Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH <p><strong>Tạp chí của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu</strong></p> vi-VN trantank51bao@gmail.com (Trần Thị Tân) Wed, 12 Nov 2025 10:03:46 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Đánh giá xu thế biến đổi khí hậu ở Thành phố Hồ Chí Minh bằng kiểm định phi tham số Mann-Kendall https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121686 <p>Bài báo đánh giá xu thế biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) của lượng mưa năm giai đoạn 1980-2024 sử dụng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Mann-Kendall và ước lượng xu thế Sen. Các kết quả được đánh giá dựa trên quá trình phân tích thống kê ở mức ý nghĩa Pvalue =0,1 (xác suất phạm sai lầm loại I là 10%). Với nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao tuyệt đối, tối thấp tuyệt đối có mức tăng tương ứng là: 0,04oC/năm, 0,03oC/năm, 0,08oC/năm (thỏa mãn Pvalue &lt;0,1), về lượng mưa năm tăng 8,49 mm/năm, và mùa khô tăng 3,63 mm/năm (thỏa mãn ý nghĩa thống kê, riêng lượng mưa mùa mưa tăng 2,92 mm/năm tuy nhiên Pvalue =0,4 không thỏa mãn ý nghĩa thống kê), Rx1day và Rx5day có xu thế tăng tuy nhiên Pvalue &gt;0,1, và xu thế của số ngày tối đa không mưa giảm 0,58 day/năm (Pvalue =0,1). Xu thế biến đổi khí hậu ở TP.HCM đang diễn ra rất rõ rệt thể hiện rõ qua sự gia tăng của nhiệt độ và lượng mưa. </p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121686 Wed, 12 Nov 2025 08:13:31 +0700 Nghiên cứu đánh giá xu thế biến đổi mưa cực đoan tại khu vực phía Đông Bắc Tỉnh Cà Mau https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121688 <p>Nghiên cứu này đánh giá xu thế biến đổi mưa cực đoan tại khu vực phía Đông Bắc Tỉnh Cà Mau giai đoạn 1980-2023 dựa trên số liệu lượng mưa ngày và số ngày mưa quan trắc tại trạm Bạc Liêu. Phương pháp hồi quy tuyến tính, xu thế Sen và kiểm định phi tham số Mann-Kendall được áp dụng để phân tích. Kết quả cho thấy lượng mưa cực đoan, bao gồm mưa to (50-100 mm/ngày) và mưa rất to (≥100 mm/ngày), nhìn chung có xu thế tăng theo thời gian. Tốc độ tăng trong hồi quy tuyến tính lần lượt là 3.5642 mm/năm và 1.1198 mm/năm. Xu thế Sen xác định mưa to có xu thế tăng 2,687 mm/năm, song không đạt mức ý nghĩa thống kê theo kiểm định Mann-Kendall. Đối với mưa rất to, kiểm định Mann-Kendall cho thấy dấu hiệu tăng (S &gt; 0), trong khi xu thế Sen không ghi nhận sự thay đổi rõ rệt. Số ngày mưa to và mưa rất to có xu thế tăng trong hồi quy tuyến tính và Mann-Kendall, nhưng không đảm bảo ý nghĩa thống kê; xu thế Sen cho kết quả không có biến đổi đáng kể. Các phát hiện này góp phần cung cấp thông tin khoa học hữu ích cho việc đánh giá và thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực phía Đông Bắc Tỉnh Cà Mau.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121688 Wed, 12 Nov 2025 08:19:06 +0700 Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn: Giải pháp đảm bảo cấp nước ngọt bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121689 <p>Hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai (SG-ĐN) đang chịu áp lực xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng đến khả năng khai thác và cung cấp nước ngọt, dưới tác động đồng thời của đô thị hóa, nước biển dâng và biến đổi khí hậu. Nghiên cứu kết hợp các công cụ mô hình hóa MIKE 21 FM&nbsp; - phân tích GIS nhằm cho thấy diễn biến xâm nhập mặn đến hoạt động bơm nước ngọt, nhằm đề xuất giải pháp và chiến lược tổng hợp giúp đảm bảo an ninh nguồn nước và phát triển đô thị bền vững. Kết quả hiệu chỉnh - kiểm định thủy lực cho chỉ số NSE trên 0,81 rất tốt và R<sup>2</sup> trên 0,82 tốt, đồng thời mô phỏng nồng độ mặn cho sai số PBIAS tốt. Kịch bản nước biển dâng được áp dụng bao gồm RCP4.5 và RCP8.5 cho năm 2030, 2050 và 2080. Kết quả cho thấy nồng độ mặn hiện trạng đều cao trên 0,3 g/l tại 3 trạm bơm (trạm Hòa Phú trên sông Sài Gòn và trạm Hóa An, Bình An trên sông Đồng Nai) vượt ngưỡng độ mặn cho phép bơm nước phục vụ sinh hoạt của nhà máy 0,25 g/l, trong đó nồng độ mặn cao nhất tại trạm Bình An. Nghiên cứu cho thấy xâm nhập mặn gia tăng do biến đổi khí hậu đồng thời đưa ra các giải pháp thực tiễn, giúp nhà quản lý ra quyết định hỗ trợ các ban ngành quản lý và khai thác hiệu quả nguồn nước ngọt trên sông.