https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/issue/feed Tạp chí Khoa học Sức khỏe 2026-01-22T09:15:40+07:00 Cao Đức Tuấn jhs@hpmu.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng</strong></p> https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121692 Mục lục Tập 3, số 5, 2025 2026-01-22T09:15:40+07:00 Editorial Board, JHS jhs@hpmu.edu.vn <p>&nbsp;&nbsp;</p> 2025-11-12T08:37:51+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121409 Khảo sát hiệu quả áp dụng công cụ điều chỉnh liều dựa trên chức năng thận tích hợp phần mềm kê đơn điện tử tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng 2026-01-22T09:15:20+07:00 Vân Anh Trần nttphuong@hpmu.edu.vn Thị Mỹ Dung Đặng nttphuong@hpmu.edu.vn Đức Long Nguyễn nttphuong@hpmu.edu.vn Thị Kim Loan Vũ nttphuong@hpmu.edu.vn Thị Ngân Trần nttphuong@hpmu.edu.vn Thị Quyên Đinh nttphuong@hpmu.edu.vn Thị Thu Phương Nguyễn nttphuong@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Đặt vấn đề:</em></strong> Kê đơn thuốc cho bệnh nhân suy thận đòi hỏi hiệu chỉnh liều phù hợp với mức lọc cầu thận (eGFR) nhằm hạn chế nguy cơ tai biến do tích lũy thuốc. Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng, việc điều chỉnh liều thường chưa được thực hiện đồng bộ và hệ thống. <strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Đánh giá hiệu quả của công cụ cảnh báo điều chỉnh liều theo chức năng thận tích hợp trong phần mềm kê đơn điện tử tại bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu can thiệp trước–sau không nhóm chứng được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2025. Đối tượng nghiên cứu bao gồm 1.000 đơn thuốc nội trú có chứa ít nhất một hoạt chất cần hiệu chỉnh liều theo eGFR, chia đều thành hai nhóm trước (n = 500) và sau (n = 500) khi triển khai công cụ cảnh báo. Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm R, sử dụng các phép kiểm định thống kê phù hợp. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về các đặc điểm nền như tuổi, giới, thời gian nằm viện và bệnh lý đi kèm (p &gt; 0.05). Tỷ lệ kê sai liều trước can thiệp dao động từ 4.6% đến 15.0% tùy theo mức độ suy thận, và giảm còn từ 0% đến 5.6% sau can thiệp, với một số mức độ cho thấy cải thiện có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0.05). Tỷ lệ bác sĩ tiếp nhận khuyến cáo từ công cụ đạt từ 75.6% đến 91.1%, cao nhất ở nhóm thuốc chống đông và kháng sinh. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Công cụ cảnh báo hiệu chỉnh liều theo chức năng thận tích hợp phần mềm kê đơn giúp giảm rõ rệt tỷ lệ kê sai liều và được bác sĩ tiếp nhận tốt. Cần tiếp tục phát triển hệ thống và đánh giá ảnh hưởng đến kết cục lâm sàng trong tương lai.</p> 2025-11-04T10:26:28+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121415 Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại phòng khám huyết áp ngoại trú, Trung tâm Y tế huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên năm 2024 2026-01-16T04:27:58+07:00 Thị Như Quỳnh Hoàng htnquynh@hpmu.edu.vn Thị Thắm Bùi htnquynh@hpmu.edu.vn Thị Thùy Linh Bùi htnquynh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả thực trạng và đánh giá tính hợp lý trong việc sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân tại Phòng khám huyết áp ngoại trú, Trung tâm Y tế huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên năm 2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Mô tả cắt ngang hồi cứu dữ liệu 400 bệnh án của bệnh nhân tại Phòng khám huyết áp từ ngày 01/04/2024 đến 31/07/2024, &gt; 18 tuổi, đi khám liên tục trong 4 tháng, có xét nghiệm cân lâm sàng theo dõi, bắt buộc phải có chỉ số creatinin máu, có đầy đủ thông tin về chỉ số huyết áp trong 4 tháng theo dõi. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu là 69,12 ± 9,15 tuổi, tỷ lệ nữ giới mắc cao hơn so với nam giới (52% so với 48%), 89% bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tăng huyết áp kèm rối loạn lipid máu và 61% kèm cơn đau thắt ngực. Thuốc lợi tiểu có lượt chỉ định nhiều nhất (66,69%), sau đó là nhóm chẹn thụ thể angiotensin II (61,69%). Có 36 phác đồ khác nhau được sử dụng, phác đồ CTTA + LT chiếm tỷ lệ lớn nhất (38,19%). Đa số bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu đều đạt huyết áp mục tiêu, không có sự khác biệt nhiều giữa 4 tháng theo dõi. 85,35% bệnh nhân THA không có bệnh đồng mắc có chỉ định cụ thể có tỷ lệ chỉ định phù hợp. Chỉ 16,15% THA kèm cơn đau thắt ngực có tỷ lệ chỉ định phù hợp. Perindopril có tỷ lệ chỉ định chưa phù hợp với chức năng thận cao nhất, chiếm 41,7% trong số 120 lượt được sử dụng thuốc này. Xảy ra 95 đơn có tương tác thuốc nghiêm trọng giữa ƯCMC và CTTA. Có 4 phối hợp sử dụng có chống chỉ định là Irbesartan + Hydrochlorothiazid; Telmisartan + Hydrochlorothiazid; Losartan + Hydrochlorothiazid và Candesartan + Hydrochlorothiazid trên bệnh nhân có ClCr &lt; 30 ml/phút. <strong><em>Kết luận: </em></strong>&nbsp;Đa số bệnh nhân tại Phòng khám huyết áp, TTYT huyện Văn Giang đã đạt huyết áp mục tiêu nhưng việc kê đơn của bác sỹ vẫn còn chưa phù hợp về lựa chọn thuốc, liều dùng thuốc, còn xảy ra tương tác thuốc trong đơn và kê thuốc khi có chống chỉ định.