Journal of Science and Technique: Section on Special Construction Engineering https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn</strong></p> vi-VN jst@lqdtu.edu.vn (PGS. TS. Mai Ngọc Anh) thuyttk@lqdtu.edu.vn (Trần Thị Kim Thúy) Mon, 12 Jan 2026 03:14:46 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 PHÂN TÍCH SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MÔ HÌNH ỨNG XỬ KHÁC NHAU CỦA GỐI CÁCH CHẤN ĐẾN PHẢN ỨNG ĐỘNG ĐẤT CỦA NHÀ NHIỀU TẦNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/125999 <p>Gối cách chấn được xem là giải pháp hiệu quả trong thiết kế kháng chấn, được ứng dụng rộng rãi ở các khu vực có động đất mạnh và ngày càng được áp dụng ở khu vực động đất trung bình. Mặc dù phần mềm phân tích kết cấu hiện nay cung cấp nhiều mô hình ứng xử khác nhau để mô phỏng sự làm việc của gối cách chấn, nhưng sự phù hợp của các mô hình này trong phân tích vẫn còn chưa rõ ràng. Bài báo tiến hành phân tích số đánh giá ảnh hưởng của các mô hình ứng xử khác nhau của gối cách chấn – bao gồm mô hình tuyến tính, mô hình dẻo Wen, mô hình song tuyến tính và mô hình gối cao su – với phản ứng động đất của kết cấu nhà nhiều tầng. Các phân tích lịch sử thời gian được thực hiện đối với kết cấu nhà cách chấn điển hình bằng cách sử dụng giản đồ gia tốc động đất Northridge năm 1994, được khớp phổ phản ứng. Gối cách chấn được mô hình bằng phần tử lò xo với các tham số cấu thành tương ứng với các mô hình được khảo sát. Các thông số chính của phản ứng kết cấu, gồm ứng xử gối cách chấn, chuyển vị đỉnh và lực cắt đáy của công trình được sử dụng trong phân tích để so sánh phản ứng của kết cấu với các mô hình gối cách chấn khác nhau. Kết quả cho thấy, các mô hình phi tuyến (mô hình dẻo Wen, mô hình song tuyến tính và mô hình gối cao su) cho kết quả tương đồng nhau, trong khi mô hình tuyến tính đưa ra các kết quả quá cao về lực và chuyển vị. Kết quả này làm rõ những hạn chế của việc sử dụng mô hình tuyến tính tương đương và nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng các mô hình phi tuyến để đánh giá chính xác hơn ứng xử của kết cấu cách chấn chịu tác dụng của động đất.</p> Trần Hải Đăng, Nguyễn Xuân Đại, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Hoàng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/125999 Sat, 10 Jan 2026 00:00:00 +0700 NHẬN DẠNG HƯ HỎNG TRONG KẾT CẤU DẠNG DẦM THÔNG QUA SỰ THAY ĐỔI TẦN SỐ RIÊNG TƯƠNG ĐỐI https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126000 <p>Các phương pháp xác định hư hỏng dựa trên phân tích dao động đã được chứng minh hiệu quả trong việc quan trắc trạng thái kỹ thuật công trình. Các tham số dao động, bao gồm tần số tự nhiên và dạng dao động, đóng vai trò là các chỉ báo tổng thể về trạng thái của kết cấu. Những thay đổi của các tham số này có thể chỉ ra hư hỏng bên trong kết cấu. Bài báo đề xuất một phương pháp nâng cao để phát hiện hư hỏng thông qua sự thay đổi tần số dao động riêng. Bằng cách xác định sự thay đổi tần số giữa kết cấu còn nguyên vẹn và bị hư hỏng, có thể tính toán được, quá trình phát hiện hư hỏng trong kết cấu được thực hiện bằng cách ước lượng sai số nhỏ nhất tương ứng tại tất cả các vị trí trên kết cấu. Phương pháp này thực hiện so sánh các thay đổi tần số dao động đo được với các giá trị giải tích, đặc trưng cho sự thay đổi tần số do hư hỏng gây ra. Hiệu quả của phương pháp đề xuất được xác thực thông qua mô phỏng số và thử nghiệm trên kết cấu thực.