https://vjol.info.vn/index.php/most/issue/feedTạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - B2026-03-02T10:51:04+07:00Open Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Bộ Khoa học và Công nghệ</strong></p>https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132803Khảo sát thành phần hóa học, hoạt tính kháng vi sinh vật và kháng oxy hóa của cao chiết từ vỏ lụa hạt điều (Anacardium occidentale L.)2026-03-02T10:50:32+07:00Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Văn Toàn, Phạm Hải Sơn, Bùi Lê Khả Tú, Nguyễn Thị Liễu, Bùi Bảo Thịnh*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Vỏ lụa hạt điều (Anacardium occidentale L.) là một phụ phẩm nông nghiệp giàu tiềm năng, chứa nhiều hợp chất tự nhiên với các hoạt tính sinh học quan trọng. Nghiên cứu này khảo sát thành phần hóa học, hoạt tính kháng vi sinh vật và kháng oxy hóa của cao chiết ethyl acetate từ vỏ lụa hạt điều. Phân tích định tính cho thấy, cao chiết chứa các nhóm hợp chất như polyphenol, flavonoid, coumarin, tanin, nhưng không phát hiện alkaloid và saponin. Tổng hàm lượng polyphenol và catechin cùng các dẫn xuất lần lượt đạt 566,50±0,76 mg GAE/g và 517,50 mg/g, trong đó catechin (247,21 mg/g) chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là epigallocatechin gallate (166,27 mg/g) và epicatechin (94,49 mg/g). Cao chiết thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật mạnh, đặc biệt là với Staphylococcus aureus (21,00±0,50 mm) và Candida albicans (11,33±0,58 mm). Ngoài ra, hoạt tính kháng oxy hóa của cao chiết cũng rất đáng chú ý, với giá trị IC<sub>50</sub> đạt 10,05±0,06 μg/ml, thấp hơn vitamin C (11,62±0,18 μg/ml). Kết quả nghiên cứu đã chứng minh cao chiết ethyl acetate từ vỏ lụa hạt điều là nguồn nguyên liệu giàu tiềm năng, hứa hẹn ứng dụng trong dược liệu và thực phẩm chức năng.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132808Nghiên cứu và đánh giá tính an toàn của chủng Bacillus subtilis Eramic 26 ứng dụng trong sản xuất probiotic2026-03-02T10:50:38+07:00Đoàn Thị Thùy Linh, Lưu Thị Thủy Ngân, Ngô Bá Bìnhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnĐào Gia Bách, Hoàng Thị Thanh Hoa, Lê Thị Hội*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Vũ Trungkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Nghiên cứu này đánh giá tính an toàn của chủng Bacillus subtilis Eramic 26 thông qua các thử nghiệm về đặc tính kháng khuẩn, khả năng gây tan máu, độc tính tế bào và phân tích gen độc lực/kháng kháng sinh, dựa theo hướng dẫn của Generally Recognised As Safe (GRAS) do Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và Cơ quan An toàn Thực phẩm châu Âu (EFSA) ban hành. Khả năng kháng khuẩn được kiểm tra với 5 chủng vi khuẩn thử nghiệm gồm Escherichia coli, Salmonella typhimurium, Enterococcus faecium, Staphylococcus aureus và Shigella flexneri. Độc tính tế bào được đánh giá trên hai dòng tế bào là HT-29 và Vero. Kết quả cho thấy, B. subtilis Eramic 26 không ức chế các vi khuẩn thử nghiệm, cũng như không gây độc cho hai dòng tế bào HT-29 và Vero thử<br>nghiệm. Phân tích di truyền phát hiện các gen kháng kháng sinh như fosB, satA, ydhE/norM, cùng các đột biến trên gyrA và gyrB, nhưng tất cả đều nằm trên nhiễm sắc thể, không liên quan đến yếu tố di động. Chủng này mang các gen mã hóa bacteriocin như bacilysin và subtilosin, giúp tăng khả năng cạnh tranh sinh học. Tổng hợp kết quả cho thấy, B. subtilis Eramic 26 là chủng vi khuẩn an toàn, có tiềm năng ứng dụng trong sản xuất probiotic.