https://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/issue/feedTạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệp2025-10-14T10:50:52+07:00Trường Đại học Hồng Đứctapchikhhd@hdu.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Hồng Đức</strong></p>https://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120013ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CÂY RAU ĐẮNG BIỂN (BACOPA MONNIERI (L.) WETTST.) TẠI TỈNH THANH HÓA2025-10-14T10:50:37+07:00Lê Hùng Tiếnsauduoclieu@gmail.comHoàng Thị Sáusauduoclieu@gmail.comĐào Văn Châusauduoclieu@gmail.comNguyễn Trọng Chungsauduoclieu@gmail.comLê Đình Chắcsauduoclieu@gmail.com<p>Nghiên cứu đặc điểm hình thái, giải phẫu cây Rau đắng biển, cho thấy cây Rau đắng biển thuộc dạng thân thảo, mọc bò, sống lâu năm, màu xanh, tiết diện tròn, có rễ ở đốt, nhiều nhánh. Lá đơn, màu xanh, mọc đối, nhẵn, mọng nước, có dạng hình muỗng hay hình trứng ngược, mép nhẵn. Hoa lưỡng tính, nhị 4, nhụy 1, nhỏ, 5 cánh, hình ống, màu trắng hoặc màu tím nhạt, mọc ở nách lá. Quả nang, hình trứng, chứa nhiều hạt, hạt rất nhỏ. Rau đắng biển trồng ở các thời vụ từ 15/2 - 15/3 và 15/6, cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất dược liệu cao. Trong phạm vi nghiên cứu này, thời vụ trồng cây là 16/6/2023, thu hoạch lứa cắt đầu sau 80 ngày trồng, chiều dài cây trung bình 38,7 cm; sâu bệnh hại chủ yếu là sâu khoang, châu chấu và rầy lưng trắng; năng suất dược liệu khô đạt 5,53 tấn/ha. Kết quả nghiên cứu làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp để phát triển nguồn dược liệu này.</p>2025-04-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120017ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN HỮU CƠ VÀ CHẾ PHẨM TRICHODERMA ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG DƯA CHUỘT NẾP LAI F1 PD668 VỤ XUÂN HÈ NĂM 2024 TẠI HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA2025-10-14T10:50:40+07:00Tống Văn Giangtongvangiang@hdu.edu.vnTrần Thị Huyềntongvangiang@hdu.edu.vn<p>Nghiên cứu tiến hành đánh giá ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ và chế phẩm Trichoderma đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của giống dưa chuột nếp lai F1 PD 668 vụ Xuân Hè năm 2024 tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố được bố trí kiểu Split-plot (ô lớn, ô nhỏ) và 3 lần nhắc lại. Nhân tố thứ nhất là phân bón (H) gồm 5 công thức bón (H1: Không bón phân; H2: Phân NPK; H3: Phân trùn quế SFARM Pb01; H4: Phân gà hữu cơ vi sinh Tín Tâm; H5: Phân bò Tribat). Nhân tố thứ 2 là chế phẩm Trichoderma (T) gồm 2 công thức (T1: Không bổ sung Trichoderma; T2: Bổ sung Trichoderma). Kết quả nghiên cứu cho thấy, công thức sử dụng phân trùn quế cao cấp SFARM Pb01 bổ sung Trichoderma (công thức T2H3) có các chỉ tiêu nghiên cứu đạt giá trị cao nhất như: tổng thời gian sinh trưởng 79 ngày, số hoa đực 96,0 hoa/cây, số hoa cái 14,2 hoa/cây, số quả đậu/cây 10,2 quả/cây, tỉ lệ đậu quả 71,8%, khối lượng quả 163 g/quả, năng suất cá thể đạt 1,6 kg/cây, năng suất lý thuyết đạt 41,5 tấn/ha, năng suất thực thu đạt 38,6 tấn/ha và hiệu quả kinh tế đạt 379,21 triệu đồng/ha.