</p> Tạ Đức Tuân, Vũ Văn Tuấn Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126000 Sat, 10 Jan 2026 08:54:27 +0700 ỨNG XỬ CỦA KẾT CẤU NHỊP CẦU BAILEY DƯỚI TÁC DỤNG CỦA TẢI TRỌNG DI ĐỘNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126001 <p>Cầu giàn thép Bailey thường được sử dụng làm cầu tạm trong một số tình huống giao thông khẩn cấp như phục vụ cứu hộ cứu nạn, sửa chữa cầu cũ. Việc nghiên cứu ảnh hưởng vận tốc tải trọng đến kết cấu cầu có tính cấp thiết, để đưa ra chế độ khai thác phù hợp. Bài báo trình bày việc nghiên cứu ảnh hưởng của vận tốc xe chạy trên cầu đến giá trị nội lực thanh giàn và độ võng của kết cấu nhịp. Các tác giả sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn trên phần mềm SAP2000. Kết quả nhận được cho thấy vận tốc xe chạy có ảnh hưởng không lớn đến giá trị nội lực thanh giàn và độ võng của kết cấu nhịp cầu, trên cơ sở đó có thể quy định tốc độ xe phù hợp để tăng lưu lượng xe qua cầu khi cần thiết.</p> Nguyễn Mạnh Thường, Đặng Thị Thu Hiền, Lê Văn Mạnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126001 Sat, 10 Jan 2026 09:04:03 +0700 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TỈ LỆ LỚN 1:2000 KHU VỰC ĐẢO SAN HÔ CHÌM https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126002 <p>Bài báo trình bày phương pháp xây dựng bản đồ địa chất công trình tỉ lệ lớn (1:2000) cho các đảo san hô chìm tại vùng biển Việt Nam dựa trên tiêu chuẩn TCVN 9156:2012. Mục tiêu nhằm phản ánh đầy đủ các yếu tố môi trường địa chất đặc thù (trầm tích san hô) có ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất, thiết kế và thi công công trình. Trong bối cảnh chưa có tiêu chuẩn quốc gia riêng cho khu vực biển đảo có nền san hô, nghiên cứu đã lựa chọn, áp dụng một số tiêu chuẩn và tài liệu có liên quan để tham khảo, đồng thời chỉ ra các vấn đề chính cần lưu ý trong quá trình đo vẽ bản đồ địa chất công trình tỉ lệ lớn tại khu vực này.<br>Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc xây dựng bản đồ địa chất công trình tỉ lệ lớn có giá trị khoa học và thực tiễn trong quy hoạch xây dựng, quản lý tài nguyên và giảm thiểu rủi ro thiên tai. Bài báo đề xuất tiếp tục nâng cao độ chính xác của công tác khảo sát và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp. Định hướng nghiên cứu trong tương lai tập trung vào ứng dụng công nghệ hiện đại như bản đồ số tích hợp GIS, bản đồ địa chất 3D kết hợp thực tế ảo (VR) để mô phỏng điều kiện địa chất và hỗ trợ đánh giá rủi ro, nhằm đáp ứng các thách thức do biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững.</p> Nguyễn Quý Đạt, Đinh Quang Trung Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126002 Sat, 10 Jan 2026 09:09:50 +0700 XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ HƯ HỎNG CỦA KẾT CẤU DẦM THÉP THÔNG QUA SỰ THAY ĐỔI TẦN SỐ DAO ĐỘNG RIÊNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126003 <p>Khi hư hỏng xuất hiện trong kết cấu sẽ dẫn đến thay đổi những đặc trưng động lực học như tần số dao động riêng, dạng dao động riêng, tỉ số cản... so với kết cấu không hư hỏng. Dựa trên điều này, một số phương pháp được nghiên