Tạp chí Môi trường - Chuyên đề Khoa học - Công nghệ
https://vjol.info.vn/index.php/mt
<p><strong>Tạp chí của Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường</strong></p>vi-VNTạp chí Môi trường - Chuyên đề Khoa học - Công nghệ2615-9597Giảm phát thải CO₂ trong chuỗi giá trị cà phê hướng tới nông nghiệp bền vững
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123496
<p><strong><em>Nghiên cứu đánh giá lượng phát thải khí nhà kính (KNK - CO₂) trong toàn bộ chuỗi giá trị cà phê tại Lâm Đồng - từ canh tác, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ, áp dụng hướng dẫn của IPCC 2006. Kết quả cho thấy, phát thải CO<sub>2</sub> từ chuỗi cà phê là 14.300 kg CO<sub>2</sub>/ha/năm, chủ yếu đến từ phân bón hóa học (42%), nhiên liệu hóa thạch (36%) và điện năng (22%). Đồng thời, cây cà phê hữu cơ cũng có khả năng hấp thụ đáng kể CO₂, với mức trung bình 17.249 kg CO₂/ha/năm. Các giải pháp đề xuất gồm sử dụng phân hữu cơ, biochar từ vỏ cà phê, hệ thống tưới tiết kiệm, năng lượng tái tạo và công nghệ số. Việc phối hợp các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, chính sách có thể giảm một lượng lớn phát thải CO₂, góp phần phát triển cà phê bền vững.</em></strong></p>Thái Phương Vũ, Nguyễn Thị Mộng Quỳnh, Nguyễn Khương Duyên, Trần Thị Quế Trân, Nguyễn Thị Cẩm Tiên
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV58Ứng dụng mô hình MIKE và ECOLab mô phỏng lan truyền các chất ô nhiễm trên hệ thống sông rạch ở tỉnh Vĩnh Long (Bến Tre cũ)
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123498
<p><strong><em>Dưới sức ép của gia tăng dân số và phát triển kinh tế đã tác động lớn đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước mặt. Sự phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) kéo theo vấn đề xả thải gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích đánh giá sức chịu tải nguồn nước mặt trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long (tỉnh Bến Tre cũ) và dự báo đến năm 2030 trong mối quan hệ phát thải từ các hoạt động KT - XH và biến đổi khí hậu (BĐKH). Nhóm tác giả ứng dụng mô hình thủy động lực học (MIKE 11) để xác định trường dòng chảy và trường độ sâu cột nước, đồng thời kết hợp Module sinh thái (MIKE ECOLab) để tính toán chất lượng nước (CLN) sông Vĩnh Long dưới tác động của con người và môi trường. Kết quả mô phỏng lan truyền các chất cho thấy, nồng độ BOD trung bình 6,78 mg/l, DO là 5,53 mg/l, NH<sub>4</sub><sup>+</sup>-N là 0,62 mg/l, NO<sub>3</sub><sup>-</sup>-N là 1,52 mg/l, PO<sub>4</sub><sup>3-</sup>-N là 0,18 mg/l, Coliform là 3,84 MPN, nhiệt độ là 21,7 <sup>o</sup>C và những kết quả này phù hợp với tính toán, thực đo. Thời gian mặn mô phỏng kịch bản vào năm 2025 và 2030 bắt đầu từ tháng 2, kết thúc vào tháng 4, khả năng mặn theo dòng chảy mực nước biển tăng cao vào sâu trong đất liền qua các năm hoàn toàn có thể xảy ra với cường độ lớn.</em></strong></p>Tôn Thất Lãng, Nguyễn Huy Cương, Huỳnh Thị Ngọc Hân, Trần Thị Vân Trinh, Nguyễn Ngọc Trinh, Trần Thành Công, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV917Đánh giá đặc tính và tiềm năng ứng dụng của tro đốt chất thải y tế trong sản xuất vật liệu xây dựng tại Thành phố Hồ Chí Minh
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123499
