Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT
<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Nguyễn Tất Thành</strong></p>vi-VNTạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Nguyễn Tất ThànhĐánh giá đặc điểm các tập dữ liệu dùng trong phân tích tình cảm đa phương thức
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118479
<p> Phân tích tình cảm đa phương thức (MSA) ngày càng thu hút sự quan tâm. Tuy nhiên, các bộ dữ liệu hiện có vẫn còn hạn chế về tính toàn diện, tính đa dạng và tính nhất quán. Nghiên cứu này cung cấp một đánh giá có hệ thống về các bộ dữ liệu MSA phổ biến, phân tích các đặc điểm chính như phương thức dữ liệu, phương pháp chú thích và độ tin cậy. Đề xuất một quy trình đánh giá gồm bốn giai đoạn: (1) khảo sát thu thập và quản lý tập dữ liệu, (2) phân tích thống kê đặc trưng và kỹ thuật, (3) đánh giá hiệu suất mô hình trên các bộ dữ liệu này, và (4) xây dựng hướng dẫn phát triển tập dữ liệu chất lượng cao cho MSA. Kết quả phân tích cung cấp hiểu biết sâu sắc về điểm mạnh và hạn chế của từng bộ dữ liệu, giúp các nhà nghiên cứu lựa chọn nguồn dữ liệu phù hợp và định hướng phát triển các tập dữ liệu đa phương thức tốt hơn trong tương lai.</p>Nguyễn Xuân CườngĐỗ Hoàng Nam
Bản quyền (c)
2025-09-042025-09-048511Chuyển đổi số giáo dục đại học: phát triển mô hình dữ liệu số cho sinh viên Dược tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118482
<p> Kỷ nguyên số đã đặt ra một thách thức vô cùng lớn và mang tính sống còn đối với tất cả các trường đại học. Nghiên cứu này đề cập đến thách thức và cơ hội của chuyển đổi số trong giáo dục đại học, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Dược ở Việt Nam. Xuất phát từ khái niệm chuỗi cung ứng giáo dục và số hóa hỗ trợ các trường đại học đào tạo nguồn nhân lực tham gia chuỗi cung ứng giáo dục toàn cầu, nghiên cứu đã phân tích và thực hiện một khảo sát nhân sự làm việc tại Khoa Dược – Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, từ đó phát triển mô hình dữ liệu số và xác định các yếu tố ưu tiên trong quản lý thông tin giáo dục Dược. Kết quả đóng góp vào chiến lược phát triển dữ liệu số và hỗ trợ các cơ sở đào tạo. Những nội dung được thảo luận đóng góp giúp ích cho các cơ sở đào tạo xây dựng chiến lược phù hợp với các dữ liệu số cho các mục tiêu chuyển đổi số từng giai đoạn của đơn vị đào tạo trong trường đại học.</p>Nguyễn Hữu Khánh QuanNguyễn Thanh NghĩaNguyễn Văn Thanh
Bản quyền (c)
2025-09-042025-09-048588Phân tích hàm lượng tổng kim loại Pb và Cd có trong cải bẹ xanh - Brassica Juncea (L.) tại một số chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118489
<p> Trong nghiên cứu này, tiến hành phân tích hàm lượng tổng kim loại Pb và Cd có trong 45 mẫu rau cải bẹ xanh <em>Brassica Juncea (L.)</em> được thu thập ở 3 chợ truyền thống trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bằng phương pháp phổ hấp thu nguyên tử sử dụng kĩ thuật ngọn lửa (F-AAS) theo TCVN 7602: 2007 và TCVN 7768-2:2007. Kết quả nghiên cứu cho thấy, giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) xác định theo phương pháp đường chuẩn lần lượt là 0,0912 mg/L và 0,3055 mg/L đối với Pb và 0,0956 mg/L và 0,3187 mg/L đối với Cd. Có 38 mẫu có hàm lượng tổng kim loại Pb đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm theo QCVN (8-2:2011/BYT) và 7 mẫu có hàm lượng Pb vượt quá mức quy định cho phép (> 0,3). Trong khi đó, hàm lượng Cd trong 45 mẫu rau cải bẹ xanh đều không phát hiện Cd, đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Kết quả nghiên cứu đưa ra lời khuyến cáo cho các nhà quản lý thị trường trong việc có chính sách để kiểm soát nguồn thực phẩm được bán trên các chợ truyền thống trên thị trường, đặc biệt là các quầy hàng rong, không cố định.</p>Đỗ Đặng ThuậnPhạm Văn TháiĐinh Văn Phúc
Bản quyền (c)
2025-09-042025-09-04851616Tiềm năng phát triển thương mại điện tử qua kênh truyền hình mua sắm tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118491
