https://vjol.info.vn/index.php/hunre/issue/feedTạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường2025-07-07T10:03:49+07:00Nguyễn Đức Mạnhndmanh@hunre.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội</strong></p>https://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1156871. NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA QUẦN XÃ THỰC VẬT PHÙ DU (PHYTOPLANKTON) VÀ HÀM LƯỢNG ĐỘC TỐ VI KHUẨN LAM TRONG HỒ CHỨA HOÀ BÌNH2025-07-07T09:40:19+07:00Ngô Thị Diễm Mydtoanh@hunre.edu.vnNguyễn Thị Mỹdtoanh@hunre.edu.vnNguyễn Thị Ánh Nguyệtdtoanh@hunre.edu.vnNguyễn Sỹ Nguyênduongthuy0712@gmail.comNguyễn Thị Thu Liênduongthuy0712@gmail.comĐoàn Thị Oanhdtoanh@hunre.edu.vnHoàng Thị Quỳnhduongthuy0712@gmail.comLê Thị Phương Quỳnhduongthuy0712@gmail.comPhạm Phương Thảoduongthuy0712@gmail.comNguyễn Trung Kiênduongthuy0712@gmail.comVũ Thị Nguyệtduongthuy0712@gmail.comBạch Thị Mai Hoaduongthuy0712@gmail.comTrần Thị Ngọc Dungduongthuy0712@gmail.comNguyễn Thùy Dươngduongthuy0712@gmail.comPhạm Thanh Lưuduongthuy0712@gmail.comNghiêm Việt Hảiduongthuy0712@gmail.comPhùng Thị Xuân Bìnhduongthuy0712@gmail.comDương Thị Thủyduongthuy0712@gmail.com<p><em>Nghiên cứu phân tích sự biến động của quần xã thực vật phù du và mức độ xuất hiện độc tố </em><em>M</em><em>icrocystin trong hồ Hòa Bình từ tháng 6/2023 đến tháng 5/2024. Kết quả ghi nhận 44 chi thực vật phù du thuộc 5 ngành: Chlorophyta (50</em> <em>%), Bacillariophyta (26</em> <em>%), Cyanophyta (17</em> <em>%), Dinophyta (5</em> <em>%) và Euglenophyta (2</em> <em>%). Trong đó, Chlorophyta và Dinophyta là nhóm chiếm ưu thế theo mùa, với Dinophyta phát triển mạnh vào mùa mưa, trong khi Chlorophyta trội hơn vào mùa khô. V</em><em>i khuẩn lam</em><em> có sinh khối thấp và có 4 chi (Microcystis, Oscillatoria, Anabaena, Pseudanabaena) có khả năng sản xuất độc tố </em><em>M</em><em>icrocystin, trong đó Microcystis chiếm 87,6</em> <em>% tổng sinh khối </em><em>vi khuẩn lam</em><em>. Hàm lượng </em><em>M</em><em>icrocystin dao động từ 0,11</em> <em>-</em> <em>0,86 µg/L, thấp hơn ngưỡng an toàn của WHO (1 µg/L) nhưng vẫn cho thấy nguy cơ tiềm ẩn khi sử dụng nước hồ cho sinh hoạt. Phân tích PCA và tương quan Pearson không tìm thấy mối liên hệ giữa sinh khối Microcystis và hàm lượng </em><em>M</em><em>icrocystin, gợi ý rằng có thể tồn tại các chủng Microcystis không độc hoặc các loài khác cũng góp phần sản xuất </em><em>M</em><em>icrocystin trong hồ. Các yếu tố môi trường như pH cao, nhiệt độ nước ấm và độ đục cao hỗ trợ sự phát triển của </em><em>vi khuẩn lam</em><em>, đặc biệt là Microcystis. Không có mối liên hệ rõ ràng giữa sinh khối Microcystis, hàm lượng </em><em>M</em><em>icrocystin với các yếu tố dinh dưỡng Nitơ và Photpho. Kết quả này cung cấp dữ liệu quan trọng về động thái </em><em>thực vật phù du</em><em> và nguy cơ độc tố </em><em>M</em><em>icrocystin</em> <em>trong hồ Hòa Bình, góp phần quản lý và bảo vệ chất lượng nước.</em></p>2025-07-07T09:40:13+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1156942. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG KÔN - HÀ THANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH2025-07-07T09:41:13+07:00Vũ Văn Ngọcnttlinh.tnn@hunre.edu.vnVũ Duy Hưngnttlinh.tnn@hunre.edu.vnNguyễn Thị Thùy Linhnttlinh.tnn@hunre.edu.vnNguyễn Duy Thành Côngnttlinh.tnn@hunre.edu.vn<p><em>Biến đổi khí hậu và các tác động đến tài nguyên nước, một vấn đề cấp bách đang được chú trọng. Đánh giá tác động </em><em>b</em><em>iến đổi khí hậu đến tài nguyên nước lưu vực </em><em>S</em><em>ông K</em><em>ôn</em> <em>-</em><em> Hà Thanh, được đánh giá thông qua mô hình toán thủy văn MIKE NAM kết hợp với 2 kịch bản RCP 4.5 và RCP 8.5 của kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2020. Bộ thông số của mô hình được xây dựng trên chuỗi số liệu từ 1985 đến 2022, để tính toán dòng chảy năm, mùa lũ và mùa cạn dưới tác động của </em><em>b</em><em>iến đổi khí hậu. Cụ thể, bộ thông số được tính toán cho 3 thời kỳ đầu thế kỷ 21 (2016 </em><em>-</em><em> 2035), giữa thế kỷ 21 (2046 </em><em>-</em><em> 2065) và cuối thế kỷ 21 (2080 </em><em>-</em><em> 2099). Độ chính xác của mô hình toán thủy văn MIKE NAM đạt kết quả tốt sau quá trình hiệu chỉnh và kiểm định cho hệ số NASH với kết quả cao trên 0</em><em>,</em><em>8. Từ kết quả nghiên cứu nhận thấy rằng, </em><em>b</em><em>iến đổi khí hậu tại khu vực có tác động đáng kể đến tài nguyên nước. Biểu hiện ở sự không đồng đều của dòng chảy năm</em><em> (tăng trung bình 4 %)</em><em>, dòng chảy mùa lũ</em><em> (tăng trung bình 6 %)</em><em> và cạn</em><em> (giảm trung bình 3 %)</em><em> ở cả hai kịch bản RCP 4.5 và RCP 8.5. Nghiên cứu này có thể là cơ sở hỗ trợ cho công tác quản lý định hướng khai thác, sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên nước lưu vực </em><em>S</em><em>ông Kôn </em><em>-</em><em> Hà Thanh trong tương lai.