<p><strong><em>Chất thải y tế (CTYT) tại TP. Hồ Chí Minh (HCM) tăng nhanh, trung bình 33 tấn/ngày từ hơn 8.000 cơ sở, gây áp lực lớn cho hệ thống xử lý (Sở Tài nguyên và Môi trường TP. HCM, 2024). Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị TP. HCM (CITENCO) hiện đốt CTYT nguy hại bằng công nghệ hai giai đoạn, công suất 14 - 21 tấn/ngày (Citenco, n.d.). Nghiên cứu thu thập tro đáy (2023 - 2024) cho thấy, vật liệu này an toàn môi trường, với florua 2,42 - 2,80 mg/L, kim loại nặng không phát hiện và clorua 1,80 -1,93%. Tro được tái sử dụng sản xuất gạch không nung đạt cường độ nén 2,0 MPa, độ hút nước 10 - 12% và hệ số hình dạng 0,96. Tiềm năng ứng dụng cho thấy, mỗi ngày, TP. HCM có thể sản xuất 9.996 - 10.995 viên gạch, góp phần giảm chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.</em></strong></p>Châu Nguyễn Thanh Diễm, Huỳnh Thị Ngọc Hân, Huỳnh Quyền
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV1822Nghiên cứu biến đổi hàm lượng chlorophyll a ở vùng biển Đông Nam Bộ phục dự báo ngư trường khai thác hải sản
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123501
<p><strong><em>Chlorophyll a là yếu tố môi trường sinh thái quan trọng và được sử dụng phổ biến trong các mô hình phân tích tương quan, dự báo ngư trường khai thác các loài cá biển. Kết quả nghiên cứu thống kê ở vùng biển Đông Nam Bộ thấy rằng, chlorophyll a có tương quan thuận với năng suất khai thác cá nổi nhỏ. Chúng thường cao vào mùa mưa với giá trị trung bình trong tháng 1 và tháng 12 lần lượt là 0,53 và 0,51mg/m<sup>3 </sup>và giảm thấp vào tháng 4 đến tháng 5 hàng năm (chlorophyll a trung bình tháng 4 và tháng 5 lần lượt là 0,26 và 0,24mg/m<sup>3</sup>). Sự phân bố theo không gian và thời gian của chlorophyll a được thể hiện rõ ràng giữa các khu vực trong vùng biển nghiên cứu. Ở khu vực ven bờ, trung bình chloropyll a cũng có giá trị cao nhất trong tháng 1, tháng 12 với giá trị lần lượt là 1,30 và 1,23mg/m<sup>3</sup> cao hơn nhiều lần so với khu vực ngoài khơi (giá trị này ở vùng ngoài khơi lần lượt là 0,23 và 0,24 mg/m<sup>3</sup>) và chúng đạt giá trị thấp nhất vào tháng 4, 5 trong khi ở vùng ngoài khơi các tháng có giá trị thấp nhất vào tháng 5, 6. Trong các tháng 1, 10, khu vực ven bờ xuất hiện nhiều khu vực nhỏ có giá trị chlorophyll a cao tập trung chủ yểu từ khu vực biển từ Vũng Tàu (TP. Hồ Chí Minh) đến tỉnh Cà Mau hình thành nên các vùng tiềm năng khai thác hải sản. Tháng 4, 7, bên cạnh những khu vực như trên còn thấy xuất hiện thêm ở cả khu vực đảo Phú Quý. Hiểu rõ được quy luật phân bố này, sẽ là cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu dự báo các khu vực tiềm năng ngư trường khai thác hải sản dựa trên các yếu tố môi trường trong đó có chlorophyll a.</em></strong></p>Nguyễn Văn Hướng, Nguyễn Hoàng Minh, Bùi Thanh Hùng, Cấn Thu Văn, Phann Thị Thùy Dương
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV2329Chuyển đổi số quản lý đất đai với AI: Thách thức và triển vọng tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123503
<p><strong><em>Chuyển đổi số trong quản lý đất đai là yếu tố then chốt trong quá trình hiện đại hóa hệ thống quản trị tài nguyên tại Việt Nam. Bài báo nhằm xác định các ứng dụng AI cho lĩnh vực quản lý đất đai, phân tích toàn diện các cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực này, đồng thời đề xuất những giải pháp và định hướng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số hiệu quả, minh bạch và bền vững. Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua phân tích - tổng hợp tài liệu trong và ngoài nước, kết hợp phân tích SWOT để xác định các ứng dụng AI và nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức khi ứng dụng AI trong quản lý đất đai tại Việt Nam. Kết quả cho thấy, AI có khả năng nâng cao độ chính xác, hiệu quả và tính minh bạch trong quản lý đất đai, tuy nhiên việc ứng dụng vẫn gặp trở ngại. Nghiên cứu xây dựng khung phân tích SWOT phù hợp với bối cảnh quản lý đất đai tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hướng tới hệ thống quản lý đất đai hiện đại và bền vững.</em></strong></p>Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Phương Nam, Trương Mỹ Hoa
