Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
https://vjol.info.vn/index.php/isscr
<p><strong>Tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p>vi-VNTạp chí Khoa học xã hội miền Trung1859-2635Từ địa kinh tế đến địa chính trị: BRI và những ranh giới mong manh trong hợp tác toàn cầu
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123974
<p>Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc đã trở thành chiến lược kinh tế và địa chính trị có ảnh hưởng toàn cầu. Trên phương diện kinh tế, BRI giúp các nước đang phát triển cải thiện hạ tầng, giao thương và kết nối khu vực, nhưng cũng làm dấy lên lo ngại về bẫy nợ và mất chủ quyền kinh tế (Sri Lanka, Pakistan, Kenya). Về địa chính trị, BRI không chỉ là công cụ mở rộng thương mại mà còn giúp Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng chiến lược, gây căng thẳng với Mỹ, Ấn Độ và EU. Các dự án như CPEC, cảng Hambantota hay tuyến đường sắt Trung Quốc - Lào làm thay đổi cán cân quyền lực, gia tăng xung đột lợi ích khu vực. Hơn nữa, sáng kiến này còn thúc đẩy mô hình quản trị kinh tế do Trung Quốc dẫn dắt và kiểm soát, từ tài chính, công nghệ đến quản lý dữ liệu. Trong bối cảnh này, bài viết phân tích các cơ hội và thách thức mà BRI mang lại, bước đầu giải đáp câu hỏi liệu đây có thực sự là nền tảng hợp tác hay một công cụ gây bất bình đẳng trong hệ thống kinh tế toàn cầu.</p>Vương Nguyễn HùngHiền Đỗ Thị Xuân
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Cạnh tranh địa chiến lược giữa EU và Trung Quốc tại tiểu vùng sông Mê Kông
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123976
<p>Tiểu vùng sông Mê Kông (GMS) đang nổi lên như một trọng tâm mới trong cạnh tranh địa chiến lược giữa Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU) những năm gần đây. Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng thông qua Sáng kiến Hợp tác Lan Thương – Mê Kông và các dự án hạ tầng quy mô lớn, trong khi EU tập trung vào hợp tác phát triển bền vững, thúc đẩy quản trị tốt và quyền con người. Sự khác biệt giữa “sức mạnh cứng” của Trung Quốc và “sức mạnh mềm” của EU được phân tích cùng tác động đối với các quốc gia hạ nguồn như Lào, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar. Bài viết này đánh giá chiến lược và cách tiếp cận của Trung Quốc và EU tại khu vực tiểu vùng Mê Kông.</p>Đức Đặng Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc tại Đông Nam Á giai đoạn 2017 - 2024 dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123977
<p>Quan hệ Mỹ - Trung trong thế kỷ XXI luôn có biến số khó lường và phức tạp. Năm 2017 đánh dấu bước ngoặt khi Trung Quốc theo đuổi chính sách ngoại giao nước lớn với tham vọng tái cấu trúc trật tự thế giới theo hướng có lợi ích cho mình, trong khi Mỹ chuyển sang cách tiếp cận cứng rắn, coi Trung Quốc là đối thủ duy nhất. Dưới góc nhìn của Chủ nghĩa Hiện thực, trong hệ thống quốc tế vô chính phủ, cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ nỗ lực của mỗi bên trong việc tối đa hóa lợi ích quốc gia và kiểm soát môi trường địa chính trị. Nghiên cứu này phân tích động cơ, chiến lược và hành vi cạnh tranh của hai cường quốc tại Đông Nam Á giai đoạn 2017 - 2024 qua lăng kính của Chủ nghĩa Hiện thực, từ đó đề xuất một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam.</p>Loan Lê Thị PhươngHiền Bạch Thái
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831616Phòng, chống lãng phí trong lĩnh vực kinh tế góp phần đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123979