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132814Nghiên cứu thiết kế hệ thống thiết bị hiệu chuẩn/kiểm định thước cuộn, thước vạch có phạm vi đo đến 30 m2026-03-02T10:50:42+07:00Trần Xuân Đạt, Tống Công Dũng*, Lê Xuân Dũng, Trần Nam Anh, Vũ Khánh Phankhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Xuân Tháikhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Ngọc Danhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Để đáp ứng nhu cầu hiệu chuẩn thiết bị đo độ dài lớn như: thước cuộn, thước vạch, thiết bị đo khoảng cách bằng laser… trong các ngành xây dựng, giao thông và công nghiệp, nhóm nghiên cứu đã thiết kế hệ thống thiết bị hiệu chuẩn/kiểm định thước cuộn, thước vạch có phạm vi đo đến 30 m sử dụng giao thoa kế laser dẫn xuất từ chuẩn đầu độ dài. Qua nghiên cứu, phân tích các hệ thống chuẩn hiện đang có tại các viện đo lường quốc gia trên thế giới, nhóm nghiên cứu đã đưa ra cấu tạo, nguyên lý và thiết kế hệ thống phù hợp với điều kiện kỹ thuật, kinh tế và hạ tầng trong nước. Đồng thời cũng đảm bảo tính khả thi, hiệu quả và tính ứng dụng cao trong thực tiễn. Hệ thống gồm: giao thoa kế laser, camera, các bộ phận cơ khí, thiết bị đo môi trường và nhiệt độ vật liệu. Hệ thống này sẽ đảm bảo tính liên kết chuẩn cho các thiết bị đo độ dài lớn như thước cuộn, thước vạch, thiết bị đo khoảng cách bằng laser…, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn ngày càng cao của các ngành sản xuất và xây dựng hiện đại.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132819Đánh giá khả năng kháng xuyên của một số vật liệu cát ứng dụng đắp ụ bảo vệ tàu bay2026-03-02T10:50:46+07:00Nguyễn Văn Hiếu, Dương Duy Khánh*, Nguyễn Xuân Bàngkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnTrần Công Bìnhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Giải pháp đắp ụ dã chiến sử dụng vật liệu địa phương để bảo vệ tàu bay trước khả năng xuyên phá của vật thể xuyên nhọn là giải pháp thường được áp dụng khi triển khai nhanh kết cấu bảo vệ tại các sân đỗ tàu bay. Giải pháp này có ưu điểm là tính linh hoạt, cơ động cao, dễ thi công và tiết kiệm chi phí so với các giải pháp kết cấu bảo vệ tàu bay khác. Bài báo tập trung mô phỏng số bằng phần mềm Abaqus khả năng xuyên của các vật thể xuyên bằng thép, khi sử dụng vật liệu nhồi là cát sạn san hô ở vùng biển Đông và cát đỏ tại khu vực Phan Thiết ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu mô phỏng số chỉ ra rằng, vật liệu cát sạn san hô tại khu vực quần đảo xa bờ của Việt Nam có khả năng kháng xuyên tốt hơn so với cát đỏ Phan Thiết vốn có mô đun cỡ hạt nhỏ. Chiều sâu xuyên của vật thể xuyên trong trường hợp môi trường cát đỏ và cát sạn san hô lần lượt là 0,700 và 0,495 m, tương ứng với hệ số Kx tính toán là 69,3.10-7 và 49,0.10-7. Đây là cơ sở ban đầu cho việc nghiên cứu thiết kế và ứng dụng dạng kết cấu ụ dã chiến bảo vệ tàu bay sử dụng vật liệu địa phương. </p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132821Ảnh hưởng của chất lượng nước tưới đến tính chất đất trồng rau khu vực Gia Lâm, Hà Nội2026-03-02T10:50:50+07:00Dương Thị Kim Thưkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Thị Hằng Ngakhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Thị Ngọc Dinh*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Nghiên cứu được thực hiện thông qua thí nghiệm chậu trong nhà lưới kết hợp lấy mẫu khảo sát ngẫu nhiên tại khu vực tưới nước sông Cầu Bây, để so sánh đặc