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV3034Nghiên cứu hạch toán giá trị dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015 - 2020
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123504
<p><em><strong>Quảng Ninh là một khu vực điển hình với hệ thống đất ngập nước (ĐNN) đa dạng gồm rừng ngập mặn, đầm phá ven biển, cỏ biển và một số hồ nước có giá trị sinh thái to lớn, tạo động lực phát triển du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản. Nghiên cứu này nhằm hạch toán giá trị dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) của ĐNN tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2015-2020, góp phần lượng hóa đóng góp của hệ sinh thái (HST) vào phát triển kinh tế xanh. Phương pháp nghiên cứu dựa trên khung Hệ thống hạch toán HST (SEEA EA, 2021), kết hợp xử lý ảnh viễn thám Landsat 8 và phân tích hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng các tài khoản phạm vi, điều kiện và dịch vụ HST. Kết quả cho thấy, diện tích ĐNN giảm 5,7%, nhưng tổng giá trị kinh tế DVHST tăng 59%, từ 7.725,8 tỷ đồng lên 12.289,4 tỷ đồng. Dịch vụ cung cấp thủy sản chiếm tỷ trọng lớn nhất, trong khi dịch vụ văn hóa - du lịch sinh thái giảm do tác động của COVID-19 và suy thoái rừng ngập mặn. Nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ quản lý, quy hoạch phát triển bền vững và thử nghiệm tính khả thi của khung SEEA EA trong hạch toán HST ở cấp tỉnh tại Việt Nam.</strong></em></p>Trần Đăng Hùng, Nguyễn Thanh Bằng, Phạm Hồng Tính, Nguyễn Thij Thanh Huyền, Phạm Quang Hiệp, Mai Hương Lam
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV3546Đánh giá nguồn tài nguyên sinh thái và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đất ngập nước Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, tỉnh Tây Ninh
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123505
<p><strong><em>Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát (tỉnh Tây Ninh), được công nhận là Vườn Di sản ASEAN (năm 2019), có vị trí vô cùng quan trọng trong bảo tồn và phát triển các giá trị về đa dạng sinh học, phòng hộ biên giới, cảnh quan thiên nhiên, các hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái đất ngập nước của vùng chuyển tiếp giữa Tây Nguyên, miền Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Hệ sinh thái đất ngập nước nơi đây chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu cho hoạt động của con người và góp phần duy trì nhiều chức năng môi trường quan trọng. Vì vậy, để quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước tại Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát cần thực hiện việc điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên, hệ sinh thái, đa dạng sinh học để cập nhật, kiểm đếm; hỗ trợ xây dựng bộ cơ sở dữ liệu quản lý nguồn tài nguyên, hệ sinh thái, đa dạng sinh học. Trên cơ sở đó, đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng phần mềm quản lý dữ liệu về đa dạng sinh học, đất ngập nước quan trọng phục vụ công tác quản lý về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.</em></strong></p>Nguyễn Đình Đáp, Lê Công Hiệu, Tô Quang
