https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/issue/feed Journal of Science and Technique: Section on Information and Communication Technology 2026-01-12T09:18:40+07:00 PGS. TS. Mai Ngọc Anh jst@lqdtu.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn</strong></p> https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126205 aDisRAE: BỘ TỰ MÃ HÓA BIỂU DIỄN PHÂN BIỆT THÍCH ỨNG CHO PHÁT HIỆN TẤN CÔNG MẠNG TRONG ĐIỀU KIỆN ÍT MẪU 2026-01-12T09:18:14+07:00 Nguyễn Mạnh Tuấn loi.cao@lqdtu.edu.com Đặng Lê Đình Trang loi.cao@lqdtu.edu.com Cao Văn Lợi loi.cao@lqdtu.edu.com <p>Do sự khan hiếm dữ liệu bất thường có nhãn, học ít mẫu đã nổi lên như một hệ phương<br>pháp quan trọng để phát hiện các cuộc tấn công mạng mới và hiếm gặp. Mô hình DisRAE<br>học một không gian biểu diễn ẩn nơi dữ liệu bất thường được đẩy ra xa tâm cụm chứa dữ<br>liệu bình thường, nhưng lại gặp khó khăn với các cuộc tấn công có hành vi tương tự hành vi<br>bình thường. Vì vậy, những bất thường tinh vi này thường được ánh xạ quá gần với cụm dữ<br>liệu bình thường, dẫn đến việc khó bị phát hiện. Để giải quyết hạn chế này, bài báo đề xuất<br>mô hình DisRAE thích ứng, gọi là aDisRAE. Phương pháp này cải tiến hàm mục tiêu huấn<br>luyện bằng cách tích hợp độ bất thường tiên nhiệm (prior outlier score) nhằm định lượng<br>mức độ tinh vi của mỗi bất thường. Điểm số này sẽ định hướng một cơ chế lực đẩy thích<br>ứng, tác động một lực mạnh hơn lên các bất thường giống với dữ liệu bình thường, đảm bảo<br>sự phân tách hiệu quả hơn trong không gian ẩn. Nhóm tác giả đánh giá aDisRAE trên ba bộ<br>dữ liệu tiêu chuẩn: NSL-KDD, CIC-IDS2017 và UNSW-NB15. Kết quả cho thấy một sự cải<br>thiện hiệu suất đáng kể, làm tăng chỉ số AUC lên đến 10% và thể hiện độ bền vững được<br>nâng cao, đặc biệt đối với các loại tấn công có tính lẩn tránh cao.</p> 2026-01-12T04:41:41+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126208 TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ BẢN QUYỀN VÀ TRUY VẾT NGUỒN GỐC TRONG CÁC NFT BẰNG THỦY VÂN MIỀN TẦN SỐ TÍCH HỢP BLOCKCHAIN 2026-01-12T09:18:20+07:00 Trịnh Tiến Lương thanhtm@lqdtu.edu.vn Tạ Minh Thanh thanhtm@lqdtu.edu.vn <p>Sự phát triển nhanh chóng của thị trường NFT đã làm nổi bật những thách thức lớn trong<br>việc bảo vệ bản quyền và xác thực quyền sở hữu. Mặc dù công nghệ blockchain đảm bảo<br>tính bất biến và minh bạch của các giao dịch token, nhưng việc lưu trữ dữ liệu và nội dung<br>gốc ngoài chuỗi vẫn là một lỗ hổng quan trọng, làm cho NFT dễ bị mất dữ liệu, thao túng và<br>tranh chấp bản quyền. Để giải quyết những vấn đề này, nghiên cứu này đề xuất một khuôn<br>khổ thủy vân tích hợp blockchain, nhúng thông tin bản quyền bền vững vào tài sản kỹ thuật<br>số thông qua phương pháp miền tần số tổng quát. Thủy vân được lưu trữ ngoài chuỗi trên<br>hệ thống tệp liên hành tinh (IPFS), trong khi mã nhận dạng nội dung (CID) của nó được<br>neo trong hợp đồng thông minh, đảm bảo khả năng truy vết nguồn gốc và xác minh tính xác<br>thực. Các thí nghiệm so sánh với phương pháp bit ít quan trọng nhất (LSB) cho thấy tính<br>bền vững vượt trội của kỹ thuật miền tần số được đề xuất trước các cuộc tấn công như nén,<br>nhiễu và thao tác hình ảnh. Giải pháp được đề xuất củng cố việc bảo vệ bản quyền, nâng<br>cao tính minh bạch trong việc truy vết nguồn gốc NFT và cung cấp nền tảng có thể mở rộng<br>cho việc quản lý tài sản kỹ thuật số an toàn trong các hệ sinh thái dựa trên blockchain.