</em></p>2025-07-07T09:41:12+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1156963. MÔ HÌNH GIẢI PHÁP HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG2025-07-07T09:42:08+07:00Lê Vũ Hồng Hảilhvh108@lqdtu.edu.vnNguyễn Sách Thànhthanhns.dth@gmail.comNguyễn Quý Đạtquydatnguyen@mta.edu.vnĐào Khánh Hoàigeogroup2008@gmail.comLê Đức Lộcgeogroup2008@gmail.com<p><em>Hệ thống thông tin địa lý đã trở thành công cụ quan trọng trong quản lý và quy hoạch nuôi trồng thủy sản, giúp giám sát môi trường, tối ưu hóa vùng nuôi và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu không gian. Hệ thống thông tin địa lý nuôi trồng thủy sản tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương được phát triển trên nền tảng WebGIS và Mobile GIS, giúp thu thập, lưu trữ, phân tích và trực quan hóa dữ liệu nuôi trồng thủy sản theo không gian và thời gian thực. Hệ thống cung cấp các chức năng quản lý vùng nuôi trồng thủy sản như hiển thị thông tin, thống kê số liệu dạng biểu đồ, phân tích không gian. Kết quả nghiên cứu không chỉ cho thấy việc ứng dụng GIS giúp nâng cao hiệu quả kết nối thông tin giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hộ nuôi trồng mà còn tạo tiền đề cho phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.</em></p>2025-07-07T09:42:06+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1156994. ĐA DẠNG THỰC VẬT NỔI VÀ ỨNG DỤNG ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC HỒ PHAI LOẠN, THÀNH PHỐ LẠNG SƠN2025-07-07T09:43:00+07:00Hồ Hạnh Linhlethuha@hus.edu.vnLê Thu Hàlethuha@hus.edu.vn<p><em>Hồ Phai Loạn nằm ở trung tâm thành phố Lạng Sơn. Mẫu định tính và định lượng thực vật nổi của hồ Phai Loạn được thu tại 6 điểm nghiên cứu với 2 đợt thu mẫu là tháng 5 và tháng 10 năm 2024. Kết quả định loại thực vật nổi đã ghi nhận được 53 loài và dưới loài, thuộc 17 họ, 8 bộ của 4 ngành là tảo silic (</em><em>Bacillariophyta) 27 loài, tảo lục (Chlorophyta) 13 loài, tảo mắt (Euglenophyta) 6 loài và vi khuẩn lam (Cyanobacteriophyta) có 7 loài. Mật độ thực vật nổi dao động trong khoảng 5.128 đến 6.260 tế bào/lít. Tảo silic có mật độ cao nhất. Tảo mắt có số lượng tế bào ít nhất. </em><em>Chỉ số Palmer, chỉ số </em><em>Euglenophyta</em><em> và chỉ số Margalef (D) cho thấy chất lượng môi trường nước hồ Phai Loạn đang ở mức ô nhiễm trung bình.</em></p>2025-07-07T09:42:59+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1157035. KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TẠI CÔNG TY TNHH OPTRONTEC VINA, KHU CÔNG NGHIỆP BÁ THIỆN II, HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC2025-07-07T09:43:53+07:00Lê Thu Thủyltthuy@hunre.edu.vnLưu Thành Trungltthuy@hunre.edu.vnNguyễn Thị Minh Nguyệtltthuy@hunre.edu.vn<p><em>Kiểm kê khí nhà kính đối với doanh nghiệp trở nên vô cùng cấp thiết, đây không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là bước đi quan trọng để doanh nghiệp đánh giá chính xác tác động của hoạt động sản xuất đến môi trường. Việc kiểm kê khí nhà kính còn giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy định về môi trường, nâng cao uy tín và hình ảnh thương hiệu, là cơ sở để doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ carbon. Kiểm kê khí nhà kính tại Công ty TNHH Optrontec Vina, khu công nghiệp Bá Thiện II, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã được thực hiện theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP ban hành ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn và đề xuất các giải pháp giảm phát thải. Kết quả đã xác định nguồn phát thải chính bao gồm tiêu thụ điện năng, đốt nhiên liệu, sử dụng gas làm lạnh và bình chữa cháy, trong đó tiêu thụ điện năng là nguồn phát thải lớn nhất. Từ đó, nghiên cứu đã kiểm kê được phát thải từ đốt nhiên liệu, sử dụng gas chất lạnh, thiết bị chữa cháy, điện lưới và đề xuất các giải pháp giảm phát thải như chuyển đổi sang năng lượng tái tạo với hệ thống điện mặt trời và trồng thêm cây xanh. Những giải pháp này không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là cơ hội để doanh nghiệp phát triển bền vững và thịnh vượng trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu cho thấy, việc kiểm kê khí nhà kính và đề xuất giảm phát thải không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và đóng góp vào nỗ lực chung của toàn cầu trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.