<p> Nghiên cứu này nhằm khám phá việc tích hợp thương mại điện tử với các kênh truyền hình tại Việt Nam. Mặc dù mua sắm trên truyền hình đã tăng trưởng nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây, tiềm năng vẫn chưa được khai thác đúng mức. Dựa vào lý thuyết S-O-R và lý thuyết MSD, các mối quan hệ giữa các yếu tố tác động xã hội, tác động truyền thông, cảm nhận giá trị ảnh hưởng đến ý định mua của khán giả trên đài truyền hình được giải thích. Nhóm tác giả đã phỏng vấn sâu 23 khán giả đang theo dõi các kênh mua sắm trên truyền hình, để hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng và ý định mua của họ. Kết quả cho thấy, hành vi mua sắm trên truyền hình chịu sự tác động bởi các yếu tố xã hội và truyền thông, thông qua vai trò trung gian của cảm nhận giá trị về nội dung thông tin được kênh truyền hình mua sắm cung cấp. Nghiên cứu này giúp đài truyền hình có cơ sở để xem xét đầu tư phát triển kênh truyền hình mua sắm dưới hình thức thương mại điện tử.</p>Đặng Như Thảo1Nguyễn Xuân Nhĩ
Bản quyền (c)
2025-09-042025-09-04852222 Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học – nghiên cứu tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118494
<p> Nghiên cứu này tập trung xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh trong bối cảnh cạnh tranh tuyển sinh giữa các trường ngày càng tăng cao. Dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch và mô hình của Chapman, nghiên cứu đề xuất sáu yếu tố: truyền thông tuyển sinh, đặc điểm trường, chính sách học phí, cơ hội nghề nghiệp, ảnh hưởng của người xung quanh và gia đình. Sử dụng kết hợp phương pháp định tính, định lượng, thực hiện khảo sát 266 học sinh THPT và sinh viên năm nhất tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy cơ hội nghề nghiệp có tác động gián tiếp mạnh nhất đến gia đình, đặc điểm trường ảnh hưởng gián tiếp lớn đến người xung quanh và gia đình có ảnh hưởng trực tiếp trong quyết định chọn trường. Dựa trên kết quả, nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp nhằm thúc đẩy quyết định chọn trường đại học của học sinh để từ đó làm cơ sở hoạch định chiến lược phát triển của trường.</p>Nguyễn Ngọc Mỹ Hương
Bản quyền (c)
2025-09-042025-09-04852828Tình hình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ngoại trú đái tháo đường tuýp 2 tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118535
<p> Việc dùng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ các thuốc dùng trong điều trị ngoại trú đái tháo đường tuýp 2 và xác định các tương tác thuốc thường gặp. Đơn thuốc dùng cho bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 thỏa tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ, thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang. Kết quả cho thấy phần lớn người bệnh là nữ (58,5 %), tuổi trung bình 64,82 ± 10,50. Tỷ lệ phối hợp thuốc cao (67,1 %), phổ biến nhất là phác đồ 2 thuốc (41,5 %). Tỷ lệ đơn có tương tác thuốc cao theo cả hai nguồn Drugs.com (83,8 %) và Medscape (82,4 %), chủ yếu ở mức độ trung bình. Sự khác biệt giữa hai cơ sở dữ liệu nhấn mạnh vai trò của việc tra cứu đa nguồn nhằm phát hiện đầy đủ các tương tác, từ đó đảm bảo an toàn điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 ngoại trú.</p>Trần Hà LinhPhạm Hồng ThắmNguyễn Thị Thu Hương
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05853636Những thách thức khi học trực tuyến của học sinh tiểu học tại tỉnh Hà Giang
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118539
<p> Do tình trạng thiếu giáo viên ở tỉnh Hà Giang, các trường học đã chuyển sang học trực tuyến như một giải pháp tạm thời. Tuy nhiên, sự chuyển đổi này đặt ra nhiều thách thức cho các trường, giáo viên và đặc biệt là học sinh. Do đó, nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính với thiết kế mô tả và giải thích để xem xét mức độ tham gia của học sinh và những thách thức trong khi học trực tuyến của học sinh lớp Ba tại Hà Giang. Việc thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn 25 học sinh, 2 giáo viên tiếng Anh trực tuyến và 4 giáo viên chủ nhiệm, cùng với quan sát lớp học tại hai trường tiểu học. Kết quả cho thấy hai khía cạnh chính: mức độ tham gia của học sinh và những thách thức mà học sinh phải đối mặt, góp phần nâng cao hiểu biết về học trực tuyến ở vùng xa, nhấn mạnh nhu cầu giải quyết vấn đề tương tác và vượt qua những thách thức để đảm bảo giáo dục trực tuyến hiệu quả cho học sinh nông thôn.</p>Trần Thị Thanh MaiVõ Hào Quang Vinh
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05854545Ảnh hưởng của công cụ trí tuệ nhân tạo đối với quá trình tự học tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118541