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV4755Xu hướng phục hồi động vật hai mảnh vỏ Trias biển ở miền Bắc Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123510
<p><strong><em> <span class="fontstyle0">Nghiên cứu này nhằm tổng hợp dữ liệu địa tầng và hóa thạch để phân tích quá trình phục hồi của nhóm Hai mảnh vỏ biển trong Trias ở miền Bắc Việt Nam. Các đặc điểm địa tầng chứa phức hệ Hai mảnh vỏ tiêu biểu, hình thái chức năng và hệ thống phân loại đã được phân tích, cho thấy tiến trình phục hồi Hai mảnh vỏ qua 3 giai đoạn của kỷ Trias theo hai xu hướng chính: phục hồi phân loại và phục hồi sinh thái. Các xu hướng này tương đồng với Nam Trung Quốc, tuy nhiên mức độ đa dạng ở miền Bắc Việt Nam thấp hơn do diện tích biển hẹp và quá trình phục hồi mạnh mẽ nhất chậm lại ở Trias giữa; từ Carni trở đi, điều kiện lục địa hóa hạn chế sự phát triển của nhóm hóa thạch này.</span> </em></strong></p>Trịnh Thái Hà, Nguyễn Thị Hồng Nhung, Đinh Công Tiến, Nguyễn Đức Thái, Nguyễn Đức Phong
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV5663Nghiên cứu đánh giá cường độ phát thải khí nhà kính trong ngành xây dựng tại các đô thị lớn của Việt Nam phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123508
<p><strong><em>Trong bối cảnh cam kết của Việt Nam về mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, bài báo này giải quyết khoảng trống về phương pháp luận giám sát và đánh giá (M&E) trong ngành xây dựng. Mục tiêu chính là lượng hóa cường độ phát thải khí nhà kính (KNK) để theo dõi tiến trình tăng trưởng xanh. Nghiên cứu áp dụng phương pháp luận của Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) để tính toán phát thải trong bốn lĩnh vực chính: đô thị, hạ tầng kỹ thuật, công trình xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng tại 4 tỉnh/thành phố đặc thù là TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Vĩnh Phúc. Kết quả chính cho thấy dù tổng phát thải tuyệt đối vẫn tăng, cường độ phát thải đã giảm đáng kể từ 7% đến 14% trong giai đoạn 2020 - 2023 nhờ áp dụng các công nghệ xanh. Nghiên cứu cũng xác thực hiệu quả của các giải pháp cụ thể và chỉ ra thách thức lớn về sự thiếu hụt dữ liệu.</em></strong></p>Vương Xuân Hòa, Đào Minh Trang, Nguyễn Thị Liễu
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV6470Nghiên cứu nhận thức, nhu cầu cần hỗ trợ của người dân và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123511
<p><strong><em> <span class="fontstyle0">Để thực hiện phát triển nông nghiệp hữu cơ (NNHC) gắn với bảo vệ môi trường thì việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nông dân về nông nghiệp hữu cơ là yếu tố then chốt. Thông qua bảng hỏi kết hợp phỏng vấn chuyên sâu 30 hộ dân sản xuất nông nghiệp tại xã Bản Nguyên vào tháng 10 năm 2025 cho thấy, hầu hết người dân tại đây đều có nhận thức về khái niệm, đặc điểm sản xuất, vai trò của NNHC. Đa số có những nhận thức nhất định về chuỗi giá trị nông sản, quy trình sản xuất và chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước liên quan đến phát triển NNHC. Các khó khăn, vướng mắc khi sản xuất NNHC tại đây, được xác định khó khăn nhất là về quy trình kỹ thuật sản xuất (83%); tiếp đến là tiêu thụ sản phẩm (57%); sau đó là việc cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ (30%) và cuối cùng là khó khăn về nguồn vốn (27%). Về nhu cầu cần hỗ trợ tại đây: cao nhất là nhu cầu hỗ trợ về quy trình kỹ thuật sản xuất (83%); tiếp theo về tiêu thụ sản phẩm (60%); cấp giấy chứng nhận, chứng chỉ (40%) và nhu cầu hỗ trợ nguồn vốn ưu đãi phục vụ sản xuất NNHC (40%). Nhóm nghiên cứu đã đề xuất bổ sung 5 giải pháp hỗ trợ cho nông dân tại xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ nhằm thúc đẩy phát triển NNHC ngày càng tốt hơn.</span> </em></strong></p>Mai Kiên Định, Nguyễn Quỳnh Trang, Dư Văn Toán, Lương Sỹ Quyết, Khuất Thị Ánh Tuyết