</em></p>2025-07-07T09:43:52+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1157076. ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TỈNH NINH BÌNH THEO CÁCH TIẾP CẬN CẢNH QUAN2025-07-07T09:44:51+07:00Trịnh Thị Hoài Thutththu@hunre.edu.vnPhạm Thị Lànbththam@hunre.edu.vnNguyễn Hoàng Kiệtbththam@hunre.edu.vnBùi Thị Hồng Thắmbththam@hunre.edu.vn<p><em>Nghiên cứu này đánh giá biến động sử dụng đất tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2015 - 2020 bằng phương pháp tiếp cận cảnh quan, kết hợp ảnh viễn thám Landsat và phân tích GIS. Thuật toán Random Forest trên Google Earth Engine được áp dụng để phân loại ảnh, xác định sự thay đổi sử dụng đất và phân tích cấu trúc cảnh quan theo thời gian. Kết quả cho thấy sự chuyển đổi đáng kể giữa các loại đất. Đất ở, xây dựng tăng mạnh nhất, thêm 2.652,9 ha, chủ yếu do chuyển đổi từ đất nông nghiệp, trong khi đất nông nghiệp giảm 5.918,5 ha do quá trình đô thị hóa. Đất nuôi trồng thủy sản giảm 1.615 ha, còn diện tích rừng giảm nhẹ 404,6 ha do khai thác và chuyển đổi mục đích sử dụng. Phân tích cảnh quan cho thấy mức độ phân mảnh và đa dạng sử dụng đất gia tăng. Chỉ số SDI tăng từ 1,75 lên 1,89, phản ánh sự đa dạng hóa các loại hình sử dụng đất. Đất ở, xây dựng tại TP. Ninh Bình có mức tăng cao nhất về CA, NumP và ED, cho thấy sự mở rộng nhanh chóng của đô thị. Mặc dù đất nông nghiệp giảm diện tích, chỉ số NumP tăng từ 278 lên 305, cho thấy sự phân mảnh do chuyển đổi sang các loại đất khác. Nghiên cứu khẳng định rằng xu hướng đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra mạnh tại TP. Ninh Bình và TP. Tam Điệp, trong khi đất nông nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản thu hẹp. Phương pháp tiếp cận cảnh quan giúp đánh giá định lượng biến động sử dụng đất, hỗ trợ công tác quy hoạch và phát triển bền vững.</em></p>2025-07-07T09:44:48+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1157097. CHIẾT XUẤT ALGINATE TỪ RONG BIỂN TRÔI DẠT VÀ ỨNG DỤNG TẠO HẠT CẦM MÁU SINH HỌC2025-07-07T09:45:41+07:00Nguyễn Đức Toàntoantnmt@gmail.comNguyễn Thành Dươngntduong182@gmail.com<p><em>Hiện tượng rong biển trôi dạt ngày càng gia tăng tại các vùng ven biển Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái và hoạt động kinh tế địa phương. Việc tận dụng nguồn rong biển này để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng là hướng tiếp cận bền vững nhằm giải quyết vấn đề môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn. Nghiên cứu này tập trung vào quy trình phân lập alginate từ rong biển trôi dạt thu thập tại vùng biển Quảng Ninh và ứng dụng alginate thu được trong chế tạo hạt cầm máu sinh học. Rong biển sau khi được làm sạch và loại bỏ tạp chất được chiết alginate bằng dung dịch Na₂CO₃, tiếp theo là tinh chế qua kết tủa ethanol và sấy khô. Kết quả cho thấy hiệu suất thu hồi alginate đạt khoảng 36,2 % so với khối lượng rong khô. Phân tích phổ FTIR xác nhận sự hiện diện của các nhóm chức đặc trưng của alginate (O-H, COO⁻, C-O-C), phù hợp với cấu trúc của alginate thương mại. Alginate được sử dụng để chế tạo hạt cầm máu thông qua quá trình tạo gel và đông chéo với ion Ca²⁺. Thử nghiệm in vitro trong mô hình máu động vật cho thấy các hạt cầm máu có khả năng tạo gel sau 45 ± 5 giây khi tiếp xúc với dịch máu, đồng thời không gây độc tính tế bào theo thử nghiệm MTT trên dòng tế bào fibroblast. Những kết quả này cho thấy alginate từ rong biển trôi dạt có tiềm năng làm vật liệu y sinh an toàn và góp phần xử lý phụ phẩm gây ô nhiễm ven biển. </em></p>2025-07-07T09:45:40+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1157128. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH VỀ CHẤT THẢI NHỰA TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHÂU VĂN LIÊM, THÀNH PHỐ CẦN THƠ2025-07-07T09:46:48+07:00Nguyễn Thanh Giaontgiao@ctu.edu.vnLý Trúc Giangntgiao@ctu.edu.vnQuách Nguyễn Huyền Diệuntgiao@ctu.edu.vn<p><em>Ô nhiễm rác thải nhựa đang là vấn đề cấp bách trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường sống. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng, phát sinh và quản lý rác thải nhựa hiện nay tại </em><em>T</em><em>rường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm. Dữ liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn 306 học sinh ở ba khối lớp 10, 11, 12 bằng biểu mẫu </em><em>G</em><em>oogle. Quá trình phát sinh và thành phần rác thải nhựa được đánh giá bằng cách thu gom, phân loại và cân rác thải trong khuôn viên trường.</em> <em>Kết quả nghiên cứu cho thấy, tổng khối lượng rác thải nhựa sử dụng một lần dao động từ 72,33</em> <em>kg đến 81</em> <em>kg, với hệ số phát sinh dao động từ 0,040 đến 0,045 kg/người/ngày. Rác thải nhựa dùng một lần chủ yếu là cốc nhựa chiếm tỷ lệ 40,03</em> <em>%. Các thành phần đóng góp ít hơn bao gồm chai nhựa chiếm 25,54</em> <em>%, hộp xốp chiếm 18,10</em> <em>%, ống hút và thìa nhựa chiếm 9,96</em> <em>%, túi nilon chiếm 6,37</em> <em>%. Nhà trường có thể tăng cường tuyên truyền các vấn đề về rác thải nhựa dùng một lần vào các hoạt động giảng dạy và các hoạt động ngoại khóa trong phạm vi </em><em>N</em><em>hà trường, góp phần nâng cao kiến thức từ đó làm thay đổi hành vi sử dụng nhựa của học sinh.</em></p>2025-07-07T09:46:46+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/1157159. KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM PHÁT THẢI TẠI CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ VŨ GIA, TỈNH HÀ NAM2025-07-07T09:49:03+07:00Đỗ Nhật Longhahuy@hunre.edu.vnHoàng Anh Huyhahuy@hunre.edu.vn<p><em>Nghiên cứu nhằm kiểm kê lượng khí nhà kính và đề xuất các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính tại Công ty TNHH Quốc tế Vũ Gia, tỉnh Hà Nam. Phạm vi kiểm kê bao gồm phạm vi 1 và phạm vi 2. Kết quả kiểm kê khí nhà kính tại công ty trong năm 2023 cho thấy tổng lượng phát thải quy đổi là 11.359,095 tấn CO₂e. Trong đó, nguồn phát thải lớn nhất là từ sử dụng điện lưới, với 11.137,189 tấn CO₂e, chiếm 98,046 % tổng phát thải. Nguồn phát thải thứ hai là từ các quá trình đốt nhiên liệu cố định và di động, phát sinh 221,906 tấn CO₂e, chiếm 1,954 %. Để giảm thiểu phát thải khí nhà kính, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp như: (i) thay đổi thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, (ii) sử dụng năng lượng tái tạo, (iii) khóa van cung cấp khí nén chính vào giờ nghỉ trưa, (iv) thay thế quạt gió truyền động dây đai bằng quạt thông gió truyền động trực tiếp và (v) áp dụng hệ thống quản lý năng lượng. Những giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng và giảm thiểu tác động môi trường của nhà máy.</em></p>2025-07-07T09:49:01+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11571610. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP THỦY PHÂN LIGNOCELLULOSE TỪ DĂM GỖ THÔNG (PINUS) ĐỂ NÂNG CAO HIỆU SUẤT THU HỒI GLUCOSE2025-07-07T09:51:10+07:00Nguyễn Thị Phương Maintpmai@hunre.edu.vnVũ Văn Longntpmai@hunre.edu.vnNguyễn Thị Danhntpmai@hunre.edu.vn<p><em>Sản xuất glucose từ sinh khối lignocellulose dăm gỗ thông là yếu tố chính góp phần vào giảm chi phí tổng trong quá trình chuyển hóa sinh khối thành ethanol và quá trình thủy phân cellulose bằng enzyme mang lại nhiều lợi thế hơn so với các phương pháp xử lý bằng hóa học bởi sự khả năng hoạt động linh hoạt của enzyme, không gây ô nhiễm môi trường, năng suất đạt cao và tạo ít sản phẩm phụ nhất. Thủy phân enzyme theo mẻ ở nồng độ bã rắn cao đang gặp phải những trở ngại trong quá trình thủy phân như độ nhớt phản ứng cao, nồng độ glucose tích lũy cao. Một chiến lược kiểm soát tối ưu cho quá trình thủy phân fed - batch đã được nghiên cứu nhằm khắc phục các vấn đề trên, tiến hành bổ sung dần cơ chất theo tỷ lệ 25 %/lần (tương ứng fed - batch 4 lần) lần lượt tại các thời điểm 0 giờ, 6 giờ, 12 giờ và 18 giờ. Quá trình chuyển đổi cellulose được tối đa hóa và nồng độ glucose được tích lũy tối đa trong thời gian bổ sung dần cơ chất (fed - batch) đạt 190,1 g/L với hiệu suất thu hồi 70,7 %, tốc độ thủy phân lớn nhất 3,55 (g/L × h). Sau 96 giờ thủy phân nâng hiệu suất thủy phân lên 93,7 % và nồng độ glucose đạt 252 g/L.