</p> 2025-11-04T10:40:01+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121459 Ứng dụng kỹ thuật Multiplex PCR trong chẩn đoán một số căn nguyên vi khuẩn gây viêm đường hô hấp dưới ở trẻ em 2025-11-12T08:39:42+07:00 Văn Thảnh Nguyễn btnquynh@hpmu.edu.vn Thị Như Quỳnh Bạch btnquynh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Phát hiện được một số căn nguyên vi khuẩn gây viêm đường hô hấp dưới. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 55 bệnh nhi được chẩn đoán viêm đường hô hấp dưới đến điều trị tại bệnh viện Sản – Nhi Quốc tế Hải Phòng từ 06/2023 đến 04/2024. Bệnh nhân được làm xét nghiệm Multiplex PCR phát hiện 07 tác nhân vi khuẩn bằng bộ sinh phẩm Respiratory assays panel 4 của Seegene. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỷ lệ phát hiện các tác nhân là 78,2%, các tác nhân thường gặp nhất là <em>Mycoplasma pneumoniae</em> (42,0%), tiếp theo là <em>Haemophilus influenzae</em> (36,2%), <em>Streptococcus pneumoniae</em> (20,2%). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Multiplex PCR giúp gia tăng khả năng phát hiện các tác nhân vi khuẩn gây viêm đường hô hấp dưới đặc biệt là các vi khuẩn không điển hình, khó nuôi cấy, qua đó nâng cao hiệu quả điều trị và có thể hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinh hoặc sử dụng kháng sinh không phù hợp.</p> 2025-11-05T04:18:22+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121555 Thực trạng nhu cầu học sau đại học của sinh viên Răng Hàm Mặt hai năm cuối tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2025 2025-11-12T08:39:44+07:00 Minh Tuân Nguyễn nmtuan@hpmu.edu.vn Thị An Huy Trần nmtuan@hpmu.edu.vn Thanh Hải Phạm nmtuan@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Với mong muốn xây dựng hệ đạo tạo chuyên khoa Răng hàm mặt đáp ứng tốt nhu cầu nguyện vọng của người học, lấy người học làm trung tâm, bám sát nhu cầu thực tế về chăm sóc sức khoẻ thuộc chuyên khoa Răng hàm mặt hiện tại và tương lai. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Mong muốn làm tại phòng khám tư nhân lớn 76,4%. Nhu cầu học chuyên sâu sau tốt nghiệp: 74.3% chọn “cần thêm thời gian chuẩn bị” trước khi học chuyên sâu, so với chỉ 15.5% muốn học ngay sau tốt nghiệp. Chuyên ngành được quan tâm: Chỉnh nha (71.6%) và Cấy ghép Implant (53.4%). Sinh viên mong muốn các khóa ngắn hạn 1 đến 3 tháng 48% tuy vậy nhu cầu học văn bằng sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất 50,7%. Phần lớn sẵn sàng chi trả mức 10-20 triệu và cao hơn khi thấy phù hợp. Yếu tố hoàn cảnh: 47.3% - gần một nửa sinh viên có gia đình làm ngành Y , tuy nhiên, hơn 50% không có cho thấy tinh thần tự lập, khát khao vươn lên.</p> 2025-11-07T09:25:26+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121604 Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về việc bổ sung vitamin D cho trẻ em từ 0 - 12 tháng tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng, năm 2025 2025-11-12T08:39:47+07:00 Thị Hà Chu ctha@hpmu.edu.vn Thị Lan Ngô ctha@hpmu.edu.vn Văn Thắng Lê ctha@hpmu.edu.vn Thị Bích Loan Lê ctha@hpmu.edu.vn Lan Hương Nguyễn ctha@hpmu.edu.vn Thanh Trà Nguyễn ctha@hpmu.edu.vn Viết Mạnh Hoàng ctha@hpmu.edu.vn Thị Thúy Hường Nguyễn ctha@hpmu.edu.vn Minh Tâm Hà ctha@hpmu.edu.vn Thị Nguyên Phạm ctha@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành vi của các bà mẹ về việc bổ sung vitamin D cho trẻ từ 0-12 tháng từ 1/11/2024 đến 31/3/2025 tại Bệnh viện Trẻ em và xác định một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thái độ và thực hành bổ sung vitamin D cho trẻ của bà mẹ trên. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> 303 bà mẹ có con từ 0-12 tháng tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Trẻ em. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang. <strong><em>Kết quả:</em></strong> có 251 bà mẹ (82,8%) có kiến thức đạt, có 138 bà mẹ (45,5%) đạt về thái độ, có 90 bà mẹ (29,7%) đạt về thực hành bổ sung vitamin D cho trẻ. Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức là: tuổi, nơi sống, thu nhập bình quân, trình độ văn hoá (p&lt;0,05). Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ là: tuổi, trình độ học vấn (p&lt;0,05). Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành là: nơi sống, trình độ học vấn (p&lt;0,05). Có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành OR = 1,17 (95 % CI: 0,64 - 2,14), giữa thái độ và thực hành OR = 13,49, (OR, 95 % CI: 3,20 - 56,79), (p &lt; 0,05). <strong><em>Kết luận:</em></strong> các bà mẹ có kiến thức tốt về bổ sung vitamin D, tuy nhiên cần khuyến khích việc thực hành đều bổ sung vitamin D cho trẻ nhỏ.</p> 2025-11-10T05:25:37+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121479 Thực trạng bệnh tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại xã Phương Nghi, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa năm 2024 2025-11-12T08:39:49+07:00 Văn Thành Đoàn dvthanh@hpmu.edu.vn Minh Châu Đoàn dvthanh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tăng huyết áp ở người cao tuổi tại xã Phượng Nghi, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa từ 01/05/2024 đến 31/10/2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Đối tượng là người cao tuổi mắc tăng huyết áp. Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. &nbsp;<strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỷ lệ THA là 35,0%, tỷ lệ ở nam 33,3% và ở nữ là 36,6%. Nhóm 60-&lt;70 là 29,3%, nhóm 70-&lt;80 tuổi là 46,9% và nhóm từ trên 80 là 66,7%. Giai đoạn I THA là 63,8%, giai đoạn II là 26,3%, giai đoạn III là 7,9%. Ở giai đoạn I và II&nbsp; tỷ lệ nữ mắc cao hơn nam.Yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với THA gồm: Tuổi (OR=2,20), tiền sử gia đình có người THA (OR=5,96), lạm dụng rượu bia (OR=23,69), hút hay lạm dụng thuốc lá (OR=13,06), BMI ≥ 25 (OR=2,97), hoạt động thể lực không đạt chỉ tiêu (OR=6,35). &nbsp;<strong><em>Kết luận:</em></strong> Tăng huyết áp còn phổ biến ở người cao tuổi nhất là đối tượng là nữ, từ trên 80 tuổi, giai đoạn I là phổ biến. Các yếu tố liên quan chủ yếu là tuổi cao, lạm dụng bia rượu, hút thuốc lá, gia đình có người tăng huyết áp, thừa cân và hoạt động thể lực không đầy đủ.</p> 2025-11-06T08:22:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121460 Thực trạng cận thị và một số yếu tố liên quan của sinh viên y đa khoa năm thứ nhất Trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2024 2025-11-12T08:39:50+07:00 Thị Hải Nguyễn nthai@hpmu.edu.vn Thị Cúc Nguyễn nthai@hpmu.edu.vn Thị Dịu Bùi nthai@hpmu.edu.vn Thị Thùy Trang Trương nthai@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả thực trạng cận thị và một số yếu tố liên quan của sinh viên Y Đa khoa năm thứ nhất trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> 570 sinh viên Y Đa khoa K46, đại học Y Dược Hải Phòng đồng ý tham gia nghiên cứu từ tháng 10/2024 – 4/2025. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Trong số 570 sinh viên tham gia nghiên cứu có 444 sinh viên bị cận thị các mức độ chiếm 77,9%. Trong đó số sinh viên nam bị cận thị là 217 sinh viên, chiếm 72,8% , số sinh viên nữ bị cận thị là 227 sinh viên chiếm 83,5%. Có 8 sinh viên chỉ cận thị mắt phải và 3 sinh viên chỉ cận thị mắt trái, còn lại 433 sinh viên cận thị cả 2 mắt, chiếm 97,5%. Mức độ cận thị trên 3 diop chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 2 mắt (trên 37%). Sinh viên có tuổi đồng đều và hầu hết phát hiện bị cận thị khi 12, 15, 16, 17 tuổi. Sinh viên nữ có khả năng mắc cận thị cao hơn sinh viên nam gấp 1,88 lần (p &lt; 0,05). Những sinh viên có tiền sử gia đình bị cận thị có khả năng mắc cận thị cao hơn sinh viên không có tiền sử gia đình cận thị 3,3 lần (p &lt; 0,05). Những sinh viên có thường xuyên sử dụng các các loại thực phẩm, sản phẩm hỗ trợ, bảo vệ mắt có khả năng mắc cận thị cao hơn nhóm không sử dụng hoặc sử dụng không thường xuyên là 1,536 lần (p &lt; 0,05). Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa cận thị với các yếu tố khác. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Tỷ lệ cận thị ở sinh viên năm nhất đại học Y Dược Hải Phòng năm 2024 là 77,9%. Các yếu tố liên quan đến tình trạng cận thị chung ở đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) với ý nghĩa thống kê p&lt;0,05 gồm: Giới tính, tiền sử gia đình bị cận thị và và việc sử dụng các sản phẩm, thực phẩm bổ trợ, bảo vệ cho mắt. Các yếu tố khác không có ý nghĩa thống kê.</p> 2025-11-05T10:33:11+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121499 Hoạt tính của tế bào diệt tự nhiên NK ở người trưởng thành có rối loạn giấc ngủ 2025-11-12T08:39:52+07:00 Huy Quyến Phạm phquyen@hpmu.edu.vn Thị Thu Hằng Trần phquyen@hpmu.edu.vn Thị Hằng Trần phquyen@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả kết quả đo hoạt tính của tế bào giết tự nhiên NK trong máu ngoại vi ở người trưởng thành bị rối loạn giấc ngủ, thể rối loạn không thực tổn. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả được thực hiện trên 39 người trưởng thành bị rối loạn giấc ngủ, thể rối loạn không thực tổn; hoạt tính tế bào NK được đo gián tiếp thông qua nồng độ cytokine IFγ trong huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA sau khi kích thích mẫu máu bằng sinh phẩm Promoca. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Giá trị trung bình hoạt tính của tế bào NK của mẫu nghiên cứu là 495.13 ± 389.82 pg/ml. Sự khác biệt về hoạt tính của tế bào NK giữa nam và nữ, cũng như giữa các nhóm tuổi là không có ý nghĩa thống kê (p &gt; 0.05). Chưa ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa hoạt tính của tế bào NK với số lượng các loại bạch cầu trong máu ngoại vi. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Hoạt tính của tế bào NK ở người trưởng thành bị rối loạn giấc ngủ, thể rối loạn không thực tổn có xu hướng giảm nhẹ so với mức ở người trưởng thành bình thường, dù chưa đạt mức ý nghĩa thống kê. Kết quả này gợi ý về tác động ảnh hưởng của rối loạn giấc ngủ lên hệ thống miễn dịch tự nhiên, đặc biệt là tế bào NK.</p> 2025-11-07T04:47:19+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121500 Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến giảm ham muốn tình dục ở bệnh nhân nữ trầm cảm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2024 2025-11-12T08:39:54+07:00 Thị Thủy Vương ltmloan@hpmu.edu.vn Thị Mai Loan Lương ltmloan@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến giảm ham muốn tình dục ở bệnh nhân nữ trầm cảm điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2024. &nbsp;<strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 120 người bệnh nữ tuổi 18 đến 55, được chẩn đoán trầm cảm (ICD-10: F32, F33). <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỷ lệ giảm ham muốn tình dục là 68,3%. Các yếu tố liên quan đến giảm ham muốn tình dục ở bệnh nhân nữ trầm cảm là: ≥ 40 tuổi (OR=5,6; p&lt;0,01), trầm cảm mức độ nặng có (OR=6,3; p&lt;0,05), triệu chứng loạn thần (OR=5,8; p&lt;0,05) có ý tưởng hành vi tự sát (OR= 6,3; p&lt;0,05) và có stress (OR = 2,5; p&lt;0,05). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Tuổi từ 40 trở lên, mức độ trầm cảm nặng, triệu chứng loạn thần, ý tưởng và hành vi tự sát, stress là các yếu tố có liên quan đến giảm ham muốn tình dục ở bệnh nhân nữ trầm cảm.</p> 2025-11-07T05:04:41+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121501 Kiến thức về phòng hộ cá nhân của sinh viên điều dưỡng chính quy trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm 2024 2025-11-12T08:39:55+07:00 Thị Thu Hằng Lê ltthang@hpmu.edu.vn Thanh Xuân Nguyễn ltthang@hpmu.edu.vn Thị Vân Anh Cao ltthang@hpmu.edu.vnv <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả thực trạng kiến thức về phòng hộ cá nhân (PHCN) của sinh viên điều dưỡng chính quy trường đại học Y Dược Hải Phòng năm 2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Sinh viên Điều dưỡng chính quy học năm thứ 3 và thứ 4 đang đi thực hành bệnh viện năm 2024. Phương pháp: Mô tả cắt ngang. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Đa số SV có kiến thức được xếp loại ở mức tốt với tỷ lệ lên đến 60,8%, tỷ lệ SV có kiến thức ở mức trung bình là 31,7%, chỉ có 7,7% SV có kiến thức ở mức hạn chế. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Kiến thức về PHCN của sinh viên điều dưỡng chính quy khá tốt.</p> 2025-11-07T05:13:50+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121605 Đặc điểm nội soi đường hô hấp trên khi ngủ dưới sự kiểm soát của thuốc ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025 2025-11-12T08:39:56+07:00 Thị Thanh Thúy Trần drtranthanhthuy@gmail.com Thị Vân Anh Phùng drtranthanhthuy@gmail.com <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm nội soi đường hô hấp trên khi ngủ ở bệnh nhân có hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô&nbsp; tả chùm ca bệnh trên 16 bệnh nhân có hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ tại bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Hải Phòng. Tất cả các bệnh nhân được nội soi đường hô hấp trên dưới sự kiểm soát của thuốc, được đánh giá vị trí và cấu hình hẹp. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tuổi trung bình là 37.31 ± 8.68. Tỉ lệ nữ/nam =1/4. Chỉ số AHI trung bình là 42.89 ± 24.99/giờ. Chỉ số BMI trung bình là 29.35 ± 6.34 kg/m(2). Tất cả các bệnh nhân nghiên cứu đều có hẹp ít nhất 1 vị trí tại đường hô hấp trên. Tỷ lệ hẹp phối hợp các vị trí là 68.75%. 100% bệnh nhân có hẹp ở eo họng miệng, Tỷ lệ hẹp ở sụn nắp là 31.25%, lệch vẹo vách ngăn là 25%, quá phát V.A là 18.75%, quá phát amidan lưỡi và quá phát cuốn mũi dưới 2 bên đều là 12.5%, lệch vẹo vách ngăn kết hợp hẹp eo họng là 12.5%, hẹp eo họng kết hợp với quá phát cuốn dưới 2 bên, với quá phát V.A, với sụn nắp và với quá phát amidan lưỡi đều là 6.25%, hẹp phối hợp 3 vị trí: vách ngăn-eo họng-đáy lưỡi là 6.25%, vách ngăn-eo họng- sụn nắp là 6.25%, vòm, eo họng-sụn nắp là12.5%. Bệnh nhân hẹp phối hợp có chỉ số AHI và BMI cao hơn bệnh nhân hẹp eo họng miệng đơn độc. <strong><em>Kết luận:</em></strong> DISE là một công cụ hiệu quả để đánh giá đường hô hấp trên trong điều trị OSA.</p> 2025-11-10T05:30:01+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121575 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại 3 xã huyện Kim Động, Hưng Yên năm 2023 2025-11-12T08:39:58+07:00 Thị Thanh Mai Đinh nthsuong@gmail.com Thị Thắm Nguyễn nthsuong@gmail.com Thị Huyền Sương Nguyễn nthsuong@gmail.com Khả Song Phạm nthsuong@gmail.com <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng cả về thể chất lẫn trí tuệ của trẻ. <strong><em>Kết quả:</em></strong> SDD thể thấp còi chiếm tỷ lệ cao nhất (17,2%), tiếp theo là SDD thể gầy còm (chiếm 7,6%) và SDD thể nhẹ cân (chiếm 4,8%). Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi là: tình trạng biếng ăn của trẻ trong 3 tháng trở lại đây (OR = 2,7; 95%CI: 1,6 - 4,6); trẻ bị tiêu chảy trong 3 tháng gần đây (OR = 3,3; 95%CI: 1,3 - 7,9); trẻ từng phải nằm viện điều trị nội trú (OR = 1,7; 95%CI: 1,1 - 2,8); bổ sung vi chất 3 tháng cuối (OR = 6,3; 95%CI: 1,3 - 28,5); thu nhập bình quân/đầu người dưới 4 triệu đồng (OR = 2,95%CI: 1,8 – 2,7).</p> 2025-11-07T10:29:59+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121606 Kết quả phẫu thuật điều trị gãy kín mâm chày bằng nẹp vít khóa có hỗ trợ màn hình tăng sáng tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng 2025-11-12T08:40:00+07:00 Bỉnh Khương Nguyễn nbkhuong@hpmu.edu.vn Thị Thanh Trúc Vũ nbkhuong@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị gãy kín mâm chày bằng nẹp vít có hỗ trợ màn hình tăng sáng tại bệnh viện Đại học Y Hải Phòng. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Gồm 31 BN gãy kín mâm chày được điều trị KHX bằng nẹp vít khóa dưới hướng dẫn của màn hình tăng sáng tại bệnh viện Đại học Y Hải Phòng trong thời gian từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2025. &nbsp;<strong><em>Kết quả:</em></strong> Triệu chứng lâm sàng: 100% đau và sưng nề vùng gối; 27.3% bầm tím quanh gối, 18.2% có nốt phỏng nước quanh gối. Thương tổn phần mềm theo Tscherne: Độ 1 (72.7%); Độ 2 (27.3%). Loại gãy mâm chày chiếm đa số là Schatzker III 45.5%. Đa số bệnh nhân (93.9%) liền vết mổ kì đầu. Số ngày nằm viện trung bình là 15.55 ngày (6-32 ngày). Kết quả gần theo tiêu chuẩn Larson- Bostman: Rất tốt: 29/33 bệnh nhân (87.9%); Tốt: 3/33 bệnh nhân (9.1%); Trung bình: 1/33 bệnh nhân (3%). Sau 3 tháng, 100% bệnh nhân đứng và đi lại chịu lực hoàn toàn, không có lệch thứ phát và xuất hiện can xương tại ổ gãy trên X quang. Sau 6 tháng, kết quả chức năng khớp gối theo thang điểm Sanders:&nbsp; tốt chiếm 63%,&nbsp; khá chiếm 33.3%, trung bình chiếm 3.7%, không có trường hợp đạt kết quả kém. &nbsp;<strong><em>Kết luận:</em></strong> Phẫu thuật kết hợp xương mâm chày dưới sự hướng dẫn của màn hình tăng sáng đem lại kết quả khôi phục giải phẫu ổ gãy tốt.</p> 2025-11-10T09:41:35+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121608 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hội chứng cai rượu trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2024 2025-11-12T08:40:03+07:00 Văn Mạnh Phạm vtthuy@hpmu.edu.vn Thị Thủy Vương vtthuy@hpmu.edu.vn Thị Như Yến Đoàn vtthuy@hpmu.edu.vn Đặng Anh Vân Trương vtthuy@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng hội chứng cai rượu trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng năm 2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang với đối tượng là các bệnh nhân hội chứng cai rượu điều trị nội trú tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng từ 4/2024–12/2024. <strong><em>Kết quả:</em></strong> 100% bệnh nhân là nam giới, tuổi trung bình 49,45 ± 6,21 tuổi. 67,8% bệnh nhân uống rượu lai rai cả ngày. Thời gian sử dụng rượu trung bình là 20,2 năm, lượng rượu trung bình 700 ml/ngày. Triệu chứng phổ biến gồm: run tay (100%), mất ngủ (100%), tăng hoạt động tự động (93,5%), hoang tưởng – ảo giác (70,9%). Rối loạn trí nhớ gần và chú ý chiếm 80,6%. Về cận lâm sàng: 100% bệnh nhân có men gan (GOT, GPT, GGT) tăng cao; Glucose tăng ở mức 7,45 ± 3,39 mmol/l. Bilirubin tp và Bilirubin tt đều tăng lần lượt với giá trị là 54,71 ± 43,15 µmol/l và 6,14 ±&nbsp; 4,45 µmol/l. &nbsp;<strong><em>Kết luận:</em></strong> Hội chứng cai rượu có biểu hiện lâm sàng đa dạng, trong đó run tay, mất ngủ, rối loạn hành vi và hoang tưởng–ảo giác là nổi bật. Rối loạn chức năng gan được ghi nhận ở hầu hết bệnh nhân. Cần theo dõi các chỉ số sinh hóa để định hướng điều trị hiệu quả.</p> 2025-11-11T08:51:49+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121663 Kết quả học tập của sinh viên Y khoa năm nhất K44, K45 Trường Đại học Y Dược Hải Phòng 2025-11-12T08:40:05+07:00 Thị Thu Huyền Lê ltthuyen@hpmu.edu.vn Thị Hải Nguyễn ltthuyen@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Mô tả kết quả học tập của sinh viên năm nhất K44 và K45 và so sánh kết quả học tập của sinh viên học chương trình y khoa bằng tiếng Anh với sinh viên học chương trình y khoa bằng tiếng Việt. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> 999 sinh viên Y khoa K44 và K45, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng. Phương pháp mô tả cắt ngang. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Trong học kỳ I, tỷ lệ sinh viên Y khoa năm nhất đạt loại Xuất sắc – Giỏi thấp (K44: 8,4%; K45: 3,9%), tỷ lệ Yếu &amp; Kém ở mức cao (K44: 47,8%; K45: 37,6%). So sánh giữa hai khóa cho thấy K44 có tỷ lệ Xuất sắc – Giỏi cao hơn K45 (8,4% so với 3,9%), K45 nổi bật ở nhóm Khá – Giỏi (≥7,0 điểm) với 46,4%, cao hơn nhiều so với 26,8% của K44. Xét theo chương trình đào tạo, sinh viên Y khoa năm nhất được đào tạo chương trình Y khoa bằng tiếng Anh có kết quả vượt trội so với nhóm sinh viên năm nhất được đào tạo chương trình Y khoa bằng tiếng Việt, đặc biệt trong học kỳ I. Tỷ lệ Xuất sắc – Giỏi ở nhóm tiếng Anh đạt 30,5% so với chỉ 3,1% ở nhóm tiếng Việt, trong khi tỷ lệ Yếu &amp; Kém thấp hơn đáng kể (15,2% so với 45,5%). Sang học kỳ II, khoảng cách giữa hai chương trình thu hẹp, nhưng nhóm học bằng tiếng Anh vẫn duy trì ưu thế ở tỷ lệ Xuất sắc – Giỏi (11,4% so với 4,6%). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Tỷ lệ sinh viên đạt loại Xuất sắc – Giỏi ở năm nhất K44 và K45 thấp,&nbsp; tỷ lệ yếu kém ở học kỳ I khá cao.&nbsp; Học kỳ II, kết quả học tập có sự cải thiện rõ rệt với tỷ lệ Khá – Trung bình tăng và Yếu – Kém giảm. Sinh viên năm nhất K45 đạt kết quả tốt hơn K44 với ý nghĩa thống kê. Sinh viên năm nhất theo học chương trình Y khoa bằng tiếng Anh có kết quả vượt trội so với chương trình Y khoa tiếng Việt trong cả hai học kỳ, nhất là ở học kỳ I. Cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, từ đó xây dựng giải pháp hỗ trợ, đặc biệt cho nhóm sinh viên yếu kém.</p> 2025-11-11T08:50:22+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121609 Hội chứng chuyển hoá ở bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Kiến An năm 2025 2025-11-12T08:57:34+07:00 Văn Hùng Tạ vanhung.bnls@gmail.com Quang Hưng Lương vanhung.bnls@gmail.com Văn Linh Phạm vanhung.bnls@gmail.com Văn Nhiên Phạm vanhung.bnls@gmail.com Đăng Đức Nguyễn vanhung.bnls@gmail.com <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến mắc hội chứng chuyển hoá (HCCH) ở bệnh nhân bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu cắt ngang trên 113 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang điều trị lọc máu chu kỳ tại Khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Kiến An, Hải Phòng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2025. <strong><em>Kết quả:</em></strong> . Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp, đo các chỉ số nhân trắc học và trích lục hồ sơ bệnh án. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc HCCH là 68,1%. Các thành phần phổ biến nhất gồm tăng huyết áp (90,9%), HDL-C thấp (88,3%) và tăng glucose máu (84,4%). Trong nhóm bệnh nhân mắc HCCH, 37,7% có 4 thành tố, 36,4% có 3 thành tố và 26,0% có đủ 5 thành tố. Phân tích hồi quy logistic xác định tuổi ≥ 60 (OR=4,20; 95%CI: 1,06–16,68), không hoạt động thể lực (OR=2,78; 95%CI: 1,13–6,88), thừa cân/béo phì (OR=4,40; 95%CI: 1,22–15,84) và tỷ số vòng eo/vòng mông cao (OR=2,43; 95%CI: 1,02–5,78) làm tăng khả năng mắc HCCH. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Nghiên cứu phản ánh gánh nặng lớn của các rối loạn chuyển hóa ở bệnh nhân lọc máu, đặc biệt ở người cao tuổi, béo bụng và người có lối sống ít vận động. Cần sàng lọc sớm, can thiệp thay đổi lối sống và kiểm soát chuyển hóa toàn diện nhằm nâng cao chất lượng sống cho nhóm bệnh nhân này.</p> 2025-11-10T10:33:36+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121610 Đối chiếu kết quả chẩn đoán tế bào học chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm với kết quả chẩn đoán mô bệnh học sau phẫu thuật tuyến giáp tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp Hải Phòng năm 2024 2025-11-12T08:40:08+07:00 Thị Trinh Nguyễn nttrinh@hpmu.edu.vn Thị Tuyết Nguyễn nttrinh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu hồi cứu trên 120 bệnh nhân có bướu nhân tuyến giáp được chọc hút tế bào bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp năm 2024. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Đa số bệnh nhân có TIRADS 3 và 4 trong đó TIRADS 3 chiếm 51,67%, TIRADS 4 chiếm 44,17%, TIRADS 5 chỉ chiếm 4,16%. Kỹ thuật chọc hút tế bào dưới hướng dẫn siêu âm tuyến giáp có độ nhạy Se= 100%, độ đặc hiệu Sp= 96,49%, độ chính xác Acc = 98,33%, giá trị chẩn đoán dương tính PPV= 96,92%, giá trị chẩn đoán âm tính NPV=100%. Toàn bộ 100% bệnh nhân chẩn đoán tế bào học là ung thư có kết quả mô bệnh học là ung thư và bệnh nhân chẩn đoán tế bào học lành tính có kết quả mô bệnh học là không ung thư. Có 6 trường hợp tế bào học nghi ngờ ung thư có 4 trường hợp kết quả mô bệnh học là ung thư và 2 trường hợp kết quả mô bệnh học là lành tính.</p> 2025-11-10T10:47:07+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121664 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của viêm xoang hàm do răng tại khoa Răng Hàm Mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng 2025-11-12T08:40:10+07:00 Quốc Uy Đỗ dquy@hpmu.edu.vn Thị Phương Nguyễn dquy@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục Tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm xoang hàm do răng, đánh giá kết quả điều trị viêm xoang hàm do răng.<strong><em> &nbsp;Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân chẩn đoán viêm xoang hàm do răng. Trên phim chụp cắt lớp chùm tia hình nón (Conebeam Computed Tomography - CBCT), cần phát hiện những dấu hiệu quan trọng hướng đến nguyên nhân viêm xoang do răng là mờ xoang hàm cùng bên và viêm quanh chóp răng, tiêu xương quanh chóp. Phim chụp cắt lớp chùm tia hình nón có giá trị chẩn đoán tổn thương xoang hàm và đánh giá chi tiết tổn thương răng nguyên nhân, giúp lập kế hoạch điều trị phối hợp xoang và răng. <strong><em>Kết quả:</em></strong> cho thấy, tình trạng đau nhức vùng mặt chiếm 90,6%, đau nhức răng hàm trên cùng bên chiếm 90,6%. Mờ xoang hàm cùng bên một phần chiếm 62,5%, hình ảnh viêm quanh chóp chiếm 87,5%, hình ảnh tiêu xương quanh chóp chiếm 84,4% Như vậy, viêm xoang hàm do răng có hai triệu chứng gợi ý rất có giá trị là đau nhức vùng mặt và đau nhức răng hàm trên cùng bên. Kết quả điều trị 100% bệnh nhân ổn định xoang hàm trong quá trình điều trị răng.</p> 2025-11-11T10:31:43+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121667 Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật xét nghiệm xác định đột biến gen EGFR ở bệnh nhân ung thư phổi tế bào không nhỏ 2025-11-12T08:40:11+07:00 Thị Như Quỳnh Bạch btnquynh@hpmu.edu.vn Trang Linh Vũ btnquynh@hpmu.edu.vn Thị Nguyệt Phạm btnquynh@hpmu.edu.vn Trường Giang Nguyễn btnquynh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Xây dựng quy trình chuẩn kỹ thuật xét nghiệm xác định đột biến gen EGFR từ mẫu đúc Parafin. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kỹ thuật Realtime-PCR trong quy trình xác định đột biến gen. Sáu mẫu mô đúc paraffin FFPE của bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi bằng mô bệnh học và đã xác định mang đột biến gen EGFR bằng kỹ thuật Sinh học phân tử được sử dụng cho việc xây dựng quy trình. Áp dụng quy trình phát hiện đột biến gen EGFR sau khi xây dựng trên 109 mẫu đúc paraffin FFPE của bệnh nhân được chẩn đoán ung thư phổi bằng mô bệnh học. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Với 4-5 lát cắt cho mỗi mẫu, thu được nồng độ DNA là đảm bảo số lượng và&nbsp; mẫu đầu vào cho phản ứng khuếch đại gen.