</p>2025-10-14T09:51:53+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120018NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG ĐẠM BÓN VÀ KHOẢNG CÁCH TRỒNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ HÀM LƯỢNG TINH DẦU DƯỢC LIỆU CÂY BỒ BỒ (ADENOSMA INDIANA (LOUR.) MERR.) TẠI THANH HÓA2025-10-14T10:50:42+07:00Phạm Đức Tânphamductan@gmail.comTrần Trung Nghĩaphamductan@gmail.comTống Văn Giangphamductan@gmail.com<p>Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của lượng đạm bón và khoảng cách trồng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và hàm lượng tinh dầu dược liệu cây Bồ bồ tại Thanh Hóa. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu chia ô lớn ô nhỏ (Split - plot), 3 lần nhắc, trong đó yếu tố khoảng cách trồng là ô nhỏ và yếu tố phân bón là ô lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức P3K2 (lượng đạm bón: 220kg N/ha/năm; khoảng cách trồng: 20 x 15cm) đạt các chỉ tiêu về sinh trưởng, năng suất và hàm lượng tinh dầu cao nhất: Chiều cao cây đạt 65,4 cm, số cành cấp I 25,1 cành, đường kính tán lớn nhất 33,1 cm, đường kính gốc lớn nhất đạt 0,85 mm, năng suất thực thu dược liệu cao nhất đạt 3,42 tấn/ha và hàm lượng tinh dầu đạt 1,2% (năng suất tinh dầu 41,04 kg/ha).</p>2025-10-14T09:55:52+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120019NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM THU HOẠCH VÀ PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN ĐẾN CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU NÁNG HOA TRẮNG (CRINUM ASIATICUM L.)2025-10-14T10:50:43+07:00Nguyễn Thị Tố Duyênnguyenduyen92xt@gmail.comNguyễn Trọng Chungnguyenduyen92xt@gmail.comNguyễn Hữu Trungnguyenduyen92xt@gmail.comPhạm Văn Nămnguyenduyen92xt@gmail.comĐào Văn Châunguyenduyen92xt@gmail.com<p>Thời điểm thu hoạch và phương thức bảo quản sau thu hoạch ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của dược liệu Náng hoa trắng, vì vậy xác định được thời điểm thu hoạch và phương pháp bảo quản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất dược liệu. Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi thực hiện các thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của thời điểm thu hoạch và phương pháp bảo quản đến chất lượng dược liệu Náng hoa trắng (Crinum Asiaticum L.) bao gồm: thí nghiệm thu hoạch được tiến hành với 4 công thức thu hoạch sau lứa cắt trước 60, 105, 115 và 150 ngày; thí nghiệm bảo quản được thực hiện với 3 công thức: bảo quản trực tiếp trong bao tải gai, bảo quản trong túi nilon và bảo quản trong túi nilon được hút chân không. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thu hoạch dược liệu sau lứa cắt trước 60 ngày cho năng suất hàm lượng hoạt chất tốt nhất. Dược liệu đạt chất lượng cao nhất khi bảo quản trong túi nilon được hút chân không và sau 9 tháng thì nên phơi sấy lại tránh dược liệu bị ẩm mốc.