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121689 Wed, 12 Nov 2025 08:24:41 +0700 Thiên tai và biến đổi khí hậu: Nhận thức và sự tiếp nhận thông tin rủi ro ở cấp cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121690 <p>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, các cộng đồng đô thị, đặc biệt tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, đang đối mặt với nhiều rủi ro tác động trực tiếp đến đời sống, sinh kế và sự an toàn của người dân. Nhằm nâng cao năng lực chống chịu cho cộng đồng, việc đánh giá tác động và khả năng tiếp nhận thông tin rủi ro về thiên tai, biến đổi khí hậu cũng là yếu tố vô cùng quan trọng. Nghiên cứu này tập trung vào mức độ ảnh hưởng của thiên tai và biến đổi khí hậu đối với hộ gia đình và hộ/cơ sở kinh doanh, đồng thời khảo sát cách thức tiếp cận và tham gia của người dân vào các hoạt động truyền thông rủi ro. Kết quả cho thấy tình trạng ngập nước do mưa và ngập triều ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Các vấn đề như xâm nhập mặn, bão/áp thấp cũng xuất hiện tại nhiều khu vực nhưng với mức độ thấp hơn. Cộng đồng trong khu vực nghiên cứu hiện tiếp nhận thông tin phổ biến nhất là chương trình truyền hình (trên 80%), mạng xã hội, và thông qua họp dân hoặc người thân. Tỷ lệ tham gia các hoạt động tập huấn, tuyên truyền tại cộng đồng còn thấp, đặc biệt ở nhóm hộ gia đình (đa số các nội dung chỉ từ 10-25% người dân tham gia). Trong khi đó, hộ kinh doanh có tỷ lệ tham gia cao hơn, đặc biệt là các nội dung liên quan đến phòng chống thiên tai, ngập lụt và thích ứng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện những mặt đã làm được, cũng như những vấn đề cần điều chỉnh trong chiến lược truyền thông về phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu ở cấp cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121690 Wed, 12 Nov 2025 08:41:19 +0700 Phân tích xu thế xâm nhập mặn trên hệ thống sông, kênh Tỉnh Sóc Trăng (cũ) bằng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121694 <p>Sóc Trăng (cũ) là tỉnh ở cuối nguồn Sông Hậu, tiếp giáp với biển nên bị ảnh hưởng bởi triều cường và xâm nhập mặn (XNM). Tình hình XNM trên địa bàn tỉnh diễn biến khá phức tạp, mặn xâm nhập ngày càng sâu vào nội đồng làm ảnh hưởng đến sản xuất, các vùng ngọt hóa, môi trường đất,... gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nghiên cứu thực hiện phân tích xu thế XNM tại các trạm đo trên địa bàn Tỉnh Sóc Trăng (cũ) bằng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số (Mann - Kendall) và ước lượng xu thế Sen. Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ mặn lớn nhất (Smax) tại các trạm đo phần lớn xuất hiện vào tháng 2 đến tháng 4 trong năm, xu thế mặn tăng ở 5/8 trạm là Long Phú, Đại Ngãi, An Lạc Tây, Sóc Trăng, Khánh Hòa. Trong đó, xu thế mặn tăng cao nhất ở trạm An Lạc Tây và Long Phú tương ứng với S lần lượt là 136 và 92, ngược lại trạm Trần Đề và trạm Thạnh Phú có xu thế mặn giảm rõ rệt với S tương ứng là -170 và -80. Nguyên nhân là do việc vận hành các cống ngăn mặn khu vực Mỹ Tú và Ngã Năm kết hợp vận hành cống âu thuyền Ninh Quới xả nước đẩy mặn làm giảm độ mặn phục vụ các hoạt động sản xuất đã ngăn mặn phần nào đến khu vực trạm Thạnh Phú; ngoài ra tại khu vực cửa sông Trần Đề chịu tác động lớn bởi gió mạnh nên độ mặn tại cửa sông không quá cao nhưng độ mặn lại xâm nhập mạnh và sâu vào trong các nhánh sông chính như tại khu vực các trạm&nbsp; An Lạc Tây và Long Phú. Tuy nhiên, xét về ý nghĩa thống kê P - value có α &lt; 0,1 chỉ có 4 trạm là Long Phú, Thạnh Phú, Trần Đề, và An Lạc Tây đạt yêu cầu. Các trạm còn lại có xu thế tăng/giảm MK - test (S) nhưng không thỏa mãn mức ý nghĩa α &lt; 0,1. Nghiên cứu cung cấp cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các giải pháp cảnh báo sớm, phòng ngừa rủi ro cho các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội liên quan cấp nước của khu vực.