tính của đất trước và sau 3 vụ thí nghiệm bằng các loại nước khác nhau, gồm nước thải sinh hoạt đã xử lý, nước sông Cầu Bây và nước giếng khoan có bón phân hóa học cho một số loại rau ăn lá trồng trên đất phù sa sông Hồng, vùng Gia Lâm (Hà Nội). Kết quả cho thấy, việc sử dụng nước thải và nước sông Cầu Bây có thể bổ sung hàm lượng nitơ (N), phốt pho (P) và chất hữu cơ cho đất. Các chỉ số về pH, độ ẩm và dinh dưỡng trong đất đều được cải thiện so với công thức tưới nước giếng khoan. Tuy nhiên, tưới bằng nước sông Cầu Bây thường xuyên, hàm lượng N và P tích lũy trong đất cao hơn từ 1,4 đến 1,5 lần so với tưới nước giếng khoan. Đây là nguy cơ gây tích lũy nitrat vào đất và rau nếu không được kiểm soát đầy đủ cân bằng dinh dưỡng trong nước tưới, đất và phân bón.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132825Đổi mới quy trình may đáp túi thông qua nghiên cứu, thiết kế, chế tạo hệ thống cữ, gá, dưỡng bán tự động lắp cho máy lập trình Juki AMS-221EN/25162026-03-02T10:50:53+07:00Hoàng Xuân Hiệp, Nguyễn Sỹ An*, Nguyễn Văn Lâm, Đỗ Xuân Chữ, Dương Thị Hoànkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Công đoạn may đáp túi trong sản xuất veston/jacket thường thực hiện trên máy một kim. Khi may, người vận hành phải gấp mép và giữ mép đáp liên tục để bảo đảm độ chính xác đường may mí, đồng thời lấy và sắp xếp bán thành phẩm sau may. Các thao tác này làm tăng thời gian chu trình may và gây biến động chất lượng. Bài báo đề xuất đổi mới quy trình may đáp túi trên máy Juki AMS-221EN/2516 bằng hệ thống cữ-gá-dưỡng bán tự động. Hệ thống tích hợp cơ cấu gấp mép và ép giữ vải dùng khí nén, điều khiển PLC (bộ điều khiển logic khả trình) theo mô hình chu trình-trạng thái để đồng bộ với chuyển động may và tự động lấy, sắp xếp bán thành phẩm sau may; nhờ đó quản lý liên động rõ ràng và tăng độ tin cậy khi vận hành lặp lại. Thử nghiệm sản xuất được thực hiện 30 lần trong 30 ngày (mỗi lần 4 giờ; n=30 cho mỗi phương án). Kết quả cho thấy, thời gian chu trình trung bình giảm từ 11,9±0,7 giây/chi tiết xuống 8,3±0,5 giây/chi tiết (giảm 30,3%; Welch t-test, p<0,001), tương ứng sản lượng tăng từ 1212 lên 1739 chi tiết/4 giờ (tăng 43,5%). Đường may mí ổn định hơn và ít phụ thuộc tay nghề nhờ loại bỏ thao tác giữ mép.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132827Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang của vật liệu MgGa2O4 pha tạp Cr3+2026-03-02T10:50:57+07:00Nguyễn Ánh Tuyết, Vũ Hồng Đăng, Trần Việt Hùng, Dương Thị Hảo Dung, Ngô Mai Chi, Nguyễn Văn Quang*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnHoàng Minh Tuấnkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnVũ Thị Kim Liênkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>LED ánh sáng đỏ xa hiện đang được quan tâm nghiên cứu nhờ những tác động tích cực đến sự phát triển của cây trồng. Khi cây được chiếu sáng bằng ánh sáng đỏ xa, PFR sẽ hấp thụ ánh sáng này và chuyển hóa thành PR, từ đó kích thích sự sinh trưởng của cây. Trong nghiên cứu này, vật liệu MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub>:Cr³⁺ phát xạ ánh sáng đỏ xa đã được tổng hợp bằng phương pháp khuếch tán nhiệt. Giản đồ nhiễu xạ tia X cho thấy, ở nhiệt độ nung 1400°C, vật liệu thu được là đơn pha và có chất lượng tinh thể tốt. Ảnh hiển vi điện tử quét phát xạ trường cho thấy, vật liệu có kích thước hạt lớn (1-3 μm). Phổ kích thích phát quang cho thấy, vật liệu hấp thụ mạnh trong vùng ánh sáng nhìn thấy, với hai đỉnh hấp thụ cực đại xung quanh bước sóng 415 và 574 nm. Dưới kích thích tại bước sóng 415 nm, vật liệu phát xạ ánh sáng đỏ mạnh với đỉnh phát xạ tại 707 nm, tương ứng với quá trình chuyển mức ²E→<sup>4</sup>A<sub>2</sub>. Thử nghiệm LED sử dụng vật liệu này kết hợp với chip LED 430 nm đã được thực hiện thành công. Các kết quả thu được cho thấy, vật liệu MgGa<sub>2</sub>O<sub>4</sub> pha tạp Cr³⁺ là ứng viên tiềm năng cho việc chế tạo đèn LED phát xạ ánh sáng đỏ xa, hướng tới ứng dụng trong chiếu sáng nông nghiệp.