<p> Sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho giáo dục tiếng Anh vừa có lợi vừa bất lợi. Phần lớn các nghiên cứu liên quan trước đây đã chứng minh rằng việc sử dụng AI có thể giúp người học tiếng Anh như một ngoại ngữ bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng tiếng Anh của mình. Họ có thể trở thành những người học tự chủ và sở hữu những đặc điểm học tập tốt hơn. Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi trực tuyến để điều tra tác động của AI đến quá trình tự học tiếng Anh của 270 sinh viên năm nhất tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, vào học kỳ thứ hai của năm học 2024-2025. SPSS (Phiên bản 27.0) đã được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả chỉ ra rằng việc triển khai AI có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học tiếng Anh của sinh viên. Từ đó, kết quả khảo sát có thể được ứng dụng rộng rãi trong việc dạy và học Tiếng Anh tại trường này.</p> <p> </p>Trần Trung Kiên ̶
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05855252Hiệu quả của việc ứng dụng nền tảng Wordwall vào giảng dạy từ vựng cho sinh viên không chuyên tiếng Anh tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118570
<p> Từ vựng tiếng Anh là nền tảng để phát triển các kỹ năng khác, tuy nhiên nhiều sinh viên không chuyên gặp nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ và hiểu được cách sử dụng từ vựng mới. Với sự phát triển của công nghệ, hiện nay, nhiều nền tảng trực tuyến như Wordwall, Quizziz, Blooket, ..., có thể hỗ trợ giáo viên trong giúp học sinh tiếp thu và học từ vựng tiếng Anh hiệu quả hơn. Do đó, nghiên cứu này muốn tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng nền tảng Wordwall trong việc dạy từ vựng cho sinh viên không chuyên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Trong nghiên cứu này, 200 sinh viên tham gia được chia thành hai nhóm để tham gia các bài kiểm tra trước ̶ sau, và khảo sát. Nghiên cứu được chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài hai tuần, trong mỗi giai đoạn nhóm thử nghiệm tham gia các hoạt động học từ vựng trên nền tảng Wordwall, trong khi nhóm đối chứng sử dụng phương pháp học truyền thống. Hiệu quả học tập của sinh viên được đánh giá qua các bài kiểm tra đầu và cuối mỗi giai đoạn. Kết quả cho thấy sinh viên học với Wordwall có sự tiến bộ rõ rệt hơn trong việc học từ vựng so với nhóm học bằng các phương pháp truyền thống. Hơn nữa, việc sử dụng Wordwall còn khích lệ sự tham gia và động lực học tập của học sinh. Những kết quả này khuyến khích việc tích hợp nền tảng Wordwall vào giảng dạy từ vựng tiếng Anh để cải thiện kết quả học từ vựng tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.</p>Phạm Thị Trúc NhưTô Vũ Lê Ngân
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05856060Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng podcast đối với khả năng nghe tiếng Anh của sinh viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118572
<p> Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của podcast trong việc cải thiện kỹ năng nghe tiếng Anh của sinh viên năm nhất không chuyên ngữ tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm đã được áp dụng, gồm hai nhóm: nhóm thực nghiệm được học kết hợp giữa các hoạt động nghe truyền thống và nghe qua podcast, trong khi nhóm đối chứng chỉ thực hiện các hoạt động nghe truyền thống. Các bài kiểm tra trước và sau thí nghiệm được tiến hành để đánh giá một cách hệ thống tác động của việc sử dụng podcast đối với khả năng nghe tiếng Anh của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tích hợp podcast vào giảng dạy kỹ năng nghe giúp cải thiện đáng kể kỹ năng nghe tiếng Anh so với việc chỉ sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống đối với sinh viên năm nhất không chuyên ngữ tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành.</p>Nguyễn Thị Hồng Duyên
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05856767Tác động của lớp học trực tuyến đến “mức độ sẵn sàng giao tiếp” của Sinh viên EFL tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118573
