá vàng (GOD) có tác động ngược chiều đến chỉ số chứng khoán VNIndex (VNI) trong ngắn hạn và dài hạn. Đáng chú ý, biến tương tác giữa GOD và TPU cũng có tác động ngược chiều đến VNI, ổn định trong cả ngắn hạn và dài hạn; điều này cho thấy rằng khi TPU gia tăng, ảnh hưởng ngược chiều của GOD lên VNI càng rõ rệt, thể hiện vai trò kênh trú ẩn của vàng, thay thế cho cổ phiếu khi thị trường bất ổn. <br>Giá trị đóng góp: Nghiên cứu đóng góp bằng chứng thực nghiệm mới về mối quan hệ giữa giá vàng và TTCK trong bối cảnh bất định chính sách thương mại toàn cầu tại một thị trường mới nổi như Việt Nam. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ hữu ích cho việc ra quyết định của nhà đầu tư và hoạch định chính sách nhằm ổn định và phát triển TTCK Việt Nam của cơ quan quản lý. </p>Trần Tuấn VinhLê Thị Quỳnh Như
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-25237193210.63065/ajeb.vn.2025.237.125988Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125989
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu này phân tích tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến tăng trưởng xanh tại 45 quốc gia châu Á trong giai đoạn 1995–2024. <br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết sử dụng mô hình hồi quy Bayesian với thuật toán Metropolis–Hastings và các kiểm tra hội tụ Markov Monte Carlo (MCMC).<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy trong nhóm tài khóa, chi tiêu công xanh (EEP) và cân đối tài khóa (FBAL) nằm ở vùng giá trị âm, phản ánh xu hướng làm suy giảm TTX (GGDP). Ngược lại, thuế môi trường (ETAX) và nợ công (GGG) có mối liên hệ cùng chiều với GGDP. Việc đầu tư công vào năng lượng tái tạo (MRE) có tác động trung tính. Ở nhóm chính sách tiền tệ, lãi suất điều hành (RATE) có khoảng tin cậy âm, cho thấy chi phí vốn cao gắn với mức GGDP thấp hơn, trong khi phát triển tài chính (FD) có hệ số dương lớn thể hiện vai trò kênh truyền dẫn mạnh nhất thúc đẩy GGDP; tín dụng khu vực tư nhân (DCRE) cho kết quả trung tính. Ngoài ra, phát thải CO2 và chi tiêu R&D có tác động đến GGDP thấp hơn, trong khi lạm phát có mối liên hệ dương với GGDP; độ mở thương mại cho kết quả trung tính.<br>Giá trị đóng góp mới: Bên cạnh việc làm rõ cơ chế tác động của các chính sách vĩ mô đến tăng trưởng xanh trong khu vực, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế phối hợp chính sách tài khóa – tiền tệ, qua đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong bối cảnh áp lực môi trường ngày càng gia tăng.</p>Trần Thị Kim OanhCao Tấn HuyTrần Thị Lệ HiềnPhạm Hồng Châu OanhVũ Kiều Oanh
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-25237334710.63065/ajeb.vn.2025.237.125989Đòn bẩy tài chính có hạn chế đầu tư? Bằng chứng từ các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125990
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nhằm phân tích mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính (ĐBTC) và chi tiêu đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu bảng động từ 400 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết giai đoạn 2010–2023, với tổng cộng 4604 quan sát. Phương pháp ước lượng GMM hệ thống hai bước được áp dụng nhằm xử lý vấn đề nội sinh và đặc tính động của hành vi đầu tư.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả thực nghiệm cho thấy tỷ lệ ĐBTC, đặc biệt nợ dài hạn (NDH), có tác động ngược chiều và đạt ý nghĩa thống kê đến chi tiêu đầu tư vốn. Quy mô doanh nghiệp (QMDN) đóng vai trò điều tiết, làm suy yếu tác động ngược chiều này, cho thấy các công ty lớn có khả năng kiểm soát rủi ro tài chính tốt hơn.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm cập nhật về tác động phân biệt của các loại nợ (tổng nợ và NDH) đến đầu tư vốn. Đồng thời, bài viết làm rõ vai trò tương tác của QMDN trong bối cảnh thị trường vốn Việt Nam còn hạn chế. Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc xây dựng cấu trúc vốn hợp lý, đặc biệt quản trị kỳ hạn nợ nhằm duy trì năng lực đầu tư bền vững.</p>Nguyễn Thị Tuyết
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-25237485910.63065/ajeb.vn.2025.237.125990Ảnh hưởng của phản hồi phát triển cấp trên đến sáng tạo của nhân viên
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125991
