https://vjol.info.vn/index.php/dntu/issue/feed Tạp chí Khoa học và Công nghệ- Đại học Công nghệ Đồng Nai 2025-11-14T08:32:19+07:00 Lê Danh Quang tapchikhoahoc@dntu.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai</strong></p> https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121786 TÍNH TOÁN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO KHI PHANH XE HYBRID 2025-11-14T08:31:45+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch, bên cạnh đó là ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính do ngành công nghiệp ô tô gây ra. Để giải quyết vấn đề này, các nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới đã thực hiện chuyển đổi cuộc cách mạng công nghiệp ô tô sang ô tô điện với mục tiêu sử dụng năng lượng điện phục vụ ngành công nghiệp ô tô, giải quyết vấn đề cạn kiệt tài nguyên môi trường và lượng khí thải từ ô tô ra môi trường. Trước tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hiện nay, gây ra mối đe dọa đến sức khỏe và tính mạng con người. Trong bài viết này, tác giả đề xuất giải pháp thay thế nguồn năng lượng hóa thạch bằng cách trang bị cho động cơ ô tô hai nguồn năng lượng chính: động cơ đốt trong và động cơ điện, hay còn gọi là động cơ Hybrid, thu hồi năng lượng tái tạo trong quá trình phanh động cơ thông qua bộ chuyển đổi động năng thành điện năng có thể sạc pin hoặc cung cấp tải cho ô tô. Năng lượng thu hồi từ phanh tái tạo được tính toán dựa trên lý thuyết phanh tái tạo kết hợp với mô phỏng simulink, và được thử nghiệm để tính toán năng lượng phanh tái tạo hoặc năng lượng giảm tốc trên xe Toyota Prius II. Kết quả cho thấy, với khối lượng xe 1379kg, tốc độ ban đầu là 72km/h, sau khi sử dụng phanh tái tạo, tốc độ giảm xuống còn 32km/h và năng lượng thu được trong quá trình phanh là 221,3 KJ. Từ kết quả tính toán lý thuyết và mô phỏng thực nghiệm, chúng tôi có thể chế tạo được hệ thống phanh tái tạo áp dụng cho các loại ô tô lưu thông phổ biến ở nước ta.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121793 THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO KHUÔN PHUN ÉP SẢN PHẨM MÓC NHỰA DÁN TƯỜNG 2025-11-14T08:31:50+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Nghiên cứu này tập trung vào thiết kế và chế tạo bộ khuôn ép nhựa hai tấm có cơ cấu mở slider để tạo ra sản phẩm móc nhựa dán tường. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế của chúng tôi dựa trên các tiêu chuẩn và chế tạo để tạo ra một bộ khuôn hoàn chỉnh với kích thước 320 mm × 250 mm × 240 mm, vật liệu làm khuôn là thép S50C. Kích thước của sản phẩm 1 là 72.5 mm × 23 mm × 38 mm, sản phẩm 2 là 37 mm × 35 mm × 6,5 mm, sản phẩm 3 là 29,5 mm × 22 mm × 7,5 mm vật liệu là nhựa PP. Chúng tôi sử dụng các phần mềm Inventor 2024, Creo Parametric 8.0, Moldex 3D để phục vụ cho việc thiết kế, mô phỏng. Kết quả đạt được là thành công tạo ra mô hình khuôn hai tấm có các cơ cấu và chức năng như đã đề ra.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121799 ỨNG DỤNG HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN NEURAL – PID ĐỂ ĐIỀU KHIỂN MỨC NƯỚC TRONG BỒN CHỨA SỬ DỤNG PLC S7-400 2025-11-14T08:31:52+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Tính ổn định là một yêu cầu then chốt trong các hệ thống điều khiển công nghiệp. Thách thức lớn nhất nằm ở việc thiết kế một bộ điều khiển tốt có khả năng đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về độ chính xác của các quá trình công nghệ. Bài báo này đề xuất phát triển một bộ điều khiển Neural–PID, kết hợp ưu điểm về tính ổn định của bộ điều khiển PID truyền thống với khả năng học thích nghi của mạng Neural, nhằm điều khiển mức nước cho một bồn nước đơn. Mạng