&nbsp; Khi thực hiện ngâm xylen 2 lần liên tiếp với thời gian ngâm mỗi lần là 5’ trong điều kiện lắc và ủ ở 560C, mẫu được loại bỏ hoàn toàn Paraffin đảm bảo độ tinh sạch cho DNA đầu vào của phản ứng khuếch đại gen. Trong 109 mẫu bệnh phẩm đã làm, có 38 mẫu bệnh phẩm dương tính. Trong đó,có 1 mẫu bệnh phẩm dương tính với cả S768I và G719C; L858R chiếm tỷ lệ dương tính cao nhất với 31.58%, tiếp theo là ex19del với 28.95%; G719x và EGFR S768I cùng có tỷ lệ 10.53%; EGFR ex20ins chiếm tỉ lệ 7.89 %, cuối cùng là EGFR T790M và EGFR L861Q chiếm 5.26%. <strong><em>Kết luận:</em></strong> Chuẩn hoá, xây dựng thành công quy trình kỹ thuật xét nghiệm xác định đột biến gen EGFR. Quy trình cho kết quả xét nghiệm có hiệu suất cao hơn, phù hợp với cơ sở vật chất, trang thiết bị tại bệnh viện. Tỉ lệ bệnh nhân UTP xác định định mang đột biến gene EGFR 34,86% là khá cao.&nbsp; Tỉ lệ dương tính đột biến gen EGFR ở bệnh nhân UTPKTBN là 34,86 %.</p> 2025-11-12T03:13:28+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121668 Tác dụng phụ của que cấy tránh thai Implanton NXT và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng 2025-11-12T08:40:14+07:00 Thị Huyền Thái thaihuyenhp@gmail.com Thị Thủy Nguyễn thaihuyenhp@gmail.com Văn Cường Dương thaihuyenhp@gmail.com <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> mô tả tác dụng phụ của phụ nữ khi sử dụng Implanon NXT® và nhận xét một số yếu tố liên quan đến tác dụng phụ. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Tất cả phụ nữ cấy que tránh thai tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng từ 01/01/2021 đến hết ngày 31/12/2023. &nbsp;<strong><em>Kết quả:</em></strong> &nbsp;tác dụng phụ chiếm tỷ lệ cao nhất là thay đổi về kinh nguyệt: hay gặp nhất là rong kinh (38,33% trong 6 tháng đầu), giảm còn 20% trong 6 tháng tiếp theo, tỷ lệ vô kinh là 26,67%, giảm dần đến cuối năm thứ 2 còn 6,67%. Các tác dụng phụ khác thường gặp là thay đổi cân nặng (30%), khô âm đạo (35,83%) và giảm ham muốn tình dục (17,5%), nổi mụn (15%), đau tức vú (10,83%), đau đầu (9,17%), mất ngủ (4,17%). Tỷ lệ tháo que cấy tránh thai do tác dụng phụ là 83,85%, trong đó do rong kinh rong huyết là 45,45%. Không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố liên quan và tác dụng phụ. <strong><em>Kết luận:</em></strong> tỷ lệ gặp tác dụng phụ sau cấy que tránh thai là khá cao và có xu hướng giảm dần theo thời gian. Rối loạn kinh nguyệt là tác dụng phụ hay gặp nhất. Tác dụng phụ ngoài kinh nguyệt chiếm tỷ lệ cao nhất là tăng cân. Tỷ lệ tháo que cấy tránh thai do rối loạn kinh nguyệt chiếm nhiều nhất. Không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố liên quan và tác dụng phụ.</p> 2025-11-12T03:26:33+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121670 Ứng dụng nghiệm pháp đo chức năng tiền đình Vieonistagmography trong chẩn đoán chóng mặt tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng 2025-11-12T08:40:15+07:00 Thị Vân Anh Phùng phungvananhent@gmail.com Thị Thanh Thúy Trần phungvananhent@gmail.com <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân chóng mặt và bước đầu đánh giá vai trò của nghiệm pháp đo chức năng tiền đình Videonystagmography trong chẩn đoán chóng mặt. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 34 bệnh nhân ³18 tuổi có triệu chứng chóng mặt, thực hiện đầy đủ bộ nghiệm pháp Videonystagmography từ 01/04/2025 đến 30/6/2025. &nbsp;<strong><em>Kết quả:</em></strong> &nbsp;Nữ giới chiếm 76,5%; tuổi trung bình 55,6 ± 14,0. Nguyên nhân chóng mặt chủ yếu là tổn thương tiền đình ngoại biên chiếm 52,9%, trung ương 26,5%, hỗn hợp 14,7%, còn lại không xác định. Các triệu chứng thường phổ biến gồm chóng mặt xoay tròn (100%), buồn nôn / nôn (44,1%), mất thăng bằng (41,2%). Videonystagmography hỗ trợ chẩn đoán trong 94,1% trường hợp. Các nghiệm pháp Saccade và Optokinetic cho kết quả nhạy cao với chóng mặt trung ương, trong khi Caloric test giảm 1 bên có ý nghĩa với chóng mặt ngoại biên (p&lt;0,05). &nbsp;<strong><em>Kết luận:</em></strong> Videonystagmography là công cụ hỗ trợ đáng tin cậy trong phân loại nguyên nhân chóng mặt, đặc biệt trong xác định tổn thương trung ương hoặc các thể BPPV không điển hình.</p> 2025-11-12T03:53:37+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121672 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Tiệp năm 2024 2025-11-18T03:25:55+07:00 Thị Thanh Giang Phan pttgiang@hpmu.edu.vn Văn Liệu Phạm pttgiang@hpmu.edu.vn Hoàng Tuấn Phạm pttgiang@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới với việc sử dụng hệ thống nẹp vít nhỏ trong kết hợp xương và đường rạch dưới hàm. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> &nbsp;nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 32 bệnh nhân gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới do chấn thương được điều trị từ tháng 1/2024 đến tháng 12 /2024 ở BV hữu nghị Việt Tiệp. &nbsp;<strong><em>Kết quả</em></strong>: tỉ lệ nam giới 71,9%; tuổi trung bình 31,3 do tai nạn giao thông&nbsp; 84,4%. Tất cả bênh nhân đều có há miệng - sai khớp cắn. Mức độ di lệch trung bình và nhiều là 93,8%. Sau phẫu thuật khớp cắn đạt mức tốt 84,4%, há miệng tốt 90,6%. Không khi nhận biến chứng nhiễm trùng, liệt mặt, dính khớp. Tất cả đều có tiếp hợp xương tốt. Kết quả điều trị chung ở mức tốt là 84,3%.<strong><em> &nbsp;Kết luận:</em></strong> gãy cổ lồi cầu xương hàm dưới cần được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời để giúp bệnh nhân có chức năng ăn nhai tốt và giảm thiểu biến chứng sau điều trị.