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nhằm xác định ảnh hưởng của phản hồi phát triển cấp trên (PHPTCT) đến sự sáng tạo của nhân viên (STCNV). Đồng thời, nghiên cứu kiểm định vai trò trung gian của điều chỉnh nhiệm vụ (ĐCNV) và động lực nội tại (ĐLNT) trong mối quan hệ này.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mô hình cấu trúc tuyến tính (PLS-SEM) và thu thập dữ liệu từ 304 nhân viên tại các doanh nghiệp công nghiệp ô tô ở Thành phố Hồ Chí Minh.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả cho thấy PHPTCT có ảnh hưởng cùng chiều đến sự STCNV. ĐCNV và ĐLNT đóng vai trò trung gian quan trọng, làm tăng hiệu ứng của PHPTCT lên sự sáng tạo.<br>Giá trị đóng góp mới: Bài viết bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lý thuyết Khả năng–động lực–cơ hội và lý thuyết Thành phần sáng tạo. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ vai trò trung gian của ĐCNV và ĐLNT trong mối quan hệ giữa PHPTCT và sự STCNV ở bối cảnh ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.</p>Nguyễn Kim NamLữ Thị Thúy HằngLê Trung Nhân
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-25237607110.63065/ajeb.vn.2025.237.125991Tác động của đặc điểm hội đồng quản trị và tổng giám đốc điều hành đến hiệu quả tài chính của ngân hàng
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125992
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của đặc điểm hội đồng quản trị (HĐQT) và giám đốc điều hành (CEO) đến hiệu quả tài chính thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam.<br>Thiết kế nghiên cứu/Phương pháp/Tiếp cận: Dữ liệu bảng gồm 27 NHTMCP trong giai đoạn 2011–2022 được phân tích bằng các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM, GLS và phương pháp GMM để xử lý những vấn đề nội sinh, tự tương quan và phương sai thay đổi. Các biến đo lường hiệu quả tài chính gồm ROA, ROE và NIM. Bên cạnh đó, các biến độc lập phản ánh đặc điểm HĐQT và CEO gồm giới tính, độ tuổi, học vấn và sở hữu cổ phần. Đồng thời, mô hình còn kết hợp với các biến kiểm soát vĩ mô như tỉ lệ sở hữu nhà nước, kết nối chính trị, quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Kết quả hồi quy GMM, tỷ lệ sở hữu nội bộ và trình độ học vấn của HĐQT lẫn CEO có tác động cùng chiều đến hiệu quả tài chính ngân hàng. Tuổi của HĐQT và CEO có ảnh hưởng cùng chiều và đạt ý nghĩa thống kê. Giới tính nữ trong HĐQT và CEO cho tác động âm, gợi ý vai trò đại diện giới còn mang tính hình thức. Bên cạnh đó, quy mô ngân hàng và tăng trưởng GDP có tác động dương, trong khi sở hữu nhà nước và lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới về mối liên hệ giữa đặc điểm quản trị và hiệu quả tài chính ngân hàng trong bối cảnh thị trường mới nổi như Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế quản trị, thúc đẩy minh bạch và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng.</p>Nguyễn Gia Đường
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-25237728810.63065/ajeb.vn.2025.237.125992Tác động của quy mô hoạt động tự doanh đến lợi nhuận và rủi ro tài chính của các công ty chứng khoán tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125995
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của quy mô hoạt động tự doanh (HĐTD), cùng một số yếu tố liên quan đến lợi nhuận và rủi ro tài chính thuộc 36 công ty chứng khoán (CTCK) tại Việt Nam trong giai đoạn 2015–2024.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Dựa trên dữ liệu bảng gồm 360 quan sát từ 36 CTCK trong giai đoạn 2015–2024, nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng FGLS nhằm khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.<br>Kết quả nghiên cứu chính: Quy mô HĐTD, quy mô công ty (QMCT) và tăng trưởng thị trường chứng khoán (TTCK) có tác động cùng chiều đến lợi nhuận, trong khi đòn bẩy tài chính (ĐBTC) có ảnh hưởng ngược lại. Đối với rủi ro tài chính (RRTC), chỉ hai yếu tố có ảnh hưởng, bao gồm tăng trưởng và thanh khoản TTCK. <br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu cung cấp những bằng chứng thực nghiệm mới về ảnh hưởng của quy mô HĐTD, góp phần hỗ trợ xây dựng các chiến lược sinh lời và kiểm soát rủi ro một cách hiệu quả.</p>Vũ Thế HưngLê Thanh TâmTrương Quang HiếuNguyễn Ngọc Linh ChiNguyễn Phương AnhLê Minh Hằng
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-252378910210.63065/ajeb.vn.2025.237.125995Tác động của năng lực cạnh tranh về công nghệ sản xuất đến kết quả hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp điều Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125996