</p> 2026-01-12T04:55:23+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126218 TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU CỦA MÔ HÌNH HỌC MÁY CHO PHÁT HIỆN MÃ ĐỘC THÔNG QUA THIẾT KẾ HÀM KÍCH HOẠT 2026-01-12T09:18:25+07:00 Lưu Chí Đức son.pham@lqdtu.edu.vn Phạm Trường Sơn son.pham@lqdtu.edu.vn <p>Trong những năm gần đây, học máy đã nâng cao đáng kể hiệu năng của các hệ thống<br>phát hiện mã độc. Tuy đã đạt được hiệu suất cao, các mô hình này hiện đang đối mặt với<br>mối đe dọa ngày càng tăng từ các cuộc tấn công đối kháng. Các mẫu mã độc đối kháng có<br>thể được tạo ra một cách tinh vi nhằm đánh lừa các mô hình phát hiện, dẫn đến việc phân<br>loại sai các chương trình độc hại, cho phép chúng vượt qua các hệ thống bảo mật. Nhiều kỹ<br>thuật khác nhau đã được phát triển để tạo ra mã độc đối kháng, nhằm né tránh các loại hệ<br>thống phát hiện dựa trên học máy khác nhau. Mối đe dọa này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết<br>về các giải pháp giúp tăng cường khả năng chống chịu của các mô hình phát hiện mã độc<br>trước các cuộc tấn công đối kháng. Bài báo đánh giá và đề xuất một chiến lược phòng thủ<br>chống tấn công đối kháng dựa trên thiết kế hàm kích hoạt, không yêu cầu các phương pháp<br>tính toán chuyên sâu như huấn luyện đối kháng, đồng thời tăng cường khả năng chống chịu<br>tự nhiên của các mô hình học máy cho phát hiện mã độc trước các cuộc tấn công hộp đen.<br>Kết quả cho thấy rằng các tổ hợp hàm kích hoạt cụ thể, đặc biệt là ReLU và Tanh, có thể cải<br>thiện đáng kể khả năng chống chịu của mô hình mà không cần bổ sung thêm tác vụ huấn<br>luyện hoặc cấu hình suy luận. Nghiên cứu này cung cấp một góc nhìn thiết kế thực nghiệm<br>để xây dựng các hệ thống phát hiện mã độc sử dụng học máy với khả năng chống chịu nội<br>tại cao.</p> 2026-01-12T05:00:43+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126268 AMCF-NET: MẠNG HỢP NHẤT ĐA PHƯƠNG THỨC ĐA TỈ LỆ THÍCH ỨNG CHO BÀI TOÁN ĐỊNH VỊ CHÉO GIỮA ẢNH UAV VÀ ẢNH VỆ TINH 2026-01-12T09:18:29+07:00 Ngô Văn Quân thanhnc@ioit.ai.vn Phạm Quang Tùng thanhnc@ioit.ai.vn Nguyễn Chí Thành thanhnc@ioit.ai.vn <p>ảnh vệ tinh đóng vai trò quan trọng đối với việc điều hướng tự động trong các môi trường<br>không có GPS. Tuy nhiên, có những thách thức lớn nảy sinh từ khoảng cách miền bao gồm<br>sự khác biệt về góc nhìn, sự thay đổi về tỉ lệ và sự khác biệt về đặc điểm hình ảnh giữa<br>ảnh UAV và ảnh vệ tinh. Trong bài báo này, chúng tôi đề xuất mạng hợp nhất đa tỉ lệ và đa<br>phương thức thích ứng (Adaptive Multi-scale Cross-modal Fusion Network – AMCF-Net), một<br>phương pháp mới giải quyết hiệu quả các hạn chế này thông qua kiến trúc backbone dùng<br>chung và cơ chế hợp nhất thích ứng.<br>Không giống như các phương pháp sử dụng hai backbone trước đây xử lý ảnh UAV và<br>ảnh vệ tinh tách biệt, phương pháp của chúng tôi sử dụng một backbone FocalNet-Tiny thống<br>nhất để trích xuất đặc trưng đa phương thức, tiếp theo là mô đun hợp nhất đặc trưng đa<br>phương thức thích ứng không gian (AMCF) để kết hợp động các đặc trưng đa tỉ lệ dựa trên<br>trọng số thích ứng được học. Cách tiếp cận học biểu diễn chung này giúp cải thiện đáng kể<br>khả năng căn chỉnh đa phương thức và giảm đáng kể chi phí tính toán.<br>Các thí nghiệm toàn diện trên bộ dữ liệu UL14 cho thấy AMCF-Net đạt hiệu suất hàng<br>đầu, với Điểm khoảng cách tương đối (RDS) đạt 78,12% và độ chính xác ở mức mét là<br>27,25% tại 3 m, 50,16% tại 5 m, 84,37% tại 10 m và 88,51% tại 20 m. Các thử nghiệm xác<br>nhận hiệu quả của mạng backbone dùng chung và cơ chế hợp nhất thích ứng cho thấy những<br>cải thiện đáng kể so với các phương pháp xử lý tách biệt truyền thống.