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121694 Wed, 12 Nov 2025 08:48:39 +0700 Đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt và xác định nguồn ô nhiễm theo tiểu vùng ở Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2017-2024 https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121696 <p>Nghiên cứu này đánh giá hiện trạng, phân hóa theo không gian - thời gian và các yếu tố chi phối chất lượng nước mặt tại Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2017-2024, trên bốn tiểu vùng: Tứ giác Long Xuyên (TGLX), Bán đảo Cà Mau (BĐCM), giữa Sông Tiền-Hậu (G2SO) và Tả Sông Tiền (TST). Kết quả cho thấy hầu hết thông số (trừ NO₃⁻) vượt QCVN 08-MT:2015 A1; ghi nhận giá trị trung bình hữu cơ khá cao (BOD₅ 10 mg/L; COD 25 mg/L) kèm vi sinh và kim loại, gây rủi ro cho cấp nước sinh hoạt. WQI rất thấp ở kênh nội đồng (6-29) nhưng đạt mức trung bình-khá trên trục sông chính (50-65), phản ánh vai trò pha loãng/tự làm sạch của Sông Tiền-Hậu. Phân tích PCA chỉ ra sáu nhóm nguồn chính (hữu cơ-kim loại, địa hoá/phèn, mặn-oxy hoá, vi sinh, dinh dưỡng, và pH-Hg). AHC phân cụm hơn 2.500 mẫu thành các cụm ô nhiễm hữu cơ-kim loại cao, cụm nền phổ biến, và cụm dị thường nhỏ cần giám sát. Lần đầu tiên, WQI theo mùa cho thấy mùa mưa cải thiện chất lượng trên sông chính nhưng làm xấu nước nội đồng, còn mùa khô thì ngược lại. Kết quả cung cấp cơ sở nhận diện “điểm nóng” và đề xuất kiểm soát nguồn thải thích ứng thủy văn - khí hậu cho ĐBSCL.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121696 Wed, 12 Nov 2025 08:52:53 +0700 Mối liên hệ giữa mức độ khai thác nước ngầm và hiện tượng sụt lún đất tại khu vực Kiên Giang: Minh chứng định lượng từ dữ liệu quan trắc https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121697 <p>Khu vực Kiên Giang (nay thuộc Tỉnh An Giang) ở Đồng bằng Sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ sụt lún đất gia tăng do khai thác nước ngầm quá mức. Nghiên cứu này phân tích hiện trạng khai thác nước dưới đất từ các tầng chứa Holocene và Pleistocene, phân bố giếng khai thác và diễn biến mực nước ngầm trong 20 năm (2000-2020). Kết quả cho thấy toàn khu vực có khoảng 93.000 giếng khoan, gần như toàn bộ tập trung trong các tầng chứa nước Pleistocene, với tổng lượng khai thác hiện nay xấp xỉ 197.000 m³/ngày - tăng gấp nhiều lần so với đầu những năm 2000. Việc bơm hút liên tục đã làm mực nước ngầm hạ thấp đáng kể (~0,1-0,4 m/năm ở những nơi khai thác mạnh), giảm áp lực nước lỗ rỗng và gây cố kết đất. Phân tích ảnh radar giao thoa (InSAR) cho thấy tốc độ sụt lún bề mặt lên tới vài cm/năm tại các khu vực khai thác nước ngầm mạnh, phù hợp với sự trùng khớp không gian giữa vùng mực nước hạ thấp và vùng đất bị lún. Phân tích tương quan định lượng khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa cường độ khai thác nước với tốc độ hạ thấp mực nước ngầm (hệ số Pearson ~0,9), cũng như giữa tốc độ hạ thấp mực nước với tốc độ sụt lún đất. Những phát hiện này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về quản lý nước ngầm bền vững - bao gồm kiểm soát khai thác, phát triển các nguồn nước thay thế - và tăng cường giám sát sụt lún nhằm giảm thiểu rủi ro môi trường, đảm bảo phát triển bền vững cho khu vực Kiên Giang cũng như toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.