cứu và sử dụng để xác định vị trí vùng hư hỏng của kết cấu. Trong bài báo này, tiến hành nghiên cứu trên dầm thép công xôn có tiết diện không thay đổi, dầm công xôn được phân tách thành các vùng, trong đó mỗi vùng có một phân loại cụ thể của bốn tần số dao động riêng đầu tiên được chuẩn hóa. Vùng hư hỏng được phân biệt bằng cách phân loại các tần số chuẩn hóa của kết cấu thông qua tỉ lệ giữa tần số dao động riêng của dầm hư hỏng và tần số dao động riêng của dầm ban đầu. Tiến hành mô phỏng với kết cấu dầm công xôn ban đầu và kết cấu dầm công xôn hư hỏng bằng phần mềm SAP2000 và xác định tần số dao động riêng của dầm công xôn, làm cơ sở cho việc nhận dạng vị trí và mức độ hư hỏng của kết cấu. Kết quả nhận dạng cho thấy vùng hư hỏng nhận dạng được phù hợp với vị trí hư hỏng giả định ban đầu và không phụ thuộc vào mức độ hư hỏng của kết cấu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể dựa vào sự thay đổi tần số dao động riêng để xác định được vị trí hư hỏng trên kết cấu dầm thép công xôn, làm cơ sở ứng dụng cho việc xác định vị trí hư hỏng của kết cấu phức tạp hơn và các công trình thực tế.</p> Trần Trung Đức Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126003 Sat, 10 Jan 2026 09:14:01 +0700 NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT VÀ CHUYỂN VỊ CỦA TẤM BÊ TÔNG SAN HÔ CỐT FRP GIA CƯỜNG TRC CHỊU TẢI TRỌNG SÓNG NỔ https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126004 <p>Bài báo trình bày kết quả mô phỏng trạng thái ứng suất và chuyển vị của tấm bê tông san hô cốt sợi thủy tinh FRP, được gia cường bằng lớp bê tông cốt lưới dệt TRC dưới tác động của tải trọng sóng nổ. Tấm bê tông sử dụng bê tông san hô cấp độ bền B22,5 làm lớp lõi, kết hợp với lưới dệt Sigratex Grid 350 đặt trong lớp bê tông hạt mịn mác 600 làm lớp gia cường bề mặt. Việc kết hợp giữa vật liệu FRP, TRC và bê tông san hô không chỉ đáp ứng yêu cầu chống ăn mòn, tận dụng cốt liệu địa phương mà còn nâng cao khả năng chịu tải trọng động cho kết cấu. Đây là hướng nghiên cứu mới, có ý nghĩa thiết thực trong thiết kế và xây dựng công trình biển đảo phục vụ phát triển kinh tế và đảm bảo quốc phòng - an ninh. Kết quả mô phỏng cho thấy lớp TRC có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm ứng suất và chuyển vị tại tâm tấm, đồng thời thu hẹp vùng phá hoại cục bộ khi chịu tác động của sóng xung kích.</p> Nguyễn Thị Thu Nga, Vũ Đình Thanh, Nguyễn Xuân Bàng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126004 Sat, 10 Jan 2026 09:24:35 +0700 TỔNG QUAN VỀ CÁC TIÊU CHÍ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VẬT LIỆU XÂY DỰNG BỀN VỮNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126005 <p>Trong thập kỷ qua, vật liệu xây dựng bền vững (Sustainable Building Materials – SBM) đã nhận được sự quan tâm ngày càng lớn trong ngành xây dựng, dẫn đến nhiều nghiên cứu nhằm khám phá các tiêu chí đánh giá hiệu quả và tính bền vững của chúng. Mặc dù mối quan tâm này không ngừng gia tăng, song vẫn còn thiếu một nghiên cứu tổng quan có hệ thống về các tiêu chí bền vững chủ chốt được sử dụng trong việc lựa chọn vật liệu xây dựng, điều có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu tương lai và ứng dụng thực tiễn. Do đó, bài báo này tiến hành rà soát có hệ thống các tài liệu hiện