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132829Phân tích methanol trong xăng bằng kỹ thuật chiết lỏng - lỏng kết hợp sắc ký khí detector ion hóa ngọn lửa (GC-FID)2026-03-02T10:51:01+07:00Hoàng Thị Hương Thảo*, Mai Thị Phương Thảo, Khuất Ngọc Hảikhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Diệu Xuânkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnVũ Đức Lợikhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Trong nghiên cứu này, methanol trong xăng được phân tích bằng kỹ thuật chiết lỏng - lỏng kết hợp phương pháp sắc ký khí - detector ion hóa ngọn lửa (GC-FID). Methanol trong mẫu được chuyển sang pha nước bằng kỹ thuật chiết lỏng - lỏng trước khi được phân tách trên cột Restek Rtx-Wax và được phát hiện bằng detector FID. Các điều kiện sắc ký khí bao gồm: chương trình nhiệt độ cột tách, tỷ lệ chia dòng, tốc độ khí mang được khảo sát và lựa chọn để phù hợp với mục tiêu phân tích methanol trong xăng. Nồng độ methanol trong xăng tuyến tính tốt trong khoảng 3,96-7920 mg/l với R²>0,99. Giới hạn phát hiện (MDL) và giới hạn định lượng (MQL) của phương pháp lần lượt là 1,49 và 4,96 mg/l. Độ lặp của phương pháp đạt 4,60-6,99%, hiệu suất thu hồi methanol trong xăng đạt 92,4-98,6%. Các kết quả này cho thấy, phương pháp phân tích đã phát triển đáp ứng được các yêu cầu về độ chính xác và có thể áp dụng để xác định hàm lượng methanol trong các mẫu xăng.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132830Ảnh hưởng của phương pháp sấy đến thành phần hóa học và đặc tính hóa lý của tảo xoắn Spirulina platensis2026-03-02T10:51:04+07:00Nguyễn Trọng Bách, Trần Bảo Duykhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Trọng Bách*, Lê Bềnkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnĐinh Văn Hiệnkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Phương pháp sấy ảnh hưởng đến trạng thái, cấu trúc và thành phần hóa học, đặc biệt là các chất đặc trưng màu sắc có hoạt tính chống oxy hóa của tảo xoắn. Nghiên cứu này có ý nghĩa định hướng sử dụng phương pháp làm khô giúp gia tăng chuỗi giá trị tảo xoắn. Kết quả chỉ ra rằng, thành phần hóa học và một số đặc tính hóa lý khác của tảo Spirulina platensis bị ảnh hưởng ít nhất bởi phương pháp sấy thăng hoa ở 30<sup>o</sup>C, tiếp đến là sấy lạnh bơm nhiệt ở 50<sup>o</sup>C và nhiều nhất là sấy bằng không khí nóng ở 50<sup>o</sup>C. Trong phạm vi nghiên cứu, tảo xoắn sấy bằng không khí nóng có trị số peroxit cao và tốc độ lắng đọng trong nước nhanh nhất. Trong số các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này, sấy thăng hoa tảo xoắn là phương pháp phù hợp nhất để giữ lại các chất chuyển hóa thứ cấp như sắc tố phycocyanin. Tuy nhiên, phương pháp sấy lạnh bơm nhiệt hoàn toàn có thể sử dụng để thay thế cho phương pháp sấy thăng hoa nhằm mục đích giảm chi phí sản xuất, nhưng vẫn giữ được giá trị ứng dụng của tảo Spirulina platensis nếu như hoạt tính chống oxy hóa không phải là mối quan tâm chính như màu sắc hay giá trị dinh dưỡng.