<p> Việc học trực tuyến đã được đưa vào lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) như một sự chuyển đổi quan trọng, đòi hỏi phải phân tích các yếu tố then chốt trong môi trường lớp học ảo nhằm xác định liệu nó thúc đẩy hay cản trở mức độ Sẵn sàng Giao tiếp (WTC) của sinh viên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Nghiên cứu được thực hiện với 137 sinh viên năm hai chuyên ngành tiếng Anh và 35 giảng viên đang giảng dạy các lớp học trực tuyến tại trường, với dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tuyến đối với hai nhóm đối tượng tham gia, do đó phương pháp định lượng đã được sử dụng. Dựa trên kết quả nghiên cứu, các yếu tố thúc đẩy và làm giảm WTC đã được xác định, cho thấy rằng mặc dù các nền tảng học trực tuyến mang lại cơ hội thúc đẩy sinh viên tương tác và vượt qua một số rào cản, nhưng vẫn tồn tại những trở ngại nhất định. Kết luận của nghiên cứu này cũng sẽ đề xuất các biện pháp giúp giảng viên tiếng Anh tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành tối ưu hóa chức năng của lớp học trực tuyến nhằm nâng cao khả năng giao tiếp và mức độ tham gia của người học.</p>Vũ Thanh Ngân
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05857575Khảo sát hiệu quả của việc sử dụng Chatbot AI trong dạy phát âm tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118574
<p> Nghiên cứu này khám phá hiệu quả của Chatbot AI trong việc cải thiện phát âm phụ âm cuối của 106 người học EFL trình độ A2 tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, sử dụng mô hình nghiên cứu hành động. Tám người học được chọn có chủ đích để phân tích sâu dựa trên phỏng vấn gợi nhớ và phân tích định tính theo chủ đề. 98 người học còn lại tham gia vào thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm, được chia thành nhóm đối chứng (n = 49) và nhóm thực nghiệm (n = 49). Phân tích kiểm định t mẫu độc lập để so sánh tỷ lệ lỗi trước và sau can thiệp liên quan đến việc bỏ sót và thay thế phụ âm xát và tắc. Kết quả phân tích chủ đề cho thấy 08 người học đánh giá cao phản hồi chi tiết, theo thời gian thực và được cá nhân hóa của công cụ. Trong khi đó, kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ lỗi của nhóm thực nghiệm giảm đáng kể sau khi sử dụng Chatbot AI, bao gồm: lỗi bỏ sót phụ âm xát giảm trung bình 13,12, lỗi bỏ sót phụ âm tắc giảm 24.00, lỗi thay thế phụ âm xát giảm 3,86, và lỗi thay thế phụ âm tắc giảm 13,65 so với nhóm đối chứng. Kết quả này cho thấy Chatbot AI hiệu quả trong việc giảm lỗi phát âm phụ âm cuối xát và tắc, mang lại lợi ích cho việc giảng dạy tiếng Anh khi kết hợp với sự hướng dẫn của giáo viên.</p>Nguyễn Hoàng KhâmVõ Thanh Thảo
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05858484Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng phương pháp Comprehensible Input lên khả năng nói tiếng Anh của sinh viên trong lớp học tiếng Anh không chuyên
https://vjol.info.vn/index.php/dh-NTT/article/view/118575
<p> Nghiên cứu này khảo sát hiệu quả của phương pháp Comprehensible Input (CI) trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ tại một trường đại học ở Việt Nam. Dựa trên Thuyết Tiếp thu Ngôn ngữ của Krashen (1985), nghiên cứu sử dụng thiết kế bán thực nghiệm với 360 sinh viên được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm: nhóm thực nghiệm (được giảng dạy theo phương pháp CI) và nhóm đối chứng (được giảng dạy theo phương pháp truyền thống dựa vào ngữ pháp). Trước và sau can thiệp, các bài kiểm tra đánh giá năng lực nói ở bốn phương diện: độ trôi chảy, phát âm, vốn từ vựng và năng lực giao tiếp. Dữ liệu định tính bổ sung được thu thập thông qua khảo sát và phỏng vấn sinh viên và giảng viên nhằm làm rõ trải nghiệm học tập. Kết quả định lượng cho thấy nhóm học theo phương pháp CI đạt được sự cải thiện vượt trội ở tất cả các tiêu chí được đánh giá (p < 0,001). Các phát hiện định tính cũng củng cố kết quả trên, thể hiện qua sự gia tăng về sự tự tin, mức độ tham gia lớp học và khả năng sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên của người học. Nghiên cứu này góp phần bổ sung bằng chứng cho thấy CI là một chiến lược giảng dạy hiệu quả trong bối cảnh dạy học tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) và đề xuất các ứng dụng thực tiễn cho việc xây dựng chương trình giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam.</p>Nguyễn Thị Thúy Nam
Bản quyền (c)
2025-09-052025-09-05859292