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV7176Sản xuất pectin từ phụ phẩm bã lá quế sau khi tách tinh dầu và đánh giá đặc tính lý hóa của sản phẩm
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123515
<p><strong><em>Hiện nay, cây quế là cây trồng chủ lực trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở một số địa phương như Yên Bái, Lào Cai, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Tuy nhiên, bã lá quế chủ yếu bị bỏ hoặc dùng làm phân hữu cơ với giá trị thấp, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường nếu không xử lý đúng cách. Nghiên cứu này nhằm tận dụng phụ phẩm bã lá quế sau khi tách tinh dầu để chiết xuất pectin - một polysaccharide có giá trị trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm. Phương pháp thủy phân acid sử dụng acid citric được áp dụng, kết hợp khảo sát ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, thời gian và tỷ lệ dung môi/nguyên liệu nhằm tối ưu hóa hiệu suất chiết. Kết quả cho thấy, điều kiện tối ưu là pH 1,0; 90°C; thời gian 30 phút và tỷ lệ dung môi 40:1; với hiệu suất đạt 7,23%. Pectin thu được có đặc tính hóa lý tương đương pectin thương mại: hàm lượng acid galacturonic 67%, độ ester hóa 45%, trọng lượng phân tử 350 kDa, khả năng tạo gel tốt và ổn định nhiệt cao. Nghiên cứu khẳng định tiềm năng sản xuất pectin từ bã lá quế như một hướng đi bền vững và khả thi về kinh tế tại Việt Nam.</em></strong></p>Nguyễn Thành Dương, Trần Thanh Ngoan
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV7781Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất cà phê và giải pháp thích ứng tại khu vực Nam Tây Nguyên, Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123526
<p><strong><em> <span class="fontstyle0">Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang tác động ngày càng rõ rệt đến các hệ thống sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Nam Tây Nguyên - vùng trồng cà phê trọng điểm và có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng - an ninh. Nghiên cứu này nhằm đánh giá xu hướng BĐKH và các tác động của nó đến năng suất cà phê tại các khu Kinh tế - Quốc phòng (KTQP) thuộc Binh đoàn 16, đồng thời đề xuất các giải pháp thích ứng phù hợp với điều kiện địa phương. Cách tiếp cận hệ thống, liên ngành, dựa trên hệ sinh thái (EbA) và dựa vào cộng đồng (CbA) được áp dụng, kết hợp giữa phương pháp định tính (điều tra, phỏng vấn, tham vấn chuyên gia) và định lượng (phân tích chuỗi dữ liệu khí tượng 2004-2024, kịch bản RCP 8.5). Kết quả cho thấy, nhiệt độ trung bình tăng gần 1°C trong hai thập kỷ qua và có thể tăng 3-3,5°C vào cuối thế kỷ XXI, trong khi lượng mưa mùa khô giảm 5-10%, gây hạn hán nghiêm trọng, làm giảm 15-25% năng suất cà phê hiện nay. Nghiên cứu đề xuất nhóm giải pháp thích ứng gồm: tăng cường hạ tầng thủy lợi và hồ chứa nước; áp dụng mô hình tưới tiết kiệm; sử dụng phân hữu cơ vi sinh; và trồng xen cây che bóng nhằm nâng cao khả năng chống chịu khí hậu. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch sản xuất nông nghiệp thích ứng khí hậu tại các khu KTQP Nam Tây Nguyên.</span> </em></strong></p>Phạm Hoài Nam, Phạm Sơn Tùng, Nguyễn Văn Huống, An Đức Thắng, Nguyễn Thị Dung