có liên quan đến tiêu chí bền vững trong lựa chọn vật liệu xây dựng, thông qua phân tích các bài báo khoa học được bình duyệt. Nghiên cứu áp dụng phương pháp Tổng quan tài liệu có hệ thống (Systematic Literature Review – SLR), tuân thủ hướng dẫn PRISMA (Preferred Reporting Items for Systematic Reviews and Meta-Analyses). Dữ liệu được trích xuất từ cơ sở dữ liệu Scopus, bao gồm 27 công trình khoa học có ảnh hưởng liên quan đến tiêu chí lựa chọn SBM trong giai đoạn 2015–2024. Kết quả tổng hợp và phân tích xác định bốn nhóm tiêu chí chính: môi trường, kinh tế, xã hội và kỹ thuật. Đồng thời, một mô hình khung được xây dựng nhằm giúp hiểu rõ hơn về các tiêu chí bền vững này. Các phát hiện của nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về các yếu tố bền vững cốt lõi, hỗ trợ các chuyên gia trong ngành, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức định hướng bền vững trong việc xây dựng hướng dẫn và chiến lược lựa chọn vật liệu hiệu quả hơn. Ngoài ra, bảng kiểm (checklist) và mô hình khung được trình bày trong bài báo này là tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu trong việc thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo về xây dựng bền vững.</p> Bùi Kiến Tín Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126005 Sat, 10 Jan 2026 09:29:48 +0700 SO SÁNH CƯỜNG ĐỘ NÉN CỦA BÊ TÔNG CỐT SỢI THÉP DƯỚI TẢI TRỌNG TĨNH VÀ TẢI TRỌNG VA ĐẬP https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126006 <p>Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của hàm lượng sợi thép đến khả năng chịu nén của bê tông dưới điều kiện tải trọng tĩnh và va đập. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự gia tăng tỉ lệ sợi làm giảm đáng kể tính công tác của hỗn hợp: mẫu chứa 0,5% sợi đạt độ chảy cao nhất (245 mm), trong khi hàm lượng sợi thép tăng từ (1,0-2,0)% thì độ chảy còn khoảng 195 mm. Đối với cường độ nén tĩnh, giá trị dao động trong khoảng hẹp (176,97-179,87) MPa, phản ánh tác động hạn chế của sợi thép khi bê tông chịu tác dụng của tĩnh tải. Ngược lại, dưới tác động của tải trọng va đập, cường độ nén tăng rõ rệt (189,54-194,06) MPa, đồng thời khả năng biến dạng cũng được cải thiện đáng kể. Khi tốc độ tải trọng chuyển từ tĩnh sang va đập, hệ số tăng cường độ (DIF) được cải thiện từ (7-8)% cho tất cả các hàm lượng sợi, trong khi năng lượng hấp thụ biến dạng tăng khoảng hai lần, đạt 1,258 MJ/m³ ở hỗn hợp chứa 2,0% sợi (MT20). Sự cải thiện các tính chất này chủ yếu bắt nguồn từ cơ chế bắc cầu vết nứt và hiện tượng kéo tuột sợi, qua đó kìm hãm sự phát triển của vết nứt và nâng cao khả năng tiêu tán năng lượng của vật liệu. Trên cơ sở cân nhắc đồng thời tính công tác, cường độ nén và năng lượng hấp thụ biến dạng; hàm lượng sợi thép 1,5% được đề xuất là giá trị phù hợp cho các ứng dụng thực tế.