<p>Trước bối cảnh đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới với các mục tiêu 100 năm mà Đảng đã đề ra, vấn đề tăng trưởng kinh tế đóng vai trò then chốt, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các mục tiêu khác. Để đạt được điều này, phòng, chống lãng phí trong kinh tế trở thành nhiệm vụ cấp bách nhằm tối ưu hóa nguồn lực, cải thiện tốc đố tăng trưởng kinh tế và củng cố vị thế quốc gia. Bài viết phân tích hậu quả của lãng phí, đánh giá thực trạng phòng, chống lãng phí và chỉ ra nguyên nhân của tình trạng lãng phí trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phòng, chống lãng phí trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam thời gian tới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đạt được các mục tiêu quốc gia.</p>Hậu Nguyễn TrungThủy Đặng Thu
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Đổi mới quản lý nguồn nhân lực khu vực công tại Việt Nam: Thực trạng và đề xuất giải pháp theo hướng quản trị hiện đại
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123980
<p>Bài báo nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới quản lý nguồn nhân lực khu vực công tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu quản trị hiện đại. Phương pháp nghiên cứu dựa trên phân tích tài liệu trong nước và quốc tế, đối sánh kinh nghiệm quản trị nhân sự công ở các nước phát triển với Việt Nam. Kết quả chỉ ra rằng Việt Nam đã có nhiều cải cách trong quản lý nguồn nhân lực khu vực công song vẫn gặp phải nhiều thách thức: khung pháp lý chưa đồng bộ, năng lực số của công chức thấp, hạn chế trong đào tạo và phát triển nhân lực, rào cản về công nghệ và nguồn lực. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất bốn giải pháp chủ yếu: (1) Về chính sách và thể chế; (2) Về tổ chức và quản lý; (3) Về công nghệ và số hóa và (4) Về phát triển nguồn nhân lực.</p>Hoàng Chử ĐứcHiền Đàm ThịChuyên Bùi Minh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831717Phát triển bền vững du lịch vùng biên giới trong bối cảnh mới: Nghiên cứu trường hợp huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123981
<p>Bài báo phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tại vùng biên giới tỉnh Quảng Trị<sup>(1)</sup>. Thông qua nghiên cứu điển hình khu vực huyện Hướng Hóa (cũ) – một địa bàn biên giới trọng điểm trên tuyến Hành lang kinh tế Đông–Tây, bài viết làm rõ những lợi thế đặc thù của vùng biên giới Hướng Hóa trong phát triển du lịch; đánh giá thực trạng phát triển du lịch của huyện Hướng Hóa (cũ) trong thời gian qua; đồng thời, nhận diện những điểm nghẽn cố hữu đang cản trở sự phát triển bền vững ngành du lịch của địa phương. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững cho khu vực biên giới Hướng Hóa nói riêng và tỉnh Quảng Trị mới trong thời gian tới.</p>Hiệp Hoàng HồngHạnh Tống Thị HảiHuyền Nguyễn Thị Thanh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hướng đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123982
<p>Kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia, các địa phương cho thấy để tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và lâu dài, cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác nguồn tài nguyên chất xám, tài sản trí tuệ, phát triển khoa học, công nghệ, xây dựng và phát triển mô hình kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ mới. Điều này đòi hỏi cần có một môi trường thực sự thân thiện, khuyến khích, thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với chuyển đổi số với sự tham gia tích cực của nhiều thành tố gồm cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, các trường đại học, tổ chức khoa học công nghệ, các quỹ đầu tư, các tổ chức hỗ trợ, các vườn ươm, chuyên gia, nhà khoa học và trung tâm là các doanh nghiệp. Bài viết này, phân tích thực trạng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó bài viết cũng đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh phát triển lĩnh vực này nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới của đất nước theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị.</p>Anh Nguyễn Dũng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Nghiên cứu tác động của việc thực thi trách nhiệm xã hội đến sự gắn kết công việc của nhân viên tại các cơ sở lưu trú cao cấp ở Khánh Hòa