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132834Tổng hợp vật liệu nano sắt bằng dịch chiết lá bàng (Terminalia catappa L.) và ứng dụng kích thích nảy mầm hạt ngô2026-03-02T10:04:23+07:00Nguyễn Đắc Bình Minhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnĐào Văn Minh, Nguyễn Thị Việt Quỳnh, Phan Thị Vân Anh*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnNguyễn Thị Hồng Phượng, Nguyễn Hoài Phươngkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnLã Đức Dươngkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Tổng hợp vật liệu nano bằng phương pháp hóa học xanh đang trở thành xu hướng nổi bật nhờ tính thân thiện môi trường và khả năng ứng dụng cao trong nông nghiệp bền vững. Trong nghiên cứu này, dịch chiết lá bàng (Terminalia catappa L.) được sử dụng làm tác nhân khử sinh học để khử ion sắt (III) thành sắt kim loại (Fe<sup>o</sup>), qua đó tổng hợp vật liệu nano sắt. Dịch chiết được thu nhận bằng phương pháp chiết siêu âm với dung môi ethanol 70%, có hàm lượng polyphenol và flavonoid lần lượt đạt 85,12±0,97 mg GAE/g chất khô và 104,6±8,72 mg QE/g chất khô. Các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp, bao gồm nồng độ tiền chất Fe<sup>3+</sup>, nhiệt độ và thời gian phản ứng, được khảo sát và tối ưu thông qua thử nghiệm đánh giá khả năng kích thích nảy mầm của hạt<br>ngô. Đặc trưng cấu trúc và hình thái của vật liệu được xác định bằng các phương pháp phổ nhiễu xạ tia X (XRD), phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) và ảnh hiển vi điện tử quét (SEM). Kết quả cho thấy, vật liệu thu được có đỉnh nhiễu xạ đặc trưng của Fe<sup>o</sup> tại 2θ=45,7<sup>o</sup>, kích thước hạt dao động trong khoảng 20-100 nm, trung bình ∼80 nm. Nano sắt tổng hợp bằng phương pháp xanh thể hiện khả năng kích thích nảy mầm đáng kể, gợi mở tiềm năng ứng dụng làm chế phẩm sinh học hỗ trợ tăng trưởng cây trồng.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132842Tối ưu điều kiện sấy bơm nhiệt kết hợp bức xạ hồng ngoại cho cá dứa Pangasius krempfi2026-03-02T10:39:18+07:00Hoàng Thái Hà*, Đặng Xuân Cường, Vũ Quang Vinh, Lê Thành Đạt, Đoàn Hoàng Thái, Trần Duy Thuận, Nguyễn Thúy Nga, Trần Đình Toàn Anhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnVũ Quang Vinh, Trần Tuấn Kiệtkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Cá dứa (Pangasius krempfi) là loài thủy sản có giá trị cao, nhưng các phương pháp sấy truyền thống như phơi nắng và sấy lò thông thường có một số hạn chế, bao gồm thời gian sấy kéo dài, chất lượng sản phẩm không đồng đều và kiểm soát quy trình hạn chế. Nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa quá trình sấy cá dứa bằng công nghệ sấy kết hợp bơm nhiệt và bức xạ hồng ngoại. Thí nghiệm được thiết kế theo phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM) với bốn yếu tố khảo sát: nhiệt độ sấy (40-60°C), vận tốc gió (1-3 m/s), chiều dày nguyên liệu (1-2 cm) và nồng độ dung dịch sorbitol (5-25%). Các chỉ tiêu đánh giá gồm: thời gian sấy, tỷ lệ hoàn nguyên, điểm cảm quan và hoạt độ nước. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp hồi quy bậc hai và phân tích phương sai (ANOVA). Kết quả cho thấy, nhiệt độ sấy và nồng độ sorbitol có ảnh hưởng đáng kể đến các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm (p<0,01). Điều kiện tối ưu gồm: nhiệt độ 60°C, vận tốc gió 1,4 m/s, chiều dày nguyên liệu 1,0 cm, nồng độ sorbitol 5%, giúp đạt thời gian sấy 5,2 giờ, tỷ lệ hoàn nguyên 63%, cảm quan 18,34/20 và hoạt độ nước 0,57. Kết quả góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học cho ứng dụng công nghệ sấy kết hợp trong chế biến cá dứa và các sản phẩm thủy sản tương tự.