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết đánh giá tác động của năng lực cạnh tranh (NLCT) về công nghệ sản xuất (CNSX) đến kết quả kinh doanh (KQKD) thông qua trung gian sự đổi mới và lợi thế cạnh tranh (LTCT).<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu thực hiện khảo sát với quy mô 500 mẫu thu thập từ 260 doanh nghiệp điều tại Việt Nam. Dữ liệu được đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, đồng thời phân tích nhân tố khám phá (EFA) và nhân tố khẳng định (CFA) bằng phần mềm SPSS. Ngoài ra, nghiên cứu phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm Amos nhằm kiểm định mô hình lý thuyết. <br>Kết quả nghiên cứu chính: Nghiên cứu cho thấy có sự tác động dương trực tiếp và gián tiếp từ NLCT về CNSX đến KQKD.<br>Giá trị đóng góp mới: Kết quả nghiên cứu bổ sung vào kho tàng cơ sở lý thuyết, đồng thời giúp các doanh nghiệp điều Việt Nam có thêm nền tảng củng cố và phát huy NLCT về công nghệ và cải thiện hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra, bài viết giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn sâu sắc hơn về ngành điều, từ đó đưa ra đường lối phát triển và hỗ trợ ngành phù hợp. </p>Võ Thị Thùy Dương
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-2523710311710.63065/ajeb.vn.2025.237.125996Tác động của truyền thông xanh đến quyết định mua: Vai trò trung gian của nhận thức và thái độ
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125997
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết nhằm phân tích mối quan hệ giữa truyền thông xanh (TTX), nhận thức môi trường, thái độ đối với sản phẩm xanh (SPX) và quyết định mua xanh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM). Qua đó, nghiên cứu mở rộng mô hình lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) trong bối cảnh tiêu dùng bền vững.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mô hình phương trình cấu trúc PLS-SEM. Dữ liệu được thu thập từ 379 người tiêu dùng thông qua khảo sát trực tuyến trên Google Forms bằng thang đo Likert 5 mức, nội dung thang đo kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước. Dữ liệu được xử lý bằng SPSS 26.0 và SmartPLS 4.0 để kiểm định độ tin cậy, giá trị hội tụ, phân biệt và các mối quan hệ cấu trúc.<br>Kết quả nghiên cứu: TTX có tác động cùng chiều đến nhận thức, thái độ và quyết định mua xanh. Nhận thức môi trường có ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến hành vi thông qua thái độ. Trong khi đó, thái độ đóng vai trò trung gian mạnh mẽ giữa nhận thức và hành vi. Mô hình đạt R² = 0,267 cho biến quyết định mua, phản ánh mức giải thích trung bình nhưng có ý nghĩa thực tiễn cao.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu mở rộng mô hình TPB bằng việc bổ sung biến TTX như yếu tố khởi phát nhận thức và thái độ. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp hàm ý cho doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược TTX trải nghiệm và cá nhân hóa nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững tại Việt Nam.</p>Trần Dục ThứcTrương Thị Minh Thu
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-2523711712910.63065/ajeb.vn.2025.237.125997Tác động của cấu trúc vốn đến việc chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HSX
https://vjol.info.vn/index.php/DHNHTPHCM/article/view/125998
<p>Mục tiêu nghiên cứu: Bài viết xem xét tác động của cấu trúc vốn (CTV) đến hành vi chấp nhận rủi ro (CNRR) thuộc các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSX). Đồng thời, nghiên cứu làm rõ sự khác biệt theo ngành, loại hình sở hữu, quy mô doanh nghiệp và vai trò giám sát của Nhà nước.<br>Thiết kế nghiên cứu/phương pháp/tiếp cận: Bài viết sử dụng dữ liệu bảng từ 308 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên HSX giai đoạn 2010–2023. Ngoài ra, nghiên cứu áp dụng phương pháp ước lượng Feasible Generalized Least Squares (FGLS), đồng thời kết hợp phân tích theo nhóm ngành, quy mô và loại hình sở hữu.<br>Kết quả nghiên cứu chính: CTV có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến mức độ CNRR của doanh nghiệp. Mối quan hệ này khác biệt rõ rệt giữa các ngành, doanh nghiệp nhà nước, ngoài nhà nước và theo quy mô doanh nghiệp. Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn cho thấy mức độ tác động khác nhau.<br>Giá trị đóng góp mới: Nghiên cứu là một trong những công trình đầu tiên tại Việt Nam phân tách nợ ngắn hạn và nợ dài hạn để đánh giá tác động riêng biệt đến hành vi CNRR. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò giám sát của Nhà nước thông qua so sánh doanh nghiệp nhà nước và ngoài nhà nước. Kết quả mang lại gợi ý chính sách thiết thực giúp doanh nghiệp trong việc tối ưu cơ cấu vốn và cho cơ quan quản lý nhằm cân bằng giữa an toàn hệ thống tài chính và khuyến khích đổi mới.</p>Phạm Ngọc TrọngLê Thị Quỳnh NhưNguyễn Nhật VyVõ Thị Thanh ThảoLê Thuỳ Thảo NhungNguyễn Hữu Mạnh
Bản quyền (c)
2025-12-252025-12-2523713014310.63065/ajeb.vn.2025.237.125998