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123983
<p>Nghiên cứu đánh giá tác động của nhận thức về việc thực thi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đối với sự gắn kết công việc của nhân viên tại các cơ sở lưu trú cao cấp ở Khánh Hòa. Dữ liệu được thu thập ngẫu nhiên từ 550 nhân viên và quản lý thông qua phỏng vấn trực tiếp và khảo sát trực tuyến. Kết hợp phương pháp định tính và định lượng, nghiên cứu áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất (PLS-SEM) để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy CSR đối với các bên liên quan đều có tác động tích cực đến sự gắn kết công việc, trong đó CSR hướng đến nhân viên có ảnh hưởng mạnh nhất. Mô hình nghiên cứu đạt độ phù hợp cao, các giả thuyết được kiểm chứng với mức ý nghĩa thống kê cao. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của CSR trong việc thúc đẩy sự gắn kết công việc của nhân viên và cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách tối ưu hóa CSR trong lĩnh vực lưu trú. Nghiên cứu cũng đề xuất mở rộng mô hình với các biến trung gian và điều tiết để làm rõ hơn cơ chế tác động trong các nghiên cứu tiếp theo.</p>Phúc Lê TrầnTrân Đoàn Nguyễn KhánhDuyên Huỳnh Cát
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Mô hình tích hợp du lịch sinh thái và nông nghiệp hữu cơ tại Hội An: Tiềm năng và giải pháp phát triển bền vững
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123985
<p>Bài viết tập trung phân tích mô hình tích hợp giữa du lịch sinh thái và nông nghiệp hữu cơ tại Hội An nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn bền vững. Thông qua tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và khảo sát định tính tại năm địa điểm điển hình (Trà Quế, Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Châu), nghiên cứu làm rõ vai trò của cộng đồng, chính sách hỗ trợ và chiến lược quản lý trong việc triển khai mô hình này. Kết quả chỉ ra rằng mô hình tích hợp mang lại nhiều giá trị về kinh tế, xã hội và môi trường, nhưng cũng đối mặt với các thách thức như thiếu nguồn lực, cơ sở hạ tầng yếu và thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp như tăng cường năng lực cộng đồng, thúc đẩy hợp tác công – tư và xây dựng khung chính sách hỗ trợ nhằm tối ưu hóa hiệu quả mô hình trong dài hạn. Những kết luận này không chỉ có ý nghĩa đối với Hội An mà còn mở ra định hướng nhân rộng tại các vùng nông thôn khác của Việt Nam.</p>Hòa Võ Hữu
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Phân tích ý định hành vi chia sẻ tri thức – Trường hợp đội ngũ giảng viên thuộc Đại học Đà Nẵng
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123986
<p>Với dữ liệu điều tra sơ cấp sử dụng cuối cùng là 109 người đang làm công tác giả dạy tại Đại học Đà Nẵng, nhóm tác giả lần lượt sử dụng các kỹ thuật phần tích: Kiểm định độ hội tụ và phân biệt thang đo; mô hình đa cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi chia sẻ tri thức của đội ngũ giảng dạy thuộc Đại học Đà Nẵng: thái độ; chuẩn xã hội; kiểm soát hành vi và 3 nhân tố tác động gián tiếp thông qua nhân tố thái độ: văn hóa tổ chức; quan hệ tương hổ; cảm nhận giá trị. Theo đó, tác giả đã đề xuất một số hàm ý chính sách đến các cấp quản lý của Đại học Đà Nẵng nhằm đẩy mạnh ý định thực hiện hành vi chia sẻ tri thức bằng việc cải thiện các nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp.</p>Tín Phạm QuangNhàn Nguyễn Thị ThanhSILAVY Phanith