</p> Đặng Văn Phi, Kim Dong Joo Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126006 Sat, 10 Jan 2026 09:39:41 +0700 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CƯỜNG ĐỘ VÀ NHIỆT ĐỘ ĐOẠN NHIỆT CỦA BÊ TÔNG CƯỜNG ĐỘ CAO CHO TRỤ CẦU https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126180 <p>Bài báo trình bày việc thiết kế và đánh giá thí nghiệm hỗn hợp bê tông cường độ cao sử dụng cho công trình trụ cầu, với cường độ nén 50 MPa. Thành phần hỗn hợp được thiết kế theo ACI 211.1-91, kết hợp xi măng, tro bay, xỉ lò cao, chất siêu dẻo và chất ức chế tăng nhiệt độ. Hỗn hợp được lựa chọn đạt cường độ thiết kế trong phòng thí nghiệm là 60 MPa. Các thí nghiệm xác định cường độ bê tông được tiến hành trên các mẫu hình lập phương và hình trụ ở 3, 7, 28 và 56 ngày. Kết quả cho thấy cường độ nén tăng từ 35,2 MPa sau 3 ngày lên 64,2 MPa sau 56 ngày, trong khi cường độ kéo tách tăng từ 3,12 MPa lên 5,19 MPa trong cùng thời kỳ. Mô đun đàn hồi được tính toán theo Tiêu chuẩn CEB-FIP 2010 đạt 40,47 GPa sau 56 ngày. Ngoài ra, một thiết bị đo đoạn nhiệt đã được thiết kế và cải tiến để theo dõi sự gia tăng nhiệt độ của bê tông. Các phép đo cho thấy nhiệt độ đoạn nhiệt tối đa là 76,6°C, tương ứng với mức tăng đoạn nhiệt là 52°C, với mức tăng nhanh nhất xảy ra trong khoảng từ 8 đến 32 giờ sau khi đổ. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu cần thiết để đánh giá ứng xử nhiệt và giảm thiểu nguy cơ nứt nhiệt trong các kết cấu bê tông khối lớn như trụ cầu.</p> Nguyễn Trọng Chức, Lê Văn Hưng, Hoàng Quốc Long Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126180 Mon, 12 Jan 2026 02:06:58 +0700 PHÂN TÍCH TẢI TRỌNG NỔ TÁC DỤNG LÊN CÔNG TRÌNH CÓ KỂ TỚI ẢNH HƯỞNG CỦA LỖ THOÁNG THEO TIÊU CHUẨN UFC 3-340-02 https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126181 <p>Thiết kế kháng nổ cho các kết cấu có lỗ thoáng là một thách thức lớn do sự phức tạp của quá trình lan truyền và tương tác của sóng nổ với cấu kiện bên trong công trình. Trong khi các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế đã được phát triển để giải quyết vấn đề này, Việt Nam chủ yếu dựa vào các phương pháp thực nghiệm để đánh giá tải trọng nổ bên ngoài trên các tòa nhà hình chữ nhật đơn giản và bỏ qua các hiệu ứng áp lực bên trong do thiếu dữ liệu thực nghiệm. Thay vì phụ thuộc vào các mô phỏng CFD phức tạp, bài báo này trình bày một phương pháp tiếp cận toàn diện sử dụng tiêu chuẩn UFC 3-340-02 để tính toán tải trọng nổ tác động cả lên mặt ngoài và mặt trong cấu kiện công trình. Một phương pháp tính toán tự động được giới thiệu để tự động tính toán các tải trọng trên và tạo ra các cơ sở dữ liệu tải trọng nhanh chóng. Nghiên cứu này cung cấp cho các kỹ sư Việt Nam một công cụ tính toán tải trọng nổ thực tế và một cách tiếp cận mới để phân tích chính xác các cấu kiện và nâng cao khả năng kháng lực của công trình với tải trọng nổ.</p> Vũ Đức Hiếu, Bùi Văn Tường Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126181 Mon, 12 Jan 2026 02:14:09 +0700 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GIẢI TÍCH ĐÁNH GIÁ TRẠNG THÁI ỨNG SUẤT – BIẾN DẠNG CỦA VỎ HẦM TRÒN ĐẶT SÂU TRONG NỀN ĐÁ DỊ HƯỚNG KHÔ CÓ XÉT TỚI TƯƠNG TÁC KHỐI ĐÁ – VỎ HẦM VÀ CÁC GIAI ĐOẠN THI CÔNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126182 <p>Trong bối cảnh Việt Nam định hướng chiến lược phát triển năng lượng hạt nhân, việc xử lý chất thải phóng xạ hoạt độ cao (HLW) từ các nhà máy điện hạt nhân là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết. Việc lưu trữ lâu dài HLW trong các kho chứa địa chất sâu là một giải pháp đang được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước phát triển, trong đó hầm đặt sâu là một thành phần cơ bản của hệ thống này. Hầm đặt sâu