Neural được sử dụng có cấu trúc mạng truyền thẳng ba lớp, được huấn luyện theo phương pháp học có giám sát. Kết quả thực nghiệm cho thấy bộ điều khiển Neural–PID vượt trội hơn bộ điều khiển PID truyền thống, đặc biệt trong điều kiện hoạt động phi tuyến và khi hệ thống có biến thiên lớn. Trong quá trình thay đổi các điểm đặt, bộ điều khiển Neural-PID có độ vọt lố thấp cải thiện 50% so với bộ điều khiển PID truyền thống. Sai số của quá trình điều khiển nhỏ khoảng 0,5% và thời gian tiến đến ổn định của bộ điều khiển Neural-PID nhanh hơn bộ điều khiển PID. Khi có sự thay đổi lớn trong hệ thống thì bộ điều khiển Neural-PID vẫn điều khiển thay đổi theo tốt. Ngoài ra, nghiên cứu này chứng minh rằng các mạng Neural đơn giản có thể được triển khai trực tiếp trên PLC S7-400 bằng ngôn ngữ Structured Control Language (SCL), mở ra hướng ứng dụng mới cho các kỹ thuật trí tuệ nhân tạo trong hệ thống tự động hóa công nghiệp.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121802 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM CỦA VIỆC KẾT HỢP BỘ LỌC KALMAN VÀ PID TRONG ĐIỀU KHIỂN TỐC ĐỘ ĐỘNG CƠ DC 2025-11-14T08:31:55+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bộ điều khiển Tỷ lệ – Tích phân – Vi phân (PID) là một phương pháp điều khiển tự động được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Nhiều phương pháp tinh chỉnh đã được phát triển để đạt được hiệu suất tối ưu cho các hệ thống điều khiển PID. Bài báo này trình bày việc thiết kế một hệ thống điều khiển PID kết hợp với bộ lọc Kalman, có khả năng duy trì hiệu suất tối ưu cho động cơ DC dựa trên tiêu chí Tích phân của Sai số Tuyệt đối (IAE). Giá trị IAE đối với PID cổ điển là 1.1872, trong khi giá trị IAE đối với hệ thống kết hợp (bộ lọc Kalman tích hợp với bộ điều khiển PID – K_PID) là 0.769. Kết quả thực nghiệm chứng minh rằng việc tích hợp bộ lọc Kalman đã cải thiện đáng kể hiệu suất của bộ điều khiển PID, đặc biệt trong việc giảm thiểu tác động của nhiễu.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121803 HỆ THỐNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE DÀNH CHO NGƯỜI BẠI LIỆT BẰNG THIẾT BỊ IOT: THEO DÕI THỜI GIAN THỰC, ĐIỀU KHIỂN BẰNG GIỌNG NÓI VÀ CƠ CHẾ CẢNH BÁO 2025-11-14T08:31:57+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài báo này nghiên cứu một hệ thống chăm sóc sức khỏe dựa trên IoT dành cho những người bị liệt, tích hợp giám sát thời gian thực các thông số sức khỏe và môi trường, các chức năng điều khiển bằng giọng nói, cùng cơ chế cảnh báo đa kênh. Hệ thống sử dụng các cảm biến như MAX30102, DHT11, và MQ- 135 để đo SpO2, nhịp tim, nhiệt độ, độ ẩm và chất lượng không khí. Điều khiển bằng giọng nói giúp tăng tính tự chủ cho người dùng, trong khi hệ thống cảnh báo đảm bảo người chăm sóc có thể can thiệp kịp thời. Kết quả thực nghiệm cho thấy độ chính xác, độ tin cậy và mức độ hài lòng của người dùng đều cao. Mặc dù còn tồn tại một số hạn chế như độ trễ của cảm biến và sự phụ thuộc vào kết nối Wi-Fi ổn định, hệ thống vẫn mang lại giải pháp có khả năng mở rộng, chi phí hiệu quả, góp phần khắc phục những thiếu sót quan trọng trong chăm sóc và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dùng.