</p> 2026-01-12T08:57:22+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126273 VINEURO: MÔ HÌNH HỢP NHẤT ĐA PHƯƠNG THỨC EEG-MÁU CHO DỰ ĐOÁN NGUY CƠ ALZHEIMER 2026-01-12T09:18:33+07:00 Nguyễn Thành Trung trung.ntc10@benhvien108.vn <p>Dự đoán sớm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer có ý nghĩa then chốt để can thiệp kịp thời,<br>nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong thực hành lâm sàng thường quy. Điện não đồ (EEG)<br>là phương tiện rẻ tiền và không xâm lấn, tuy nhiên chỉ riêng EEG thường không đủ độ nhạy<br>và độ ổn định để ước lượng nguy cơ ở giai đoạn sớm một cách đáng tin cậy. Song song đó,<br>các xét nghiệm máu thường quy phản ánh những thay đổi về miễn dịch ngoại vi, tình trạng<br>viêm và chuyển hoá liên quan tới suy giảm nhận thức, gợi ý rằng việc kết hợp EEG với<br>các chỉ dấu sinh học từ máu có thể giúp phân tầng nguy cơ giàu thông tin hơn. Trong công<br>trình này, tác giả đề xuất ViNeuro, một mô hình đa mô thức EEG-máu được thiết kế chuyên<br>biệt cho bài toán dự đoán nguy cơ Alzheimer. Trước hết là bước tiền huấn luyện một bộ mã<br>hoá nền tảng EEG duy nhất, gọi là ViNeuro-EEG, sử dụng mục tiêu tự giám sát kép (dual<br>self-supervised objective) của mô hình EEGPT kết hợp với backbone criss-cross và mã hoá<br>vị trí học được (learned positional encoding) của mô hình CBraMOD. Quá trình tiền huấn<br>luyện được thực hiện trên một corpora EEG lâm sàng đa kênh đã được chuẩn hoá, bao gồm<br>cả các bản ghi EEG từ Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ở Việt Nam và các bộ dữ liệu<br>quốc tế. Trên nền bộ mã hoá này xây dựng ViNeuro-MM, mô hình đa phương thức chiếu các<br>chỉ dấu sinh học từ xét nghiệm máu vào không gian embedding của EEG và sử dụng chúng<br>như các truy vấn trong một lớp cross-attention trên các token EEG. Nghiên cứu đánh giá<br>ViNeuro trên cohort PEARL-Neuro cho bài toán dự đoán nguy cơ Alzheimer. So với phiên<br>bản chỉ dùng EEG, ViNeuro-MM đạt mức cải thiện hiệu năng đáng kể, với mức tăng tương<br>đối lên tới 24,72% về độ chính xác cân bằng (balanced accuracy), cho thấy rằng việc kết<br>hợp các chỉ dấu sinh học từ xét nghiệm máu thường quy với các biểu diễn nền tảng từ EEG<br>có thể nâng cao rõ rệt khả năng dự đoán sớm nguy cơ Alzheimer.</p> 2026-01-12T09:09:44+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/LQDTUCNTTTT/article/view/126275 XÂY DỰNG THUẬT TOÁN PHÁT HIỆN ĐỐI TƯỢNG ỨNG DỤNG CHO HỆ QUANG ĐIỆN TỬ TRÊN TÀU MẶT NƯỚC SỬ DỤNG MÔ HÌNH HỌC SÂU 2026-01-12T09:18:37+07:00 Nguyễn Minh Thuận tungtx@lqdtu.edu.vn Trần Văn Nam tungtx@lqdtu.edu.vn Trương Xuân Tùng tungtx@lqdtu.edu.vn <p>Phát hiện tự động đối tượng tàu thuyền trên mặt nước là nhiệm vụ quan trọng trong giám<br>sát hàng hải và an ninh. Bài báo này đề xuất cải tiến cho mô hình YOLOv8 của Ultralytics<br>để đạt độ chính xác cao hơn và tốc độ xử lý nhanh hơn khi nhận diện tàu biển dưới các điều<br>kiện ánh sáng và thời tiết khắc nghiệt. Tác giả tích hợp ba kỹ thuật chính: khối C3Plus mới,<br>cơ chế chú ý cục bộ PSA (Position-wise Spatial Attention) và module CBAM (Convolutional<br>Block Attention Module) để nâng cao khả năng học đặc trưng của mạng. Thí nghiệm trên<br>tập dữ liệu ảnh tàu biển đa dạng cho thấy mô hình cải tiến mang lại mAP tăng thêm khoảng<br>3–6% so với YOLOv8 gốc trong khi duy trì tốc độ xử lý tương đương. Đặc biệt, trong điều<br>kiện tối hoặc nhiều nhiễu nền, cải tiến CBAM và PSA giúp giảm bỏ sót đối tượng và cải<br>thiện độ bền của mô hình.</p> 2026-01-12T09:17:10+07:00 Bản quyền (c)