</em></p>2025-07-07T09:51:09+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11572311. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA BẾN EN, TIẾP CẬN ĐA NGÀNH CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2025-07-07T09:54:40+07:00Bùi Quang Dũngtuan_tongphuc@yahoo.comHoàng Thanh Sơntuan_tongphuc@yahoo.comLê Văn Hươngtuan_tongphuc@yahoo.comHoàng Lưu Thu Thủytuan_tongphuc@yahoo.comTrần Thị Thúy Vântuan_tongphuc@yahoo.comTrịnh Ngọc Tuyếntuan_tongphuc@yahoo.comLê Đức Hạnhtuan_tongphuc@yahoo.comPhạm Thị Cúctuan_tongphuc@yahoo.comTrịnh Xuân Quangtuan_tongphuc@yahoo.comDương Thị Hồng Yếntuan_tongphuc@yahoo.comMai Quang Tuấnmqtuan@hunre.edu.vnTống Phúc Tuấntuan_tongphuc@yahoo.com<p><em>Địa mạo sinh thái là hướng nghiên cứu liên ngành, tập trung và quan hệ hai chiều giữa hệ địa mạo và hệ sinh thái. Các chuyên gia của những chuyên ngành khác nhau (địa chất, địa mạo, nước dưới đất, nước mặt, sinh vật, khí hậu, kinh tế - xã hội và cảnh quan sinh thái) đã cùng phối hợp thực hiện việc khảo sát, thu thập và xử lý tài liệu để xác định và đánh giá các loại hình dịch vụ hệ sinh thái cho các đơn vị địa mạo. Kết quả đã xác định được danh mục chức năng sinh thái và các loại hình dịch vụ hệ sinh thái của Vườn quốc gia Bến En (4 nhóm chức năng và 17 loại hình dịch vụ hệ sinh thái); Kết hợp bản đồ địa mạo với bản đồ sinh thái để xây dựng bản đồ địa mạo sinh thái và đánh giá mức độ đa dạng sinh thái cho các đơn vị đó. Phương pháp đánh giá sử dụng điểm số: “+1” hoặc “0” hoặc “-1”, tương ứng với khả năng cung cấp được, hoặc không có/không rõ, hoặc có tác dụng làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái đó; Điểm đánh giá được tích hợp xử lý để xây dựng bản đồ địa mạo sinh thái với 8 đơn vị, thể hiện phân bố không gian và mức độ đa dạng các loại hình dịch vụ hệ sinh thái. </em></p>2025-07-07T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11572712. XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU TẢI CỦA SÔNG TAM ĐIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA NHẰM PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC2025-07-07T09:54:01+07:00Bùi Đức Tấnbdtan.ph@hunre.edu.vnLê Ngọc Thuấnlnthuan@hunre.edu.vn<p><em>Trong quá trình đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước cần sử dụng nguyên tắc phòng ngừa bằng việc xem xét, cân nhắc đầy đủ các tác động tiêu cực ở mức độ cao nhất mà dòng thải có thể gây ra đối với các mục đích sử dụng của nguồn nước và sử dụng hệ số an toàn cho tất cả các phép tính. Các tác động tiêu cực nhất thường xảy ra trong mùa kiệt, tương ứng với khoảng thời gian này, khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước thường ở mức thấp nhất. Trong các thông số đánh giá cho thấy sông Tam Điệp không còn khả năng tiếp nhận BOD<sub>5</sub>, TSS. Kết quả tính toán quy trình theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp thì hàm lượng BOD<sub>5</sub>, TSS đã vượt quá giới hạn về ngưỡng cho phép xả thải. Đối với NO<sub>2</sub><sup>-</sup> theo phương pháp trực tiếp và gián tiếp sông Tam Điệp vẫn còn khả năng tiếp nhận khoảng 1.635 kg/ngày tương ứng với hệ số Fs = 0,5. Trong quy trình đánh giá khả năng tiếp nhận thải của sông Tam Điệp theo QCVN 08:2023/BTNMT đối với nước mặt loại B. Đối với chất lượng nước mặt loại A thì sông Tam Điệp không còn khả năng tiếp nhận chất hữu cơ do BOD<sub>5</sub> lớn nhất tại thời điểm quan trắc so với QCVN 08:2023/BTNMT.</em><em> Xây dựng quy trình đánh giá khả năng chịu tải của sông Tam Điệp trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhằm phục vụ công tác quản lý chất lượng nguồn nước là quan trọng và cần thiết</em></p>2025-07-07T09:54:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11572913. HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ THÀNH PHẦN CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN PHONG ĐIỀN, HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ2025-07-07T09:55:35+07:00Nguyễn Ngọc Hoangochoactu.edu@gmail.comNguyễn Thanh Giaontgiao@ctu.edu.vn<p><em>Chất thải rắn sinh hoạt được phát sinh hàng ngày và do đó gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng phát sinh, thành phần và các biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn 30 hộ gia đình và lấy mẫu chất thải trực tiếp từ 15 hộ gia đình. Phương pháp thống kê mô tả đã được sử dụng để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu là khoảng 1,3 kg/người/ngày. Thành phần hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất là 82,8 %, tiếp theo là nylon (7,9 %) và nhựa (3,4 %). Các thành phần khác có mặt với tỷ lệ nhỏ hơn: Giấy (2,7 %), kim loại (1,6 %), thủy tinh (0,7 %), vải (2,8 %), cao su (1,6 %) và sành sứ/vỏ sò (1 %). Chất thải nguy hại chiếm 1,2 % trong dòng thải chất thải rắn sinh hoạt. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ước tính cho toàn thị trấn là 7,5 tấn/ngày. Các cán bộ quản lý môi trường địa phương đã thực hiện các chiến dịch nâng cao nhận thức và treo biểu ngữ về quản lý chất thải rắn. Tuy nhiên, tỷ lệ phân loại rác tại hộ gia đình theo báo cáo chỉ đạt 53 %. Hơn nữa, tỷ lệ thu gom chỉ đạt 70 %, lượng rác còn lại được ghi nhận là bị đốt, thải ra sông hoặc đổ tại các khu đất trống. Những kết quả này cung cấp thông tin khoa học giá trị cho việc cải thiện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu. Các nỗ lực tiếp theo cần tập trung vào việc hướng dẫn người dân về kỹ thuật phân loại tại nguồn, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý tổng thể chất thải rắn hộ gia đình.</em></p>2025-07-07T09:55:34+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573014. NGHIÊN CỨU TIỀN XỬ LÝ MẪU VÀ LỰA CHỌN ĐIỀU KIỆN THÍCH HỢP CHO QUÁ TRÌNH HÒA TÁCH NHÔM (Al) TỪ TẤM PIN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI2025-07-07T09:56:32+07:00Nguyễn Thành Trungnttrung@hunre.edu.vnTrịnh Kim Yếntkyen@hunre.edu.vn<p><em>Bài báo này trình bày kết quả thực nghiệm về quá trình tiền xử lý mẫu và hòa tách kim loại nhôm (Al) từ các tấm pin năng lượng mặt trời. Trong nghiên cứu này, tấm pin năng lượng mặt trời được làm sạch bề mặt, cắt nhỏ và tiến hành tiền xử lý nhằm tách tấm kính cường lực ra khỏi bề mặt pin năng lượng mặt trời. Phần còn lại được nung, nghiền nhỏ, thu được bột mịn để tiến hành hòa tách Al. Kết quả thực nghiệm cho thấy quá trình tiền xử lý bằng dung môi Toluen ở 450 <sup>o</sup>C đã thu được 54,4 % kính cường lực và 12,3 % sợi kim loại, phần còn lại dạng bột chiếm 33,3 %. Mẫu sau khi tiền xử lý được hòa tách bằng dung dịch NaOH 5 M theo phương pháp vô cơ hóa ướt. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ rắn/lỏng (R:L) phù hợp là 1 g mẫu/15 mL NaOH 5 M, đạt hiệu suất hòa tan 65,5 %. Thời gian hòa tan được lựa chọn là 60 phút ở nhiệt độ 60 <sup>o</sup>C, cho hiệu suất hòa tan đạt 76,2 %.</em></p>2025-07-07T09:56:31+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573115. KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NAM VANG, KHU CÔNG NGHIỆP CHÂU SƠN, THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM2025-07-07T09:57:38+07:00Phạm Thị Mai Thảoptmthao@hunre.edu.vnNguyễn Phương Thúyptmthao@hunre.edu.vnLê Thị Trinhlttrinh@hunre.edu.vn<p><em>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm kê lượng khí nhà kính</em> <em>theo quy định tại Thông tư số 38/2023/TT-BCT ngày 27/12/2023, hướng dẫn kỹ thuật về đo đạc, báo cáo và thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong ngành công thương. </em><em>Công ty cổ phần Nam Vang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nhựa, với tổng tiêu thụ năng lượng là 5.586 TOE, nằm trong danh mục các cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính thuộc ngành Công </em><em>t</em><em>hương theo Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính </em><em>p</em><em>hủ</em><em>,</em><em> do đó việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính là cần thiết. </em><em>Phạm vi kiểm kê phát thải bao gồm phạm vi 1 (phát thải trực tiếp) và phạm vi 2 (phát thải gián tiếp từ sử dụng năng lượng). Kết quả kiểm kê năm 2023 cho thấy</em><em>, </em><em>tổng lượng phát thải của Công ty cổ phần Nam Vang từ các nguồn phạm vi 1 và phạm vi 2 </em><em>quy đổi là 10.375,359 tấn CO<sub>2e</sub>. Trong đó, nguồn phát thải lớn nhất là từ sử dụng điện lưới: 10.255,382 tấn CO<sub>2e</sub> chiếm tỉ trọng 98,8 %. </em><em>Nguồn phát thải lớn thứ 2 là từ các quá trình đốt nhiên liệu cố định và di động với lượng khí nhà kính phát sinh 79,237 tấn CO<sub>2e</sub> chiếm tỉ trọng 1,2 %.</em><em> Kết quả nghiên cứu cung cấp số liệu cho doanh nghiệp có cơ sở đề xuất các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính tương ứng.