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121804 NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN BỘT KHOAI TÂY RUỘT VÀNG (Solanum Tuberosum. L) VÀ ỨNG DỤNG CHẾ BIẾN MÌ TƯƠI 2025-11-14T08:32:00+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài viết này nghiên cứu quy trình tiền xử lý khoai tây ruột vàng của Việt Nam, từ đó ứng dụng chế biến mì tươi. Kết quả nghiên cứu cho thấy mì tươi được tạo ra từ quá trình tạo bột khoai tây sau đó phối trộn với tinh bột khoai tây có độ dai và cảm quan đạt yêu cầu. Quá trình chế biến mì được thực hiện như sau: Khoai tây được xử lý vỏ, cắt thành các lát 0,15 cm, ngâm trong dung dịch acid citric với nồng độ 3% trong 15 phút, tỷ lệ dung dịch ngâm là 1/3. Sau đó khoai tây được hấp chín trong 15 phút với nhiệt độ nước 100 ℃ để hồ hóa tinh bột. Các lát khoai tây sau hấp được mang đi sấy trong 5 giờ ở 70 ℃. Khoai sau sấy được xay mịn để tạo thành bột. Bột khoai tây bổ sung thêm 30% tinh bột khoai tây và 60% nước nóng 100 ℃, tiến hành nhồi, cán và tạo hình.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121805 ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ IOT CHO XE ĐIỆN: MÔ HÌNH EROLLER DNTU 2025-11-14T08:32:02+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài báo này trình bày quá trình thiết kế, chế tạo và đánh giá nguyên mẫu xe điện nhỏ gọn DNTU eRoller, được tích hợp hệ thống Internet vạn vật (IoT) sử dụng vi điều khiển ESP8266. Xe được phát triển bởi Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai nhằm phục vụ mục đích đào tạo và hỗ trợ di chuyển bền vững trong khuôn viên trường. Kết cấu cơ khí của xe được mô hình hóa bằng phần mềm SolidWorks, với tải trọng thiết kế 500 kg, tốc độ tối đa đạt 30 km/h và quãng đường di chuyển từ 30–50 km cho mỗi lần sạc. Hệ thống IoT có khả năng giám sát thời gian thực các thông số như điện áp pin, tốc độ, vị trí GPS, nhiệt độ cabin, khoảng cách vật cản và năng lượng mặt trời thu được. Tất cả dữ liệu cảm biến được truyền về giao diện giám sát trên nền tảng đám mây thông qua Wi-Fi, sử dụng giao thức MQTT hoặc HTTP. Bộ điều khiển được lập trình với kiến trúc phi chặn (nonblocking), sử dụng ngắt phần cứng và định dạng dữ liệu để đảm bảo độ chính xác và độ phản hồi cao. Các thử nghiệm thực tế xác nhận hiệu quả của ESP8266 trong việc truyền dữ liệu không dây ổn định và tự động hóa các tính năng an toàn, bao gồm cả phanh khẩn cấp. Việc tích hợp thành công công nghệ IoT chi phí thấp đã cho thấy tiềm năng của eRoller như một nền tảng giao thông thông minh và công cụ đào tạo thực tiễn trong lĩnh vực hệ thống vận tải thông minh. đạt 30 km/h và quãng đường di chuyển từ 30–50 km cho mỗi lần sạc. Hệ thống IoT có khả năng giám sát thời gian thực các thông số như điện áp pin, tốc độ, vị trí GPS, nhiệt độ cabin, khoảng cách vật cản và năng lượng mặt trời thu được. Tất cả dữ liệu cảm biến được truyền về giao diện giám sát trên nền tảng đám mây thông qua Wi-Fi, sử dụng giao thức MQTT hoặc HTTP. Bộ điều khiển được lập trình với kiến trúc phi chặn (non-blocking), sử dụng ngắt phần cứng và định dạng dữ liệu để đảm bảo độ chính xác và độ phản hồi cao. Các thử nghiệm thực tế xác nhận hiệu quả của ESP8266 trong việc truyền dữ liệu không dây ổn định và tự động hóa các tính năng an toàn, bao gồm cả phanh khẩn cấp. Việc tích hợp thành công công nghệ IoT chi phí thấp đã cho thấy tiềm năng của eRoller như một nền tảng giao thông thông minh và công cụ đào tạo thực tiễn trong lĩnh vực hệ thống vận tải thông minh.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121806 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI KẾ TOÁN XANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2025-11-14T08:32:04+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Mục tiêu của bài viết này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng bằng cách khảo sát trực tuyến, kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi kế toán xanh tại các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo mức độ ảnh hưởng tăng dần như sau: áp lực từ các bên liên quan (-28,3%), quy mô doanh nghiệp (22,1%), nhận thức của chủ doanh nghiệp về kế toán xanh (28%), nguồn lực tài chính (33,6%) và mức độ giám sát của cơ quan quản lý nhà nước (37%). Dựa trên kết quả này, bài nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy việc thực thi kế toán xanh, bao gồm định hướng chính sách hỗ trợ từ cơ quan quản lý, và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nguồn lực phục vụ kế toán xanh. Những kiến nghị này góp phần tạo nền tảng cho việc triển khai kế toán xanh hiệu quả và bền vững hơn đối với doanh nghiệp sản xuất.