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Nhận diện loại hình, mức độ xung đột xã hội trong lĩnh vực kinh tế trên địa bàn vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123989
<p>Tỉnh Quảng Ngãi là địa phương có sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng trong thời gian gần đây, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp và khu kinh tế. Điều đó dẫn đến nguy cơ và đã xảy ra nhiều mâu thuẫn xã hội, trong đó có những mâu thuẫn đã chuyển hóa thành xung đột xã hội. Các mâu thuẫn/xung đột xã hội trên địa bàn vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua xảy ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và có sự đan xen lẫn nhau. Từ thực tiễn khảo sát 600 người dân và phỏng vấn sâu 50 cán bộ quản lý địa phương, bài viết tập trung nhận diện các loại hình, mức độ xung đột xã hội trong lĩnh vực kinh tế trên địa bàn vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Từ đó, đề xuất một số hàm ý nhằm ngăn ngừa, hoàn thiện cơ chế xử lý xung đột xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.</p>Châu Ngọc HòeYến Nguyễn Hoàng
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Phát huy Bài Chòi trong không gian đô thị Nam Trung Bộ
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123990
<p>Nghệ thuật bài chòi miền Trung được UNESCO ghi danh là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2017, từ đó các loại hình hô bài chòi, bài chòi lớp hồi phục, lan tỏa và thích ứng với phát triển du lịch. Hô bài chòi trở thành một loại hình nghệ thuật đường phố và sản phẩm văn hóa liên kết với hoạt động du lịch. Thông qua phương pháp điền dã dân tộc học (phỏng vấn sâu và quan sát tham gia) thực hiện tại Hội An, Đà Nẵng, Bình Định và Khánh Hòa vào năm 2023, bài viết phân tích hiện trạng phát huy bài chòi tại không gian đô thị ở Nam Trung Bộ, qua đó, cung cấp phát hiện về khả năng thích ứng và hội nhập của bài chòi vào đời sống đương đại. Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: <em>i)</em> khái quát đặc điểm của bài chòi ở khu vực Nam Trung Bộ; <em>ii)</em> phát huy bài chòi dưới hình thức nghệ thuật trình diễn đường phố; <em>iii)</em> bài chòi thích ứng với phát triển du lịch. Thông qua phân tích đa chiều về tương tác giữa nghệ thuật bài chòi với đời sống đương đại ở một số đô thị thuộc Nam Trung Bộ, bài viết đóng góp những tranh luận về sự phát huy, khả năng thích ứng của di sản văn hóa.</p>Xuyên Nguyễn Thị Thanh
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Vai trò của phật giáo Đà Nẵng (xứ Quảng) trong đời sống xã hội giai đoạn thế kỉ XVII - XIX
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123992
<p>Trên vùng đất Đà Nẵng, tức xứ Quảng (Quảng Nam – Đà Nẵng), giai đoạn thế kỉ XVII – XIX, Phật giáo phát triển khá mạnh và giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Bài viết sẽ chỉ ra và luận giải các vai trò nổi bật của Phật giáo Đà Nẵng, đó là: (1) góp phần ổn định nhân tâm, tạo nền tảng tinh thần cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của quần chúng; (2) góp phần xây dựng xã hội nhân văn, hướng thiện và hướng thượng; và (3) thắt chặt cố kết cộng đồng, tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu của tiểu vùng văn hóa xứ Quảng.</p>Thông Lê Xuân
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Dấu tích thời đại đá cũ tại lưu vực sông Krông Nô, tỉnh Đắk Nông
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123994