</em></p>2025-07-07T09:57:37+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573216. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN - NGHIÊN CỨU TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI2025-07-07T09:58:36+07:00Đinh Thị Thanh Huyềndtthuyen@hunre.edu.vnNguyễn Thị Út Ngọcnthue@hunre.edu.vnVũ Thị Phương Anhnthue@hunre.edu.vnNguyễn Thị Khánh Lynthue@hunre.edu.vnNguyễn Quốc Kiênnthue@hunre.edu.vnNguyễn Tùng Lâmnthue@hunre.edu.vnNguyễn Thị Huệnthue@hunre.edu.vn<p><em>Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động môi giới bất động sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Các phương pháp sử dụng gồm thu thập dữ liệu thứ cấp, thu thập dữ liệu sơ cấp, phương pháp phân tích xử lí số liệu, phương pháp so sánh. Theo kết quả điều tra tại các doanh nghiệp, các môi giới bất động sản đều được đào tạo trước khi hành nghề mức độ thường xuyên chiếm 30 %, các đơn vị thường xuyên cập nhật thông tin bất động sản với tỉ lệ đánh giá 50,91 %. Các môi giới ít được trang bị thiết bị thông minh 43,64 %. Theo kết quả điều tra khách hàng mức độ hài lòng chung của nhóm tổ chức, quản lý đạt 4,12 điểm, nhóm trách nhiệm của môi giới bất động sản đạt 4,22 điểm, nhóm khả năng ứng dụng công nghệ thông tin đạt 4,06 điểm, nhóm yếu tố cá biệt đạt 4,07 điểm, hiểu biết pháp luật của môi giới bất động sản đạt 3,98 điểm. Giải pháp nâng cao chất lượng môi giới bất động sản gồm hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, tăng cường đào tạo chuyên sâu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuẩn hoá quy trình, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, cải thiện chất lượng chăm sóc khách hàng.</em></p>2025-07-07T09:58:35+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573417. ĐÁNH GIÁ TÍNH PHÙ HỢP CỦA PHƯƠNG ÁN NHẬN CHÌM VẬT LIỆU NẠO VÉT THEO TIÊU CHUẨN VÀ THÔNG LỆ QUỐC TẾ. VÙNG NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG TẠI KHU VỰC BIỂN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH2025-07-07T09:59:52+07:00Mạnh Nguyễnndmanh@hunre.edu.vnNguyễn Đức Toànductoan@mae.gov.vn<p><em>Các hoạt động nhận chìm ở biển vật liệu nạo vét công trình hàng hải đã và đang được thực hiện tại Việt Nam, ở nhiều mức độ và quy mô khác nhau; </em><em>T</em><em>heo đó, để </em><em>phục vụ vận hành Trung tâm Điện lực Duyên Hải, một khối lượng lớn vật chất nạo vét đang được đề xuất nhận chìm ở biển tại khu vực biển huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.</em><em> Bài báo phân tích mức độ tương thích của phương án nhận chìm ở biển vật liệu nạo vét với các tiêu chuẩn được quy định tại Việt Nam và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực quản lý môi trường biển thông qua việc đánh giá các kết quả thực hiện của Dự án nhận chìm ở biển vật liệu nạo vét tại khu vực biển Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Trên cơ sở đối chiếu giữa khung pháp lý và kỹ thuật của Việt Nam với các hướng dẫn của Công ước London, OSPAR, cùng kinh nghiệm thực tiễn từ các quốc gia phát triển, nghiên cứu chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt đáng lưu ý. Kết quả đánh giá cho thấy phương án tại Trà Vinh đã đáp ứng các yêu cầu cơ bản về pháp lý và kỹ thuật trong nước, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế liên quan đến phân tích sinh học, tái sử dụng vật liệu và giám sát môi trường dài hạn. Bài viết đề xuất các cải tiến theo hướng tích hợp phương pháp đánh giá trọng số bằng chứng, phân loại vật liệu theo nhiều cấp và ứng dụng giải pháp nhận chìm có kiểm soát (CAD), nhằm nâng cao tính bền vững và hiệu quả quản lý trong các dự án tương tự tại Việt Nam.