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121807 SỰ PHÁT TRIỂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NGHỆ THUẬT SUMI-E TRONG NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI NHẬT BẢN 2025-11-14T08:32:06+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài báo khám phá ảnh hưởng sâu sắc nghệ thuật Sumi-e, bức tranh vẽ mực truyền thống của Nhật Bản, đối với việc bảo tồn các giá trị tâm linh và triết học trong nghệ thuật Nhật Bản. Sumi-e, được biết đến với những nét vẽ tối giản nhưng biểu cảm, đóng vai trò như một ống dẫn cho triết lý Thiền, nhấn mạnh sự hài hòa, cân bằng và đơn giản. Thông qua việc nghiên cứu sự phát triển lịch sử, kỹ thuật và trọng tâm chủ đề của Sumi-e, nghiên cứu này nhấn mạnh các loại hình nghệ thuật gói gọn và duy trì bản chất văn hóa của Nhật Bản. Hơn nữa, nghiên cứu đi sâu vào vai trò của Sumi-e trong xã hội Nhật Bản đương đại, minh họa tác động của nó đối với nghệ thuật hiện đại và ý nghĩa văn hóa rộng lớn. Bằng sự kết nối tính thẩm mỹ của giá trị truyền thống với sự cải tiến trong nghệ thuật hiện đại, Sumi-e mang giá trị quan trọng trong việc duy trì di sản tâm linh và triết học của nghệ thuật Nhật Bản, có sức ảnh hưởng đến các nghệ sĩ và những người đam mê nghệ thuật trên toàn cầu. Bài viết này nhằm mục đích làm sáng tỏ di sản lâu đời của Sumi-e và vai trò then chốt của nó trong bối cảnh văn hóa và nghệ thuật của Nhật Bản.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121808 TÍCH HỢP STEAM VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM: CON ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẾN GIÁO DỤC TOÀN DIỆN 2025-11-14T08:32:09+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Nghiên cứu này khám phá việc tích hợp STEAM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật và Toán học) vào chương trình giảng dạy tại các trường đại học ở Việt Nam, đồng thời đánh giá tác động của nó đối với sự phát triển của sinh viên và sự phù hợp với những tiến bộ giáo dục toàn cầu. Sử dụng phương pháp hỗn hợp, nghiên cứu bao gồm các khảo sát định lượng với 300 sinh viên và giảng viên từ ba trường đại học tiêu biểu, phân tích bằng phần mềm SPSS để đảm bảo độ chính xác thống kê. Bên cạnh đó, các phân tích trường hợp định tính cung cấp chiều sâu ngữ cảnh. Các phát hiện cho thấy STEAM thúc đẩy các phương pháp liên ngành nhằm nâng cao tính sáng tạo, tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề, giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp hiện đại. Phân tích thống kê bằng SPSS chỉ ra các mối tương quan đáng kể: 72% sinh viên được khảo sát báo cáo sự cải thiện trong tư duy đổi mới thông qua các khóa học STEAM, trong khi 65% giảng viên thể hiện sự nhiệt tình kèm theo những thách thức như hạn chế về nguồn lực và sự phản đối từ các tổ chức. Hơn nữa, 80% nhà tuyển dụng công nhận tính linh hoạt của các sinh viên tốt nghiệp được đào tạo theo STEAM trong thị trường việc làm toàn cầu cạnh tranh. Các nghiên cứu trường hợp so sánh nhấn mạnh các chương trình thử nghiệm STEAM thành công, thúc đẩy sự hợp tác giữa các môn học STEM truyền thống và nghệ thuật, mang lại những lợi ích học thuật và nghề nghiệp có thể đo lường được. Mặc dù kết quả đầy hứa hẹn, nghiên cứu nhấn mạnh các rào cản đáng kể bao gồm hạn chế tài chính, đào tạo giảng viên không đủ, và sự thiếu quen thuộc về văn hóa với học tập liên ngành. Giải quyết những thách thức này đòi hỏi các khoản đầu tư chiến lược, cải cách chính sách và sự hợp tác giữa các bên liên quan để đảm bảo việc triển khai bền vững. Cuối cùng, bài báo này nhấn mạnh vai trò của STEAM như một mô hình giáo dục mang tính đột phá tại các trường đại học Việt Nam, giúp sinh viên vượt trội trong một thế giới ngày càng kết nối và định hướng bởi sự đổi mới.