&nbsp;</p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121697 Wed, 12 Nov 2025 08:57:16 +0700 Dấu hiệu và nguy cơ ô nhiễm nhựa trong đất và trầm tích xung quanh bãi chôn lấp không hợp vệ sinh tại khu vực nông thôn Tây Bắc Tỉnh Lâm Đồng https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121700 <p>Tây Bắc Tỉnh Lâm Đồng (trước tháng 7/2025 thuộc Tỉnh Đắk Nông) có 15/16 bãi chôn lấp rác thải không hợp vệ sinh, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Nghiên cứu này khảo sát sự rò rỉ chất thải nhựa từ năm điểm gần các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt chính. Sáu mẫu đất và trầm tích được thu thập, xử lý theo hướng dẫn NOAA và phân tích bằng quang phổ FTIR. Kết quả phân tích cho thấy sự hiện diện phổ biến của các loại nhựa gia dụng, gồm PE, PP, LDPE, HDPE, PVC, PET và PS, trong cả mẫu đất và trầm tích. Điều này chứng tỏ chất thải nhựa từ bãi chôn lấp đã phát tán ra môi trường, xâm nhập vào đất và nguồn nước tiếp nhận. Kết quả cũng phản ánh mức độ rủi ro sinh thái đáng kể khi các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh tiếp tục hoạt động mà không có biện pháp kiểm soát. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về sự hiện diện của vi nhựa trong môi trường đất và trầm tích tại khu vực Tây Bắc Tỉnh Lâm Đồng, đồng thời nhấn mạnh tính cấp thiết của các giải pháp quản lý, giám sát và cải thiện hệ thống xử lý chất thải rắn nhằm giảm thiểu lan truyền ô nhiễm.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121700 Wed, 12 Nov 2025 09:04:26 +0700 Nghiên cứu ứng dụng mô hình mã nguồn mở Telemac 2 chiều đánh giá sự biến đổi hình thái đáy Sông Hậu đoạn qua Xã Châu Phú Tỉnh An Giang https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121702 <p>Hiện tượng bồi lắng và xói lở trên dòng chính Sông Tiền, Sông Hậu diễn ra rất phức tạp trong những năm gần đây, đặc biệt đoạn chảy qua Xã Châu Phú, Tỉnh An Giang (Sông Hậu) sạt lở xảy ra với mức độ và quy mô ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sự ổn định của lòng dẫn và hình thái sông. Hơn nữa, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng khai thác tài nguyên và tác động từ các công trình thượng lưu, việc nghiên cứu, mô phỏng chế độ thủy động lực và vận chuyển bùn cát là hết sức cần thiết để phục vụ công tác quy hoạch và quản lý địa phương. Bài báo này trình bày kết quả ban đầu của việc ứng dụng mô hình thủy động lực hai chiều Telemac-2D nhằm mô phỏng chế độ vận chuyển bùn cát và sự thay đổi hình thái đáy sông tại đoạn Sông Hậu thuộc Xã Châu Phú. Kết quả hiệu chỉnh và kiểm định thủy lực đều cho thấy chỉ tiêu Nash &gt; 0,68 là mức khá. Sự biến đổi hình thái đáy sông tại mặt cắt CD_1, CD_2 và CD_3 lần lượt là: -3,73 m, -3,57 m và -7,90 m. Nghiên cứu cho thấy khả năng tính toán hiệu quả của phần mềm Telemac-2D đối với địa hình phức tạp và số lượng ô lưới lớn.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121702 Wed, 12 Nov 2025 09:09:16 +0700 Đặc điểm thành phần khoáng vật của cấu trúc đá basalt khu vực Tây Nguyên và tiềm năng ứng dụng trong ứng phó biến đổi khí hậu https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121704 <p>Biến đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính, đặc biệt là CO₂, đang là một trong những thách thức môi trường lớn nhất toàn cầu. Bên cạnh các giải pháp giảm phát thải, các chiến lược loại bỏ CO₂ đang được nghiên cứu và triển khai nhằm giảm nồng độ CO₂ trong khí quyển. Giải pháp tăng cường phong hóa đá sử dụng basalt hiện đang được quan tâm. Basalt - một loại đá giàu khoáng vật Mg và Ca - khi được bổ sung dưới dạng bột mịn thì các khoáng vật này sẽ phân giải thông qua các phản ứng hóa học, giải phóng các ion vào đất và tham gia vào quá trình cô lập CO₂. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thành phần khoáng vật của đá basalt làm cơ sở đánh giá tiềm năng triển khai giải pháp này tại khu vực Tây Nguyên. Đồng thời, cũng nêu bật các lợi ích kép về hiệu quả cố định CO₂ và cải thiện chất lượng đất trong điều kiện đặc thù của Việt Nam.