Đặc điểm nội soi đường hô hấp trên khi ngủ dưới sự kiểm soát của thuốc ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025

  • Thị Thanh Thúy Trần
  • Thị Vân Anh Phùng
Từ khóa: Nội soi đường thở khi ngủ dưới tác dụng của thuốc, hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn.

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nội soi đường hô hấp trên khi ngủ ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Phương pháp: Nghiên cứu mô  tả chùm ca bệnh trên 16 bệnh nhân có hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ tại bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng. Tất cả các bệnh nhân được nội soi đường hô hấp trên dưới sự kiểm soát của thuốc, được đánh giá vị trí và cấu hình hẹp. Kết quả: Tuổi trung bình là 37.31 ± 8.68. Tỉ lệ nữ/nam =1/4. Chỉ số AHI trung bình là 42.89 ± 24.99/giờ. Chỉ số BMI trung bình là 29.35 ± 6.34 kg/m(2). Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều có hẹp ít nhất 1 vị trí tại đường hô hấp trên. Tỷ lệ hẹp phối hợp các vị trí là 68.75%. 100% bệnh nhân có hẹp ở eo họng miệng, Tỷ lệ hẹp ở sụn nắp là 31.25%, lệch vẹo vách ngăn là 25%, quá phát V.A là 18.75%, quá phát amidan lưỡi và quá phát cuốn mũi dưới 2 bên đều là 12.5%, lệch vẹo vách ngăn kết hợp hẹp eo họng là 12.5%, hẹp eo họng kết hợp với quá phát cuốn dưới 2 bên, với quá phát V.A, với sụn nắp và với quá phát amidan lưỡi đều là 6.25%, hẹp phối hợp 3 vị trí: vách ngăn-eo họng-đáy lưỡi là 6.25%, vách ngăn-eo họng- sụn nắp là 6.25%, vòm, eo họng-sụn nắp là12.5%. Bệnh nhân hẹp phối hợp có chỉ số AHI và BMI cao hơn bệnh nhân hẹp eo họng miệng đơn độc. Kết luận: DISE là một công cụ hiệu quả để đánh giá đường hô hấp trên trong điều trị OSA.

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2025-11-10
Chuyên mục
Bài viết