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121809 TÁC ĐỘNG CỦA GAMIFICATION ĐẾN ĐỘNG LỰC VÀ VIỆC THAM GIA TRONG LỚP HỌC CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 2025-11-14T08:32:12+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài nghiên cứu tìm hiểu về các trò chơi ảnh hưởng đến động lực và sự tham gia trong môi trường lớp học, tập trung vào 141 sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Đại học Công nghệ Đồng Nai. Gần đây, các trò chơi, bao gồm việc kết hợp các yếu tố thiết kế trò chơi như điểm, huy hiệu, bảng xếp hạng và thử thách vào các môi trường lớp học không có trò chơi, đã nổi lên như một phương pháp phổ biến để cải thiện trải nghiệm học tập. Nghiên cứu sử dụng thiết kế bán thử nghiệm, chia người tham gia thành nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm. Trong hơn tám tuần, nhóm thử nghiệm được dạy bằng các yếu tố trò chơi hóa, trong khi nhóm đối chứng trải nghiệm các phương pháp giảng dạy truyền thống. Việc thu thập dữ liệu bao gồm các cuộc khảo sát trước và sau khi can thiệp bằng cách sử dụng Kiểm kê động lực nội tại (IMI) và Thang đo mức độ tham gia của sinh viên (SES), cũng như quan sát lớp học và phỏng vấn nhóm tập trung. Các ý kiến cho thấy rằng những sinh viên trải nghiệm hướng dẫn trò chơi hóa thể hiện mức độ động lực và mức độ tham gia cao hơn đáng kể so với những sinh viên trong nhóm đối chứng. Những kết quả này chỉ ra rằng trò chơi hóa có thể là một chiến lược giảng dạy hiệu quả để thúc đẩy động lực của người học và sự tham gia tích cực vào các lớp học tiếng Anh, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục đại học của Việt Nam.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121810 LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC VÀ TÀI NGUYÊN SỐ TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐỒNG NAI 2025-11-14T08:32:14+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Nghiên cứu này khám phá tác động của việc triển khai mô hình lớp học đảo ngược kết hợp với tài nguyên số đến năng lực tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ tại Trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp bán thực nghiệm đã được áp dụng, với sự tham gia của 80 sinh viên được chia thành hai nhóm: nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm. Nhóm thực nghiệm được giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngược, yêu cầu sinh viên tự học các tài liệu trực tuyến như bài giảng video, bài tập tương tác và nội dung số bổ trợ trước khi đến lớp. Trong giờ học, sinh viên tham gia vào các hoạt động giao tiếp, thảo luận và làm việc nhóm nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học trước đó.