</p>2025-10-14T09:58:58+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120020ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC HẠT ĐẾN NẢY MẦM, SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIỐNG BÁCH BỘ LOÀI STEMONA TUBEROSA LOUR.2025-10-14T10:50:44+07:00Phạm Thị Lýsauduoclieu@gmail.comLê Hùng Tiếnsauduoclieu@gmail.comTrần Trung Nghĩasauduoclieu@gmail.comPhạm Văn Nămsauduoclieu@gmail.comPhạm Văn Nămsauduoclieu@gmail.com<p>Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước hạt (to, trung bình, nhỏ) đến quá trình nảy mầm, sinh trưởng của loài Bách bộ Stemona tuberosa Lour. cho thấy, hạt to hơn nảy mầm sớm hơn, thời gian nảy mầm ngắn hơn, song tỷ lệ nảy mầm thấp hơn so với hạt nhỏ. Cây giống từ hạt to hơn có chiều cao cây, đường kính gốc, số thân, số lá cao hơn so với cây từ hạt nhỏ, song mức chênh lệch chỉ có ý nghĩa khi so sánh giữa hạt to và hạt trung bình với hạt nhỏ, và không có ý nghĩa giữa hạt to với hạt trung bình (P = 95%). Tỷ lệ cây giống xuất vườn cao nhất ở hạt trung bình (47,33%), so với 46,67% ở hạt to và 35,47% ở hạt nhỏ. Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây trồng giai đoạn đầu ngoài đồng ruộng có sự khác biệt đáng tin cậy giữa cây giống gieo ươm từ hạt to, hạt trung bình so với hạt nhỏ. Do vậy, kích thước hạt từ trung bình trở lên (đường kính ≥ 3,0 mm; chiều dài ≥ 1,5 mm, khối lượng 1.000 hạt ≥ 107,9 g) được lựa chọn làm cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn hạt giống loài Stemona tuberosa Lour.</p>2025-10-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120021PHÂN LẬP VÀ TUYỂN CHỌN NẤM TRICHODERMA SPP. ĐỐI KHÁNG VỚI NẤM FUSARIUM SP. GÂY BỆNH HẠI CÂY TRỒNG TẠI THANH HOÁ2025-10-14T10:50:45+07:00Mai Thành Luânmaithanhluan@hdu.edu.vnLê Thị Thanh Huyềnmaithanhluan@hdu.edu.vnLê Thị Phượngmaithanhluan@hdu.edu.vn<p>Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân lập 04 chủng nấm Trichoderma spp. lần lượt là Mtri1, Mtri2, Mtri3, Mtri4 và làm thuần từ các mẫu đất trồng và mẫu rễ cây trồng ở trạng thái khoẻ mạnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá. Cả 04 chủng nấm đều mang đặc điểm hình thái đặc trưng của chi Trichoderma spp. và thể hiện hoạt tính đối kháng với nấm Fusarium sp. gây bệnh thối rễ héo rũ trên cây Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.) trong điều kiện invitro. Trong đó, chủng nấm MTri1 và MTri 2 cho thấy khả năng đối kháng cao với hiệu quả ức chế sinh trưởng nấm bệnh Fusarium sp. đạt 79 - 80% sau 8 ngày nuôi cấy. Việc phân lập và bước đầu tuyển chọn được 02 chủng nấm đối kháng Trichoderma spp. có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nguồn giống cơ sở để nhân nhanh sinh khối phục vụ sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh hại cây trồng có nguồn gốc trong đất.</p>2025-10-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120024ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA 23 NGUỒN GEN BỒ BỒ (ADENOSMA INDIANA (LOUR.) MERR.)2025-10-14T10:50:47+07:00Trần Trung Nghĩanghiavdl@gmail.comTrần Trung Nghĩanghiavdl@gmail.comĐặng Minh Túnghiavdl@gmail.comNguyễn Văn Hiếunghiavdl@gmail.comNguyễn Văn Kiênnghiavdl@gmail.comNguyễn Thu Hằngnghiavdl@gmail.com<p>Cây Bồ bồ (Adenosma indiana (Lour.) Merr.), là một loại thảo dược quý với khả năng thích nghi và phân bố rộng. Ở Việt Nam, cây Bồ bồ phân bố rộng rãi ở hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng, trung du và miền núi. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tuyển chọn được mẫu giống có năng suất hàm lượng tinh dầu cao từ 23 mẫu giống thu thập ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy 07 mẫu giống: BB 01; BB 06; BB 07; BB 09; BB 17, BB21 và BB 23 là nhóm mẫu giống triển vọng, có năng suất cao (3,5 - 4,0 tấn/ha), chất lượng tốt (hàm lượng tinh dầu đạt 1,04 - 1,12%). 