Nghiên cứu Con người (nay là Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới)
https://vjol.info.vn/index.php/ihs
<p><strong>Tạp chí của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p>Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Namvi-VNNghiên cứu Con người (nay là Tạp chí Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới)2815-5777Mục lục tiếng Việt
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121480
<p>Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người số 6(135) 2024</p>Ban biên tập
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)11Mục lục tiếng Anh
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121481
<p>Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người số 6(135) 2024</p>Ban biên tập
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)22Quyền con người và các vấn đề về phát triển bền vững
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121482
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Từ hai thập kỉ gần đây, mối liên hệ giữa quyền con người (QCN) và phát triển bền vững (PTBV) là một chủ đề được nhắc đến thường xuyên trên các diễn đàn quốc tế và cả ở Việt Nam. Bài viết phân tích mối liên hệ giữa QCN và PTBV dưới góc độ lí luận và thực tiễn, để từ đó đánh giá mối liên hệ này trong bối cảnh của Việt Nam nhằm đưa ra các kiến nghị về chính sách pháp luật.<br><strong>Abstract</strong>: Since the last two decades, the connection between human rights and sustainable development has been a topic frequently mentioned in international forums and in Vietnam. This article analyzes the relationship between human rights and sustainable development from a theoretical and practical perspective to evaluate this relationship in the Vietnamese context to make recommendations on legal policies.<br><br></p>Giang Nguyễn Linh
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)311Công tác xã hội bảo đảm quyền an sinh xã hội qua ý kiến của người dân nông thôn
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121483
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Quyền An sinh xã hội là một trong những quyền cơ bản của con người mà mỗi quốc gia đều cần hướng tới thực hiện nhằm phòng ngừa, bảo vệ, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho các thành viên xã hội. Ở Việt Nam, hiện còn ít chương trình, đề án tập trung vào giải quyết vấn đề đảm bảo quyền an sinh xã hội của người dân thông qua các hoạt động công tác xã hội cả chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Nghiên cứu này được thực hiện tại một xã ngoại thành Hà Nội nhằm phân tích thực trạng hiểu biết và nhu cầu của người dân nông thôn về quyền an sinh, cũng như hoạt động công tác xã hội bán chuyên nghiệp đã góp phần như thế nào trong việc hỗ trợ người dân thực hiện các quyền an sinh xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân có sự hiểu biết khá tốt về các quyền an sinh và có nhu cầu được thực hiện các quyền này. Đây là cơ sở thực tiễn nhằm không ngừng nâng cao việc đảm bảo quyền an sinh xã hội cho người dân, cũng như là động cơ thúc đẩy công tác xã hội ở nông thôn cần được phát triển theo chiều hướng ngày càng chuyên nghiệp.</p> <p><strong>Abstract</strong>: The right to social security is one of the basic human rights that every country needs to aim to implement in order to prevent, protect, minimize and overcome risks for members of society. In Vietnam, there are currently few programs and projects focusing on solving the problem of ensuring people's social security rights through professional and semi-professional social work activities. This study in a suburban commune of Hanoi aims to analyze the current state of understanding and needs of rural people regarding social security rights, as well as how the activities of semi-professional social work have contributed to supporting people in exercising their social security rights. The results of the study show that people have a fairly good understanding of social security rights and have a need to exercise these rights. This is a practical basis for continuously improving the guarantee of social security rights for people, as well as a driving force for promoting social work in rural areas to be developed in an increasingly professional direction.</p>Thắng Đoàn Kim
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)1225Hệ giá trị đạo đức của con người Việt Nam hiện nay
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121484
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Mỗi thời kì khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau có hệ giá trị đạo đức khác nhau. Câu hỏi đặt ra là, trong bối cảnh đạo đức xã hội đang xuống cấp hiện nay, hệ giá trị đạo đức của con người Việt Nam là gì? Đây là câu hỏi thu hút sự quan tâm của cả xã hội, có vai trò quan trọng quyết định xu hướng phát triển của mỗi cá nhân cũng như của toàn xã hội. Bài viết bước đầu tìm hiểu hệ giá trị đạo đức của con người Việt Nam hiện nay qua các Văn kiện của Đảng khóa XI, XII và XIII nhằm góp phần tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.</p> <p><strong>Abstract</strong>: Moral is a form of social consciousness, reflecting social existence and regulated by social existence. Each different period, each different nation has a different moral value system. The question is, in the current context of social moral degradation,what is the moral value system of Vietnamese people? This is a question that attracts the attention of the whole society, plays an important role in determining the development trend of each individual as well as the entire society. The article initially explores the moral value system of Vietnamese people today throughthe 11th - 13th Party Congress documentsin order to find the answer to the question above.</p>Thơm Trần Thị
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)2635Tác động của xâm nhập mặn, hạn hán đến lao động,việc làm, thu nhập của người dân ở khu vực ven sông Hậu
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121485