</em></p>2025-07-07T09:59:51+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573518. KIỂM KÊ VÀ DỰ BÁO PHÁT THẢI CO2 TỪ CLINKER TẠI TỈNH NINH BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH2025-07-07T10:00:51+07:00Thái Thị Thanh Minhtttminh@hunre.edu.vnLại Ngọc Ánh Dươngtttminh@hunre.edu.vn<p><em>Ngành xi măng - với đặc trưng tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải lớn CO₂, đặc biệt từ quá trình sản xuất clinker - là một trong những lĩnh vực trọng điểm cần được theo dõi và kiểm soát. Bài báo thực hiện kiểm kê phát thải CO<sub>2</sub> trong quá trình sản xuất xi măng tại tỉnh Ninh Bình theo phương pháp tính bậc 2 của IPCC (2006). Đồng thời dự báo phát thải cho 11 năm tiếp theo bằng mô phỏng Monte Carlo và đánh giá độ không chắc chắn để nâng cao độ tin cậy. Kết quả cho thấy lượng phát thải khí nhà kính tại Ninh Bình đã tăng khoảng 14,62 % từ 7,5 triệu tCO<sub>2</sub> vào năm 2016 lên đến 8,6 triệu tCO<sub>2</sub> vào năm 2019. Tuy nhiên, do tác động của dịch COVID-19 nên lượng khí thải năm 2020 của tỉnh đã giảm xuống khoảng 7,7 triệu tCO<sub>2</sub>. Dự báo trong giai đoạn 11 năm tới từ 2020 - 2030, tỉnh Ninh Bình sẽ phát thải khoảng 9,21 triệu tCO<sub>2</sub> vào năm 2025 và lên hơn 10,55 triệu tCO<sub>2</sub> vào năm 2030. Để giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong hoạt động sản xuất xi măng tại Ninh Bình, cần giảm lượng điện năng tiêu thụ và sử dụng nguồn nhiên liệu thay thế. Dự kiến nếu không có biện pháp giảm thiểu, Ninh Bình sẽ phải chi trả khoảng 309 triệu USD chi phí môi trường, trong đó bao gồm chi phí thuế carbon và chi phí năng lượng. Thông qua nghiên cứu này, nhóm tác giả mong muốn đóng góp dữ liệu và phương pháp tiếp cận nhằm hỗ trợ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp xi măng nói riêng. Đồng thời giúp kết nối khoa học khí hậu với kinh tế học môi trường, tạo cơ sở cho nghiên cứu liên ngành tiếp theo.</em></p>2025-07-07T10:00:50+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573619. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI Ý ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI NĂNG LƯỢNG XANH KHI THAM GIA GIAO THÔNG CỦA SINH VIÊN2025-07-07T10:02:54+07:00Lê Nguyễn Tuyết Ngọcnganmyoui97@gmail.comNguyễn Tú Anhnganmyoui97@gmail.comTừ Minh Tâmnganmyoui97@gmail.comVũ Thị Phương Mainganmyoui97@gmail.comNguyễn Quỳnh Ngânnganmyoui97@gmail.com<p><em>Chuyển đổi năng lượng là chính sách hàng đầu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường hiện nay. Đặc biệt, thủ đô Hà Nội của Việt Nam đang đẩy mạnh yêu cầu thực tiễn này do tình trạng ô nhiễm đạt đến mức độ báo động. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đào sâu về hiện trạng, thuận lợi, khó khăn và giải pháp của vấn đề chuyển đổi xanh khi tham gia giao thông. Dựa trên lý thuyết hành vi (TPB) kết hợp thang đo Likert 5 mức độ, nhóm nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi năng lượng của tầng lớp sinh viên gồm: Niềm tin, nhận thức về trách nhiệm môi trường, thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi. Mặt khác, nữ giới có ý định chuyển đổi xanh cao hơn nam giới và nhân tố chuẩn chủ quan chưa có mức độ tác động đáng kể. Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ý định chuyển đổi năng lượng xanh khi tham gia giao thông của sinh viên tại thành phố Hà Nội.</em></p>2025-07-07T10:02:53+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trườnghttps://vjol.info.vn/index.php/hunre/article/view/11573720. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG WEBSITE BÁN ĐIỆN THOẠI CHO CỬA HÀNG SHADOWCATZ2025-07-07T10:03:49+07:00Đỗ Thị Nụdonu201184@gmail.com<p><em>Xây dựng website bán điện thoại mang lại nhiều ưu điểm quan trọng, giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng hiệu quả hơn và tăng doanh thu. Khách hàng có thể tìm thấy và mua điện thoại từ bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, không bị giới hạn bởi địa lý như cửa hàng truyền thống. Giảm chi phí thuê mặt bằng, nhân viên và các chi phí vận hành khác, dễ dàng tối ưu quảng cáo trực tuyến để thu hút khách hàng mục tiêu. Cung cấp nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá, combo để thu hút khách hàng; Dễ dàng tích hợp nhiều phương thức thanh toán, giúp khách hàng mua sắm thuận tiện hơn. Quản lý sản phẩm và đơn hàng dễ dàng: Tích hợp hệ thống quản lý hàng tồn kho, giúp kiểm soát sản phẩm chính xác; Theo dõi đơn hàng, giao hàng nhanh chóng và chuyên nghiệp. Tăng độ tin cậy và nhận diện thương hiệu: Website chuyên nghiệp giúp khách hàng tin tưởng hơn vào doanh nghiệp; Dễ dàng xây dựng thương hiệu riêng, tạo sự khác biệt với đối thủ. Tích hợp marketing online hiệu quả: Dễ dàng triển khai quảng cáo Google Ads, Facebook Ads để thu hút khách hàng; SEO giúp website có thứ hạng cao trên Google, tiếp cận nhiều khách hàng tiềm năng hơn.</em></p>2025-07-07T10:03:48+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Tài nguyên và Môi trường