07 mẫu nguồn gen được chọn lọc vào giai đoạn tiếp theo nhằm mục tiêu chọn lọc được mẫu giống chất lượng cho sản xuất dược liệu Bồ bồ trên quy mô lớn.</p>2025-10-14T10:12:17+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120025ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC THAY THẾ PROTEIN TRONG KHẨU PHẦN BẰNG BỘT ẤU TRÙNG RUỒI LÍNH ĐEN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GÀ RI LAI NUÔI TẠI KHU THỰC HÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC2025-10-14T10:50:48+07:00Nguyễn Thị Hảinguyenthihai@hdu.edu.vnMai Thành Luânnguyenthihai@hdu.edu.vnHoàng Ngọc Hùngnguyenthihai@hdu.edu.vn<p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức thay thế protein trong khẩu phần bằng bột ấu trùng Ruồi lính đen đến khả năng sinh trưởng của Gà ri lai. Trong thí nghiệm này, 540 con Gà ri lai ¾ máu, 1 tháng tuổi, có khối lượng trung bình 382,61 g/con, được phân bố ngẫu nhiên vào 3 nghiệm thức với 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức. Bột ấu trùng ruồi lính đen được dùng để thay thế protein trong khẩu phần ăn với các mức 0% (đối chứng), 10% (NT1) và 15% (NT2). Kết quả cho thấy tỷ lệ sống đạt mức cao, dao động từ 95,00% - 96,66%. Đến tuần tuổi thứ 14, khối lượng cơ thể của gà nằm trong khoảng 1782,33 g - 1844,44 g/con, trong đó lô đối chứng có khối lượng thấp nhất và lô NT2 cao nhất. Trong giai đoạn 6 - 14 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng dao động từ 2,27 - 2,91 kg, với hiệu quả chuyển hóa thức ăn ở NT2 cao hơn các lô còn lại, chênh lệch lên đến 0,64 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Từ kết quả nghiên cứu, mức thay thế 15% bột ấu trùng Ruồi lính đen cho khô đậu tương trong khẩu phần ăn giúp tối ưu hiệu quả kinh tế khi nuôi Gà ri lai.</p>2025-10-14T10:16:01+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120028THÀNH PHẦN VÀ TÍNH ĐA DẠNG CÔN TRÙNG HỌ ÁNH KIM (CHRYSOMELIDAE) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PÙ LUÔNG, TỈNH THANH HOÁ2025-10-14T10:50:49+07:00Phạm Hữu Hùngphamhuuhung@hdu.edu.vnNguyễn Hữu Hảophamhuuhung@hdu.edu.vnVũ Thị Thu Hiềnphamhuuhung@hdu.edu.vnLại Thị Thanhphamhuuhung@hdu.edu.vn<p><em>Kết quả điều tra</em> <em>bằng phương pháp lập tuyến và điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông đã xác định được 580 cá thể thuộc 18 loài và phân loài, 13 giống. T</em>rong đó, giống <em>Sagra và Aulacophora có</em> số loài nhiều nhất, mỗi giống có 3 loài chiếm tỷ lệ 16,7%, giống <em>Podontia có</em> 2 loài chiếm 11,1%, 10 giống còn lại, mỗi giống chỉ có 1 loài chiếm 5,6%. Chỉ số Shannon cao nhất ở trảng cây bụi xen cây gỗ thứ sinh (H’ = 2,85), tiếp đến là rừng thứ sinh (H’ = 2,77) và thấp nhất ở trảng cỏ thứ sinh (H’ = 2,25). Chỉ số Simpsons D càng nhỏ thì tính đa dạng càng cao, giá trị các chỉ số này ở các sinh cảnh hoàn toàn phù hợp với giá trị chỉ số Shannon. Chỉ số Margalef biến động từ 3,36 đến 4,37, cao nhất ở trảng cỏ thứ sinh, thấp nhất ở khu vực quanh bản làng và nương rẫy. Chỉ số tương đồng giữa rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh là cao nhất (SI = 82,86%) và thấp nhất giữa rừng nguyên sinh và trảng cỏ thứ sinh (SI = 28,76%).