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Nghiên cứu làm rõ những tác động đa chiều của hai vấn đềmôi trường lớn mà khu vực ven sông Hậu đã và đang phải đối mặt là xâm nhập mặn và hạn hán đến sinh kế, lao động, việc làm và thu nhập của người dân. Xâm nhập mặn và hạn hán không chỉtác động làm giảm diện tích, giảm năng suất gieo trồng, còn khiến công lao động nhiều hơn, chi phí cho sản xuất lớn hơn và tạo ra những nguy cơ mất trắngở những mùa vụnhất định. Đồng thời, xâm nhập mặn và hạn hán còn gây khó khăn cho người dân tại khu vực ven sông Hậu trong tìm kiếm việc làm, khó khăn trong triển khai công việc và cao hơn là làm giảm thu nhập của người dân. Những vấn đềnày tạo nên những thách thức nhất định trong việcứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai và việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững khu vực ven sông Hậu nói riêng, đồng bằng sông Cửu Long nói chung trong thời gian tới.</p> <p><strong>Abstract</strong>: The study clarifies the multidimensional impacts of two major environmental issues that the Hau River area has been facing, which are soil salinity and drought, on people's livelihoods, labor, employment and income. Soil salinity and drought not only reduce the area and productivity of crops, but also increase labor costs, increase production costs and create risks of total bad harvest in certain seasons. At the same time, soil salinity and drought also cause difficulties for people in the Hau River area in finding jobs,difficulties in implementing work and, more importantly, reduce people's income. This creates certain challenges in responding to climate change, natural disasters and implementing sustainable development goals in the Hau River area in particular and the Mekong Delta in general in the coming time.</p>Hoa Lê Thị
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)3648Những nhân tố ảnh hưởng tới huy động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ hộ gia đình người Dao thoát nghèo bền vững ở tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121486
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng tới huy động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ hộ gia đình người Dao thoát nghèo bền vững ở Thanh Hóa được giới hạn ở 2 nhóm yếu tố: Yếu tố nội lực (trình độ học vấn, nghề nghiệp, kĩ năng, kinh nghiệm, số lao động đủ sức khỏe làm việc của hộ, các nguồn vốn vật chất của hộ); Yếu tố ngoại lực (những yếu tố vĩ mô bên ngoài như chính sách nhà nước, sự hỗ trợ của các tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ). Những nhân tố nội lực có vai trò quyết định khả năng huy động nguồn lực cộng đồng, ngược lại, những nhân tố ngoại lực dù không có vai trò quyết định nhưng có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng tới huy động nguồn lực cộng đồng hỗ trợ người Dao ở Thanh Hóa thoát nghèo bền vững.</p> <p><strong>Abstract</strong>: Research on factors affecting community resource mobilization to support Dao households to escape poverty sustainably in Thanh Hoa is limited to two internal dimensions: factors: education level, occupation, skills, experience, number of healthy workers in the household, physical capital resources of the household; External factors:external macro factors such as state policies, the support from state organizations, non-governmental organizations. Internal factors play a decisive role in the ability to mobilize community resources. On the contrary, external factors do not have a decisive role;however, they are vital in influencing the mobilization of community resources to support the Dao people in Thanh Hoa's sustainable escape from poverty.</p>Duyên Nguyễn Thị
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)4961Chính sách di dân và phân bố dân cư ở vùng kinh tế mới Minh Hải (1976 - 1985)
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121487
<p><strong>Tóm tắt</strong>: Sau năm 1975, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, chính sách xây dựng vùng kinh tế mới được thực hiện ở các tỉnh Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ với mục đích phân bố lại lực lượng lao động, mở rộng diện tích canh tác giữa các vùng nhằm tăng năng suất lao động xã hội. Từ năm 1976 đến năm 1985, một bộ phận lớn cư dân tỉnh Hà Nam Ninh đã tình nguyện vào các nông trường tỉnh Minh Hải khai hoang, lập nghiệp. Nhờ vào sự cần cù, chịu thương, chịu khó của những người tiên phong đi xây dựng vùng kinh tế mới, vùng đất “rừng hoang, cỏ dại” dần trở nên trù phú, phát triển. Nghiên cứu về vấn đề này có thể góp thêm tài liệu tham khảo cho việc giải quyết các vấn đề về di cư hiện nay ở Việt Nam.</p> <p><strong>Abstract</strong>: After 1975, implementing the Party and State's policies, the policy of building new economic regions was implemented in the Central Highlands, Mekong Delta, Southeast, with the purpose of exploiting and redistributing labor between regions and industries to increase social labor productivity. The new economic zone of Minh Hai province is also part of the policy of redistributing the labor force nationwide.From 1976 to 1985, a large number of residents of Ha Nam Ninh province volunteered to go to farms in Minh Hai province to reclaim land and start a business. Thanks to the diligence, compassion, and hard work of the pioneers who built the new economic zone, The land of “wild forest and weeds” gradually became a rich and developed land. This research can serve as a reference for addressing current migration issues in Vietnam.</p>Vân Nguyễn Thu
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)6273Phát triển con người trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay (Kỷ yếu hội thảo khoa học thường niên lần thứ nhất về nghiên cứu con người)
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121488
<p>Bài đọc sách đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người số 6(135) 2024</p>Dung Lê Thị Đan
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)7476Tổng Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người năm 2024
https://vjol.info.vn/index.php/ihs/article/view/121489
<p>Tổng Mục lục Tạp chí Nghiên cứu Con người năm 2024</p>Ban biên tập
Bản quyền (c) 2024 Nghiên cứu Con người
2025-11-062025-11-066(135)7779