<p>Từ sau những phát hiện về di tích, di vật thời đại Đá cũ tại An Khê được công bố năm 2014; hàng loạt dấu tích thời đại Đá cũ được phát hiện tại tỉnh Gia Lai và một phần tỉnh Đắk Lắk. Các dấu tích đều phân bố tại lưu vực sông Ba cổ. Điều này cho thấy tiềm năng phát hiện các dấu tích thời đại Đá cũ tại các địa phương khác trên vùng Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra những nghi vấn về sự tồn tại của cơ tầng Đá cũ ngoài lưu vực sông Ba trên vùng đất Tây Nguyên. Trong những năm 2022 - 2024, từ những phát hiện của các nhà địa chất, Viện Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên đã chủ trì thực hiện các nhiệm vụ khoa học điều tra, khảo sát, phúc tra và khai quật khảo cổ học, qua đó đã phát hiện tổng cộng 10 địa điểm thời đại Đá cũ tại lưu vực sông Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, trong đó tiến hành khai quật 1 địa điểm Thôn 7 (KrN1). Kết quả khảo sát và khai quật khảo cổ đã chứng minh sự tồn tại của thời đại Đá cũ tại lưu vực sông Krông Nô trong khung niên đại tương đối khoảng 70.000 – 11.000 năm BP. Bài viết trình bày cụ thể kết quả khảo sát, đặc trưng và niên đại của thời đại Đá cũ tại lưu vực sông Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.</p>Đức Vũ Tiến
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Tái cấu trúc giá trị di sản nhà dài truyền thống của người Ê Đê phục vụ phát triển du lịch ở tỉnh Đắk Lắk
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123995
<p>Di sản nhà dài của người Ê Đê tại tỉnh Đắk Lắk là một loại hình kiến trúc mang nhiều giá trị đặc trưng; nhưng từ những thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, loại hình kiến trúc này có sự phân rã để hình thành các ngôi nhà sàn nhỏ. Tuy vậy, những năm gần đây xu hướng phục hồi ngôi nhà dài truyền thống, đặc biệt là nhà dài cộng đồng để phục vụ du lịch, đã trở nên phổ biến ở nhiều buôn/làng của người Ê Đê tại tỉnh Đắk Lắk. Đó là hướng đi phù hợp, nhưng tái cấu trúc/sắp xếp lại giá trị di sản nhà dài truyền thống của người Ê Đê để phục vụ phát triển du lịch một cách có hiệu quả lại là những vấn đề phức tạp. Nghiên cứu này tập trung đề cập đến các giá trị di sản nhà dài của người Ê Đê và tái cấu trúc, cũng như giải pháp của quá trình tái cấu trúc các giá trị di sản nhà dài vào phát triển du lịch ở tỉnh Đắk Lắk.</p>Mạnh Nguyễn VănMinh Nguyễn Vũ
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Câu quan hệ so sánh trong sử thi Đăm Săn và sử thi Xing Nhã
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123996
<p>Câu quan hệ so sánh là một trong những kiểu câu có tần số xuất hiện khá nhiều trong sử thi Êđê. Tuy nhiên, nghiên cứu ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng của câu biểu hiện sự tình so sánh trong các sử thi này vẫn còn nhiều khoảng trống. Bài viết này trình bày đặc điểm ngôn ngữ, cụ thể là cấu trúc câu quan hệ so sánh trong Sử thi Đăm Săn và Sử thi Xing Nhã. Đây là một trong những nghiên cứu cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung, nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nói riêng.</p>Nga Phạm Thị Xuân
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515Khai thác văn hóa Chăm để phát triển du lịch: Trường hợp các homestay ở Ninh Phước - Ninh Thuận
https://vjol.info.vn/index.php/isscr/article/view/123997
<p>Homestay đang là loại hình du lịch phát triển ở nhiều nước trên thế giới và ở nhiều địa phương tại Việt Nam. Đây là loại hình vừa giúp bảo tồn, quảng bá các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, vừa giúp phát triển kinh tế cộng đồng địa phương. Với tài nguyên du lịch văn hóa Chăm đặc sắc, huyện Ninh Phước đã phát triển du lịch homestay trải nghiệm văn hóa Chăm. Tuy nhiên, các homestay này chưa thật sự đạt được hiệu quả như mong muốn ban đầu. Bằng phương pháp thu thập và đối chiếu dữ liệu, tiến hành khảo sát, phỏng vấn và đi thực địa, bài nghiên cứu phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch homestay ở khu vực huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.</p>Yến Châu Nữ HoàngDanh Đổng Thành
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung
2025-12-162025-12-168831515