có tiết diện tròn cũng được sử dụng rất rộng rãi đối với các hầm đường bộ và đường sắt tốc độ cao xuyên núi. Hiện nay, các nghiên cứu về hầm đặt sâu, nơi các tầng đá thường biểu hiện tính chất dị hướng, ít được đề cập và nghiên cứu ở Việt Nam. Bài báo trình bày một phương pháp giải tích để đánh giá trạng thái ứng suất-biến dạng của một hầm tròn có vỏ đặt sâu trong nền đá dị hướng khô, có xét đến tương tác khối đá-vỏ hầm theo hai điều kiện: liên kết hoàn hảo và trượt tương đối. Ngoài ra, ảnh hưởng của bước tiến gương đào đến trạng thái ứng suất-biến dạng của vỏ hầm cũng được tính đến dựa trên phương pháp hội tụ-khống chế hội tụ nổi tiếng. Lời giải giải tích cho bài toán tương tác được phát triển bằng cách sử dụng phương pháp hàm thế phức kết hợp với kỹ thuật ánh xạ bảo giác và lý thuyết vỏ trụ mỏng đàn hồi. Lời giải đề xuất sẽ được kiểm chứng với các lời giải có sẵn cho một số trường hợp đặc biệt. Dựa trên lời giải thu được, các nghiên cứu tham số về khối đá dị hướng được tiến hành để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến ứng xử của vỏ hầm. Phương pháp giải tích này có thể được sử dụng như một công cụ phân tích nhanh để thiết kế sơ bộ các đường hầm đặt sâu trong nền đá dị hướng.</p> Vũ Tùng Lâm, Trần Nam Hưng, Phạm Đức Thọ Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126182 Mon, 12 Jan 2026 02:26:29 +0700 MÔ ĐUN ĐÀN HỒI TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA KẾT CẤU KHỐI XÂY: NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỒNG NHẤT KHỐI XÂY CÓ QUY CÁCH https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126184 <p>Việc xác định đặc tính cơ học của khối xây là một thách thức trọng tâm trong phân tích kết cấu do thành phần gạch và vữa không đồng nhất. Nghiên cứu này tiến hành đánh giá so sánh toàn diện bốn phương pháp để xác định các tính chất đàn hồi tương đương của khối xây: mô phỏng phần tử hữu hạn (FEM), phương pháp đồng nhất hai bước, phương pháp đồng nhất một bước dựa trên chuỗi Fourier và mô hình phần tử tiếp xúc. Mô phỏng FEM trên cấu trúc gạch–vữa 2D với chiều dày vữa thay đổi được sử dụng làm chuẩn tham chiếu. Các kết quả giải tích được so sánh với mô phỏng FEM cho mô đun đàn hồi phương dọc và phương ngang, mô đun cắt và hệ số Poisson. Phương pháp đồng nhất hai bước cho mức độ tương đồng rất cao so với kết quả FEM, với sai số thường dưới 3% cho mọi tham số. Ngược lại, phương pháp đồng nhất một bước cho mô đun đàn hồi phương ngang và mô đun trượt cao hơn (sai số tới 50-60%), trong khi phương pháp phần tử tiếp xúc lại đánh giá thấp chúng, từ 20-55%. Sai lệch này tăng lên khi chiều dày mạch vữa lớn hơn, phản ánh sự khác biệt trong giả thiết mô hình. Nhìn chung, kết quả FEM nằm trong khoảng được giới hạn bởi dự đoán cứng hơn của phương pháp đồng nhất một bước và dự đoán mềm hơn của phương pháp phần tử tiếp xúc, còn phương pháp đồng nhất hai bước bám sát nhất với giá trị tham chiếu. Nghiên cứu kết luận rằng phương pháp hai bước là phù hợp nhất cho thiết kế kỹ thuật, trong khi mô hình phần tử tiếp xúc lại có giá trị đối với các phân tích khi vữa phi tuyến.