</p>2025-10-14T10:34:58+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120032NGHIÊN CỨU NHÂN IN VITRO MỘT SỐ GIỐNG HOA DẠ YẾN THẢO (PETUNIA HYBRID L.) MỚI NHẬP NỘI 2025-10-14T10:50:50+07:00Nguyễn Thị Minh Hồngnguyenthiminhhong@hdu.edu.vnBùi Thị Huyềnnguyenthiminhhong@hdu.edu.vnPhạm Thu Trangnguyenthiminhhong@hdu.edu.vn<p>Nhân in vitro một số giống hoa Dạ yến thảo mới nhập nội (FPET600, FPET180 và FPETC001) được thực hiện trên nền môi trường MS (Murashige and Skoog). Kết quả nghiên cứu đã xác định khi tạo nguồn mẫu sạch cần sử dụng Preset 0,5% + Javen 25% trong thời gian 7 - 10 phút, tỷ lệ mẫu sạch tái sinh chồi đạt từ 50% - 56,7%. Ở giai đoạn nhân nhanh chồi cần sử dụng môi trường MS + 0,7 mg/l BAP đạt số chồi cao nhất ở cả 3 giống từ 5,8 - 6,6 chồi/mẫu, chiều cao TB/chồi đạt từ 3,0 - 3,3 cm, chất lượng chồi tốt, lá xanh, to. Môi trường thích hợp khi ra rễ MS + 1 g/l than hoạt tính + (0,2 - 0,3 mg/l) αNAA số rễ đạt 5,2 - 6,1 rễ/cây; chiều dài rễ 4,2 - 4,7 cm, rễ dài, mập sau 4 tuần theo dõi.</p>2025-10-14T10:49:51+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120034NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CÂY GIỐNG NÁNG HOA TRẮNG (CRINUM ASIATICUM L.) TẠI THANH HÓA2025-10-14T10:50:52+07:00Đặng Quốc Tuấndangquoctuanvdl@gmail.comLê Chí Hoàndangquoctuanvdl@gmail.comVương Đình Tuấndangquoctuanvdl@gmail.comVương Đình Tuấndangquoctuanvdl@gmail.comVũ Văn Chiếndangquoctuanvdl@gmail.com<p>Tiêu chuẩn cây giống náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.), cây giống xanh tươi, màu sắc tự nhiên, cây khỏe, cân đối, không bị nhiễm sâu bệnh, héo úa, dập gãy, đứt rễ, rách lá. Tỷ lệ mọc mầm: ≥ 85%, chiều cao cây: 34,0 cm, số lá thật/cây: 3,0 lá, chiều dài lá: 28,0 cm, chiều rộng lá: 3,0 cm, đường kính thân: 1.0 cm, tuổi cây giống: 135 ngày (tính từ gieo ươm hạt đến khi xuất vườn), tỷ lệ nhiễm sâu bệnh: 0%, tỷ lệ cây sống sau trồng (30 ngày): ≥ 95%.</p>2025-10-14T10:40:21+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệphttps://vjol.info.vn/index.php/HD-khnonglamngunghiep/article/view/120036PHÂN LẬP, LÀM THUẦN VÀ XÂY DỰNG QUY TRÌNH NHÂN NHANH SINH KHỐI NẤM RHIZOPUS OLIGOSPORUS SỬ DỤNG SẢN XUẤT BÁNH ĐẬU TƯƠNG LÊN MEN TEMPEH2025-10-14T10:50:52+07:00Phạm Thị Thanh Bìnhphamthithanhbinh@hdu.edu.vnMai Thành Luânphamthithanhbinh@hdu.edu.vnNguyễn Thị Mai Anhphamthithanhbinh@hdu.edu.vnPhạm Phương Anhphamthithanhbinh@hdu.edu.vn<p>Rhizopus oligosporus là loài nấm mốc được sử dụng để làm men tạo thực phẩm Tempeh, một sản phẩm đậu tương lên men giàu dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe và đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Trong nghiên cứu này, chủng nấm R. oligosporus đã được phân lập và làm thuần hóa thành công. Đồng thời, các điều kiện tối ưu về giá thể nhân nuôi và nhiệt độ cũng được xác định nhằm mục tiêu nhân nhanh sinh khối tạo nguồn men vi sinh phục vụ cho quá trình sản xuất Tempeh từ đậu tương.</p>2025-10-14T10:48:09+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Trường Đại học Hồng Đức – Khoa học Nông - Lâm - Ngư nghiệp