<br>Kết quả định lượng cho thấy sinh viên trong nhóm học đảo ngược có sự tiến bộ vượt trội về trình độ tiếng Anh so với nhóm học truyền thống. Dữ liệu định tính thu thập từ phỏng vấn và khảo sát cho thấy sinh viên có thái độ tích cực đối với mô hình học này, thể hiện qua việc tăng cường động lực học tập, sự tham gia chủ động và trải nghiệm học tập mang tính tự chủ hơn. Tuy nhiên, một số sinh viên phản ánh gặp khó khăn liên quan đến việc quản lý thời gian, tính kỷ luật bản thân và sự chuẩn bị bài vở. Kết quả nghiên cứu cung cấp những gợi ý thiết thực cho giảng viên trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh thông qua các phương pháp sư phạm đổi mới, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai nhằm khắc phục những thách thức hiện tại và tối ưu hóa việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121811 CHẾ ĐỘ TÀI PHÁN VIÊN TRONG HỆ THỐNG TÒA ÁN NHẬT BẢN 2025-11-14T08:32:16+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Bài viết này nghiên cứu việc tổ chức, vận hành của chế độ tài phán viên (TPV) trong bối cảnh cải cách hệ thống tư pháp ở Nhật Bản từ góc nhìn khu vực học. Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích nội dung và suy luận logic, bài viết miêu tả thực trạng tổ chức của mô hình TPV của Nhật Bản thông qua các vấn đề: quy định pháp lý, hoạt động trong phiên tòa hình sự, sự độc lập trong xét xử. Chế độ TPV thể hiện có ưu điểm: nâng cao niềm tin của người dân đối với hệ thống tư pháp, các vụ án nghiêm trọng bắt buộc có tài phán viên, phán quyết của TPV đòi hỏi sự đồng thuận của thẩm phán. Đồng thời, chế độ TPV vẫn có những tồn tại nhất định. Trên các cơ sở này, bài viết đưa ra một số lưu ý từ kinh nghiệm của Nhật Bản về cơ chế người dân tham gia vào hoạt động xét xử trong hệ thống cơ quan tư pháp. Từ đó, bài viết đề xuất một số kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm hoàn thiện việc xây dựng mô hình nhân dân tham gia vào hệ thống tư pháp.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/dntu/article/view/121812 KHÁM PHÁ TIỀM NĂNG CHUYỂN ĐỔI CỦA MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TẬP TỰ CHỦ: NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP HỖN HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI 2025-11-14T08:32:18+07:00 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Công nghệ Đồng Nai tapchikhoahoc@dntu.edu.vn <p>Nghiên cứu này khám phá tiềm năng chuyển đổi của mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) trong việc thúc đẩy khả năng tự chủ học tập trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam vốn còn ít được nghiên cứu. Dựa trên lý thuyết Động lực Tự thân (SelfDetermination Theory) và các khung lý thuyết về tự chủ học tập, nghiên cứu sử dụng thiết kế phương pháp hỗn hợp hội tụ (convergent mixed-methods), kết hợp phân tích định lượng trước và sau can thiệp với các dữ liệu định tính từ quan sát lớp học và phỏng vấn bán cấu trúc. Can thiệp được thực hiện trong 10 tuần với 120 sinh viên đại học tại Trường Đại học Đồng Nai, thay thế các bài giảng truyền thống bằng tài liệu học tập dạng video phi đồng bộ và dành thời gian trên lớp cho các hoạt động giải quyết vấn đề theo hình thức hợp tác. Kết quả thống kê cho thấy sự cải thiện đáng kể (p &lt; 0.05) ở các chỉ số liên quan đến tự chủ học tập, bao gồm khả năng tự điều chỉnh và động lực nội tại. Phân tích chủ đề cho thấy sự gia tăng về cảm giác hiệu quả bản thân, kỹ năng quản lý thời gian và thói quen học tập phản tư. Nghiên cứu này đóng góp vào hệ thống tài liệu ngày càng phát triển khi cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cách thức các mô hình lớp học đảo ngược thúc đẩy học tập tự chủ, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục ngoài phương Tây. Các hàm ý thực tiễn nhấn mạnh sự cần thiết của việc hỗ trợ ở cấp độ tổ chức và đào tạo sư phạm để triển khai mô hình này một cách hiệu quả trên quy mô rộng. Nghiên cứu tương lai được khuyến nghị nên áp dụng phương pháp tiếp cận dài hạn và so sánh giữa các chuyên ngành khác nhau để kiểm chứng thêm các phát hiện này.</p> 2025-10-31T00:00:00+07:00 Bản quyền (c)