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132858Tỷ lệ mắc sarcopenia ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Nghệ An năm 20242026-03-02T10:44:05+07:00Đặng Anh Tuấnkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vnLê Đức Cường, Phạm Thị Dung*khoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hiện mắc sarcopenia ở người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD - chronic obstructive pulmonary disease) điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Nghệ An năm 2024. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 399 người bệnh COPD điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Phổi Nghệ An năm 2024. Xác định khối cơ xương bằng thiết bị Inbody 770. Sarcopenia được chia thành các nhóm: bình thường, tiền sarcopenia, sarcopenia vừa<br>và sarcopenia nặng theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Hiệp hội Thiểu cơ châu Á. Kết quả: có 38,1% không mắc sarcopenia, 52,1% ở mức tiền sarcopenia (có khối cơ thấp). Tỷ lệ mắc sarcopenia là 9,8%. Tình trạng tắc nghẽn đường thở càng cao thì tỷ lệ mắc sarcopenia càng lớn. Tỷ lệ mắc là 7% ở nhóm GOLD 1-2 và 18,5% ở nhóm GOLD 4. Nhóm bệnh E có tỷ lệ mắc cao nhất là 11,8%, hai nhóm A, B có tỷ lệ mắc là 8,3%. Kết luận: Tỷ lệ mắc sarcopenia là 9,8%. Tỷ lệ mắc ở nữ cao<br>hơn so với nam (lần lượt là 10,5 và 9,6%, p>0,05). Tỷ lệ mắc ở nhóm trên 60 tuổi cao hơn nhóm dưới 60 tuổi (lần lượt là 10,3 và 7,9%; p>0,05). Tỷ lệ mắc tăng dần theo mức độ bệnh và mức độ tắc nghẽn đường thở (p<0,05).</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/most/article/view/132861Căn nguyên vi khuẩn trong dịch tỵ hầu ở bệnh nhân viêm phổi thùy tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 3/2023 đến tháng 2/20242026-03-02T10:47:53+07:00Nguyễn Thị Mai*, Trần Thanh Tú, Dương Thị Thụy, Nguyễn Ngọc Văn, Nguyễn Thị Thu Hằng, Vũ Đức Anh, Nguyễn Huy Khánhkhoahocvacongnghevietnam@mst.gov.vn<p>Viêm phổi thùy là bệnh lý tổn thương phổi nặng ở trẻ em và diễn biến thường cấp tính. Xác định căn nguyên gây viêm phổi thùy bằng cách lấy mẫu tại vị trí tổn thương còn gặp nhiều khó khăn. Nghiên cứu tìm hiểu căn nguyên vi khuẩn trong dịch tỵ hầu ở bệnh nhân viêm phổi thùy, tỷ lệ đồng nhiễm và một số yếu tố liên quan đến đồng nhiễm vi khuẩn điển hình ở bệnh nhân viêm phổi thùy do Mycoplasma pneumoniae. Kết quả cho thấy, khi phân lập bằng phương pháp multiplex real-time PCR trên mẫu dịch tỵ hầu cho tỷ lệ trẻ dương tính là 555/835 (66,5%), trong đó vi khuẩn M. pneumoniae, Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae chiếm tỷ lệ lần lượt là 32,1, 28,1 và 21,9%. Kết quả nuôi cấy dịch tỵ hầu chỉ có 272/835 (32,6%) trẻ dương tính với H. influenzae (17,5%), M. catarrhalis (7,9%) và S. pneumoniae (7,4%). So với kết quả nuôi cấy dịch tỵ hầu, phương pháp multiplex real-time PCR có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trên 80%. Tỷ lệ bệnh nhân viêm phổi do M. pneumoniae là 223/835 (26,7%), hay gặp ở nhóm 2-5 tuổi. Trong đó, có 39/223 (17,5%) trẻ đồng nhiễm với căn nguyên vi khuẩn điển hình. Không có sự khác biệt giữa nhóm đơn nhiễm và đồng nhiễm ở bệnh nhân viêm phổi thùy do M. pneumoniae về các yếu tố liên quan đến đặc điểm đối tượng và lâm sàng.</p>2026-02-25T00:00:00+07:00Bản quyền (c)