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121704 Wed, 12 Nov 2025 09:21:01 +0700 Cách tiếp cận từ dưới lên trong đánh giá tình trạng thiếu nước ở vùng Tây Nguyên Việt Nam - nghiên cứu trường hợp ở Xã Chư Sê và lân cận (Tỉnh Gia Lai) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121706 <p>Tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ở vùng Tây Nguyên, Việt Nam đang tác động tiêu cực đến nông nghiệp và an sinh xã hội. Nghiên cứu này đánh giá toàn diện thực trạng thiếu nước tại Xã Chư Sê lân cận, Tỉnh Gia Lai, từ đó đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp. Áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên, nghiên cứu kết hợp khung phân tích DPSIR (Động lực - Áp lực - Hiện trạng - Tác động - Phản ứng) với các phương pháp tham vấn cán bộ quản lý và người dân địa phương, cụ thể phỏng vấn sâu 8 người&nbsp; và phiếu điều tra kết hợp kỹ thuật Delphi hai vòng 18 người. Kết quả cho thấy biến đổi khí hậu, mở rộng đất nông nghiệp, mất rừng và tăng dân số là những động lực chính gây suy giảm nguồn nước, dẫn đến thiệt hại kinh tế nặng nề. Các bên liên quan ưu tiên những giải pháp phi công trình có tính khả thi cao như dịch chuyển thời vụ, tưới tiết kiệm và nâng cao năng lực cộng đồng. Nghiên cứu kết luận rằng một chiến lược hiệu quả cần kết hợp linh hoạt các giải pháp ngắn hạn với đầu tư và cải cách thể chế dài hạn để đảm bảo an ninh nguồn nước bền vững.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121706 Wed, 12 Nov 2025 09:24:17 +0700 Xây dựng công cụ mô phỏng, dự báo xâm nhập mặn phục vụ quản lý nguồn nước mặt vùng cửa Sông Hậu https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121708 <p>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hoạt động khai thác tài nguyên nước ở thượng nguồn ngày càng gia tăng, tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có xu hướng diễn biến ngày càng phức tạp và khó dự đoán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và sinh kế của người dân. Bài báo trình bày việc ứng dụng mô hình thủy động lực - lan truyền chất để mô phỏng và dự báo xâm nhập mặn tại khu vực cửa Sông Hậu - một trong những địa phương chịu tác động nặng nề nhất vào mùa khô. Mô hình được thiết lập và hiệu chỉnh dựa trên số liệu thực đo về mực nước và độ mặn tại các trạm quan trắc chính trong khu vực, với kết quả kiểm định đạt độ chính xác cao qua các chỉ số R² và NSE đều lớn hơn 0,7. Ngoài việc mô phỏng hiện trạng, nghiên cứu còn xây dựng các kịch bản dự báo xâm nhập mặn tương ứng với các kịch bản biến đổi khí hậu cho các mốc thời gian năm 2030 và 2050. Kết quả cho thấy trong các điều kiện khí hậu tương lai, hiện tượng xâm nhập mặn không chỉ diễn ra sớm hơn mà còn có cường độ mạnh hơn và phạm vi ảnh hưởng rộng hơn, đặc biệt trong các kịch bản phát thải cao. Điều này khẳng định tính cần thiết và hiệu quả của việc ứng dụng mô hình thủy động lực - lan truyền chất trong đánh giá và dự báo xâm nhập mặn, góp phần hỗ trợ công tác ra quyết định và xây dựng các kịch bản thích ứng tại khu vực cửa Sông Hậu.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121708 Wed, 12 Nov 2025 09:29:40 +0700 Thông báo bổ sung thông tin https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121709 <p><span class="fontstyle0">Tạp chí Khoa học Biến đổi Khí hậu thông báo về việc bổ sung thông tin về "Lời cảm ơn" cho bài báo: "Ứng dụng mô hình WEAP trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới </span><span class="fontstyle0">dòng chảy lưu vực Sông Ba" đã được xuất bản trong số 32, tháng 12 năm 2024, theo đề nghị chính thức từ tác giả chính và tác giả liên hệ Nguyễn Thị Huỳnh Mai.</span></p> Trần Thị Tân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/TCKHBDKH/article/view/121709 Wed, 12 Nov 2025 09:35:43 +0700