</p> 2025-11-12T04:21:00+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121673 Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue điều trị tại khoa Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2024 2025-11-12T08:40:18+07:00 Thị Thía Hoàng htthia@hpmu.edu.vn Văn Hoàn Nguyễn htthia@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu mô tả này được thực hiện nhằm xác định các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và sự thay đổi các chỉ số xét nghiệm ở bệnh nhân SXHD tại khoa Bệnh nhiệt đới, Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp trong năm 2024. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> &nbsp;nghiên cứu mô tả cắt ngang. &nbsp;<strong><em>Kết quả</em></strong>: Qua phân tích 350 bệnh nhân, kết quả cho thấy tỷ lệ nam/nữ gần như tương đương (51,4%/48,6%) với độ tuổi trung bình là 39,2 tuổi. Các triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất bao gồm sốt cao (66,9%), mệt mỏi (64,9%), và đau đầu (56,3%). Dấu hiệu xuất huyết dưới da chiếm 40,3%. Về cận lâm sàng, giảm tiểu cầu là một phát hiện quan trọng, trong đó 33,7% bệnh nhân có mức tiểu cầu từ 10-50 G/L, thường giảm sâu nhất vào ngày thứ 6 của bệnh. Ngoài ra, có sự gia tăng men gan, với AST tăng ở 65,7% và ALT tăng ở 53,2% số ca, chủ yếu ở mức độ nhẹ (&lt; 200 UI/L). Những phát hiện này góp phần quan trọng vào việc chẩn đoán và tiên lượng bệnh nhân SXHD.</p> 2025-11-12T04:48:45+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121675 Tỷ lệ và một số yếu tố liên quan đến sinh con to ở sản phụ đái tháo đường thai kì tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng 2025-11-12T08:40:20+07:00 Quang Anh Đỗ dqanh@hpmu.edu.vn Thị The Nguyễn dqanh@hpmu.edu.vn Thu Hà Trần dqanh@hpmu.edu.vn Mai Ngọc Vũ dqanh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu: </em></strong>Nghiên cứu nhằm mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ sinh con to và (2) xác định các yếu tố liên quan đến sinh con to ở sản phụ đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> &nbsp;mục tiêu 1: nghiên cứu mô tả cắt ngang lấy mẫu thuận tiện trên 3164 sản phụ ĐTĐTK tại Bệnh viện Phụ Sản Hải phòng từ 01/2021 đến hết tháng 12/2024; mục tiêu 2: nghiên cứu bệnh – chứng trên 117 sản phụ ĐTĐTK có con to và 234 sản phụ ĐTĐTK có con không to tại Bệnh viện Phụ Sản Hải phòng từ 01/2021 đến hết tháng 12/2024. &nbsp;<strong><em>Kết quả</em></strong>: Tỷ lệ sinh con to ở sản phụ ĐTĐTK là 3.95%. Phân tích hồi quy logistic đơn biến cho thấy các yếu tố liên quan với tăng nguy cơ sinh con to ở sản phụ ĐTĐ gồm: tuổi ≥ 30, sinh ≥ 3 lần, điều trị bằng tiết chế đơn thuần, BMI thời điểm kết thúc thai kỳ, nồng độ Glucose huyết thanh thời điểm kết thúc thai kỳ, HbA1C thời điểm kết thúc thai kỳ; trong khi đó sản phụ có nghề nghiệp lao động trí óc là yếu tố liên quan với giảm nguy cơ sinh con to. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy Glucose huyết thanh thời điểm kết thúc thai kỳ (OR = 1.33, KTC 95%: 1.12 - 1.56, p = 0.001), BMI thời điểm kết thúc thai kỳ ((OR = 1.11, KTC 95%: 1.03 - 1.2, p = 0.006), và HbA1C thời điểm kết thúc thai kỳ (N=107, OR = 2.29, KTC 95%: 1.34 – 3.92, p = 0.002) là các yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ sinh con to ở sản phụ ĐTĐTK. <em><strong>Kết luận:</strong></em> Tỷ lệ sinh con to ở sản phụ ĐTĐTK là 3.95%. Glucose huyết thanh - BMI – HbA1C thời điểm kết thúc thai kỳ là các yếu tố liên quan độc lập với nguy cơ sinh con to ở sản phụ ĐTĐTK.</p> 2025-11-12T05:04:09+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe https://vjol.info.vn/index.php/khoahocsuckhoe-HPMU/article/view/121691 Thực trạng chơi game online và một số yếu tố liên quan đến rối loạn chơi game online ở học sinh Trường THPT Tam Nông – Phú Thọ năm 2025 2025-11-12T08:40:22+07:00 Thị Thùy Linh Nguyễn ntthuylinh@hpmu.edu.vn Thu Phương Bùi ntthuylinh@hpmu.edu.vn Thị Bích Thủy Hoàng ntthuylinh@hpmu.edu.vn <p><strong><em>Mục tiêu:</em></strong> Xác định tỉ lệ chơi game online và một số yếu tố liên quan đến rối loạn chơi game online (IGD) ở học sinh trường THPT Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2025. <strong><em>Phương pháp:</em></strong> Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 260 học sinh trường THPT Tam Nông (Phú Thọ). Tiến hành khảo sát bằng bộ câu hỏi tự điền về đặc điểm cá nhân, gia đình, học tập, xã hội và chơi game online. IGD được đánh giá theo thang đo VN-IGD-17. <strong><em>Kết quả:</em></strong> Tỉ lệ chơi game online ở học sinh trường THPT Tam Nông là 89,23%, trong đó có 16,38% học sinh chơi game online có điểm sàng lọc cho thấy có nguy cơ IGD, theo thang đo VN-IGD-17. Nghiên cứu xác định được các yếu tố liên quan đến IGD của học sinh bao gồm: thể loại game (OR= 2,39; 95%CI: 1,18 – 4,87; p&lt; 0,05), thiết bị (p&lt; 0,05), nghỉ học để chơi game (OR= 3,97; 95%CI: 1,64 – 9,63; p&lt; 0,05), không bị giới hạn thời gian chơi game (OR= 5,67; 95%CI: 2,31 – 13,94; p&lt; 0,001), số giờ chơi trong 1 tuần (OR= 4,45; 95%CI: 1,14 – 17,41; p&lt; 0,05). <strong><em>Kết luận:</em></strong> Tỉ lệ chơi game online ở học sinh trường THPT Tam Nông là 89,23%. Có 16,38% học sinh chơi game online có điểm sàng lọc cho thấy có nguy cơ IGD, theo thang đo VN-IGD-17. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thể loại game, thiết bị, nghỉ học để chơi game, không bị giới hạn thời gian chơi game, số giờ chơi trong 1 tuần với IGD.</p> 2025-11-12T08:36:11+07:00 Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Sức khỏe