</p> Trần Nam Hưng, Nguyễn Thị Thu Nga Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126184 Mon, 12 Jan 2026 02:37:24 +0700 MÔ PHỎNG ÁP LỰC NỔ TÁC DỤNG LÊN CỬA CÔNG TRÌNH BẰNG PHẦN MỀM ABAQUS https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126185 <p>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về áp lực sóng phản xạ tác dụng lên cửa công trình bằng phương pháp mô phỏng sử dụng phần mềm Abaqus. Nghiên cứu sử dụng công thức thực nghiệm của Sadovskii làm cơ sở lý thuyết để xác định giá trị áp lực sóng xung kích. Các mô phỏng được thực hiện với các tham số thay đổi gồm: khối lượng thuốc nổ TNT từ 50 kg đến 200 kg, khoảng cách từ tâm nổ đến cửa công trình (R₀) từ 10 m đến 25 m, và góc tới α giữa phương truyền sóng xung kích và pháp tuyến bề mặt cửa từ 0° đến 60° với điều kiện cửa công trình là tuyệt đối cứng, bất động. Kết quả cho thấy sai số giữa mô phỏng Abaqus và công thức thực nghiệm nằm trong khoảng từ 1,123% đến 13,65%, chứng tỏ độ tin cậy cao của phương pháp mô phỏng. Áp lực phản xạ giảm dần khi khoảng cách R₀ tăng và biến thiên phức tạp theo góc α do đặc điểm bề mặt cong của cửa bảo vệ. Nghiên cứu khẳng định rằng phần mềm Abaqus là một công cụ hiệu quả trong việc dự đoán và phân tích áp lực nổ tác dụng lên kết cấu cửa công trình, góp phần nâng cao hiệu quả và độ an toàn trong thiết kế, thi công cửa công trình tiếp cận trong thực tiễn. Cùng với đó ảnh hưởng của bán kính cong của bề mặt cong của cửa tới giá trị áp lực sóng phản xạ là phức tạp. Khi tính toán tải trọng tác dụng lên cửa công trình cần chú ý khảo sát giá trị áp lực sóng phản xạ trung bình tại bề mặt cong để có thể tính toán chính xác.</p> Phạm Đức Thảo, Ngô Ngọc Thủy, Trần Văn Lợi Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126185 Mon, 12 Jan 2026 02:48:03 +0700 GIẢI PHÁP CẢI TIẾN ĐỘ CHÍNH XÁC DỮ LIỆU VỊ TRÍ KHI CẬP NHẬT BẢN ĐỒ TỪ THIẾT BỊ DI ĐỘNG SỬ DỤNG BỘ LỌC KALMAN https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126186 <p>Với sự phổ biến ngày càng tăng của các thiết bị di động, việc thu thập liên tục dữ liệu không gian địa lý trực tiếp ngoài thực địa, chẳng hạn như dữ liệu hình ảnh và tọa độ của các đối tượng, đã trở nên khả thi. Tuy nhiên, dữ liệu vị trí thu thập từ các thiết bị di động thường chứa nhiễu và sai số lớn, do đó việc tích hợp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu gặp nhiều thách thức về độ chính xác. Trong bối cảnh các khu công nghiệp ở Việt Nam liên tục mở rộng và thay đổi hạ tầng giao thông, việc ứng dụng công nghệ GPS tích hợp GIS cho phép tự động cập nhật bản đồ đường giao thông nội khu một cách chính xác và hiệu quả hơn. Bài báo đề xuất phương pháp tối ưu hóa dữ liệu dạng điểm được sử dụng để cập nhật bản đồ số từ thiết bị di động. Trong đó, bộ lọc Kalman được sử dụng như một giải pháp cải thiện độ chính xác của dữ liệu vị trí khi cập nhật bản đồ từ thiết bị di động. Việc lập trình thử nghiệm trên thiết bị di động sử dụng các thư viện Flutter và MapLibre GL, trong khi chương trình máy tính để bàn được phát triển dựa trên phần mềm QGIS. Hệ quản trị cơ sở dữ liệu được sử dụng là PostgreSQL và PostGIS/GeoServer. Các thí nghiệm cập nhật dữ liệu trên thiết bị di động thực tế cho thấy phương pháp đề xuất có thể hiệu quả trong việc hạn chế sai số vị trí và giảm thiểu rủi ro do dữ liệu bất thường gây ra. Bằng cách ứng dụng phương pháp đề xuất, sai số định vị đã giảm từ khoảng 8,23 m xuống chỉ còn 3,11 m. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy những cải thiện đáng kể về độ chính xác tọa độ, loại bỏ dữ liệu trùng lặp và nâng cao hiệu quả cập nhật bản đồ.</p> Mai Đình Sinh, Lò Văn Cương, Trần Đăng Ninh, Lương Thị Lan Hương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126186 Mon, 12 Jan 2026 00:00:00 +0700 ƯỚC TÍNH ĐỘ SÂU BẰNG HỌC MÁY TỪ ẢNH VỆ TINH SENTINEL-2: MỘT TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU TẠI VÙNG VEN BIỂN GIA LAI, VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126187 <p>Nghiên cứu này đánh giá tiềm năng ứng dụng các thuật toán học máy trong ước tính độ sâu vùng nước nông từ ảnh vệ tinh Sentinel-2 tại khu vực ven biển tỉnh Gia Lai, Việt Nam. Ảnh Sentinel-2 Level-2A được thu nhận vào ngày 23 tháng 01 năm 2020 trong điều kiện quang học ổn định và ít mây, sau đó được hiệu chỉnh khí quyển trước khi sử dụng. Dữ liệu độ sâu thực địa được thu thập bằng máy đo sâu hồi âm một tia kết hợp với thiết bị định vị GPS và được sử dụng làm tập dữ liệu huấn luyện và kiểm định. Năm mô hình học máy Hồi quy tuyến tính đa biến (MLR), Rừng ngẫu nhiên (RF), Cây quyết định (DT), K-láng giềng gần nhất (KNN) và Bộ nhớ ngắn dài hạn (LSTM) được xây dựng và so sánh về độ chính xác trong ước tính độ sâu. Kết quả cho thấy hệ số xác định (R²) dao động trong khoảng từ 0,80 đến 0,91; sai số bình phương trung bình (RMSE) nằm trong khoảng từ 0,72 m đến 1,50 m và sai số trung bình tuyệt đối (MAE) dao động từ 0,49 m đến 0,72 m. Các kết quả này chứng minh tính khả thi của việc tích hợp ảnh Sentinel-2 với các thuật toán học máy trong thành lập bản đồ độ sâu vùng nước nông với độ chính xác cao. Hơn nữa, phương pháp đề xuất thể hiện tiềm năng ứng dụng mạnh mẽ đối với các khu vực ven biển khác của Việt Nam có điều kiện môi trường và quang học tương tự.</p> Nguyễn Như Hùng, Vũ Văn Trường, Lê Tấn Kiệt, Nguyễn Thị Thu Nga Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126187 Mon, 12 Jan 2026 03:05:59 +0700 SỬ DỤNG THUẬT TOÁN BCMO GIẢI CÁC BÀI TOÁN BỐ TRÍ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126188 <p>Việc sắp xếp bố trí các cơ sở vật chất phục vụ thi công trên công trường là một trong những bài toán quan trọng của công tác tổ chức xây dựng công trình, nhưng đồng thời cũng là loại bài toán tối ưu tổ hợp phức tạp. Các phương pháp metaheuristic được đánh giá là có khả năng mạnh mẽ và giải quyết có hiệu quả cao lớp các bài toán như vậy. Thuật toán Balancing Composite Motion Optimization (BCMO) là một thuật toán metaheuristic mới được đề xuất gần đây. Bài báo trình bày việc xây dựng mô hình bài toán và sử dụng thuật toán BCMO với các biến nguyên rời rạc để giải quyết bài toán bố trí cơ sở phục vụ trên mặt bằng thi công theo mô hình tĩnh. Một thử nghiệm số với ba trường hợp của bài toán tĩnh chọn từ các bài toán mẫu được tiến hành. Kết quả được so sánh với kết quả nhận được từ các thuật toán khác, cho thấy các ưu điểm của thuật toán là dễ sử dụng, khả năng tìm kiếm và phát hiện nhiều giải pháp tốt, tốc độ hội tụ nhanh. Quá trình thử nghiệm số cũng cho thấy sự cần thiết phải thử nghiệm, khám phá để tiếp tục cải thiện thuật toán.</p> Bùi Đức Năng, Bùi Nguyễn Dũng Nhân, Nguyễn Tiến Tĩnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDKTCT/article/view/126188 Mon, 12 Jan 2026 03:13:09 +0700