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV8289Ô nhiễm dầu khó nhận biết và đề xuất giải pháp quản lý
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123528
<p><strong><em>Hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển, lưu trữ và sử dụng các sản phẩm dầu mỏ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là các sự cố tràn dầu. Trong khi các nghiên cứu và biện pháp quản lý hiện nay chủ yếu tập trung vào các sự cố tràn dầu nhìn thấy được, vẫn tồn tại một khoảng trống lớn trong việc nhận diện, đánh giá và kiểm soát dạng “ô nhiễm dầu khó nhận biết”, tức là dầu nhiễm trong môi trường nước hoặc đất nhưng không thể quan sát bằng mắt thường. Loại ô nhiễm này phát sinh âm thầm từ các hoạt động hàng hải, công nghiệp, khai thác mỏ, vận tải, du lịch và sinh hoạt hàng ngày, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, chất lượng nguồn nước và sức khỏe cộng đồng. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng năng lực ứng phó sự cố tràn dầu tại Việt Nam, nhận diện cơ chế phát sinh và đặc điểm của ô nhiễm dầu khó nhận biết, đồng thời đánh giá mức độ ô nhiễm dầu khó nhận biết tại tỉnh Quảng Ninh - một khu vực có hoạt động khai thác, vận tải và công nghiệp phát triển mạnh. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, ứng phó và kiểm soát ô nhiễm dầu. Qua đó, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách quản lý, nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm dầu khó nhận biết, hướng tới bảo vệ môi trường nước và hệ sinh thái bền vững.</em></strong></p>Phạm Văn Sơn
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV9095Giải pháp nhận diện loài chim nguy cấp, quý hiếm dựa trên học sâu
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123529
<p><em><strong>Nhận dạng chính xác các loài chim nguy cấp, quý, hiếm đóng vai trò thiết yếu trong giám sát và bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH). Nghiên cứu nhằm xây dựng mô hình nhận diện tin cậy cho 26 loài ưu tiên bảo vệ bằng cách tích hợp học sâu với các cơ chế xử lý đặc thù. Phương pháp đề xuất gồm 3 hợp phần: Tiền xử lý bằng YOLOv12 để loại bỏ ảnh không chứa chim; phân loại loài dựa trên ResNet học chuyển giao và tinh chỉnh trên bộ dữ liệu riêng (27.457 ảnh của 171 loài); hậu xử lý sử dụng OpenMax nhằm giảm nhầm lẫn đối với các loài ngoài tập huấn luyện. Kết quả thực nghiệm cho thấy, mô hình đạt chỉ số Macro F1-Score là 83,54%, chứng minh tiềm năng ứng dụng cao trong hệ thống giám sát ĐDSH.</strong></em></p>Lê Hải Hà, Mạc Thị Minh Trà, Lê Hoàng Anh, Nguyễn Văn Thụy
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV96103Đánh giá chất lượng nước sông Đáy đoạn chảy qua huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong 6 tháng cuối năm 2024 theo chỉ số chất lượng nước (WQI)
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123531
<p><strong><em> <span class="fontstyle0">Trong những năm gần đây, sông Đáy đang chịu áp lực ngày càng lớn từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nước sông Đáy đoạn chảy qua huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong 6 tháng cuối năm 2024 bằng chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index – WQI). Nghiên cứu sử dụng các phương pháp: Lấy mẫu, phân tích mẫu; tính toán chỉ số chất lượng nước (WQI); thành lập bản đồ phân vùng chất lượng nước. Kết quả cho thấy, chất lượng nước sông Đáy đoạn chảy qua huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong năm 2024 ở mức trung bình và kém, với giá trị WQI của hai đợt quan trắc dao động từ 36,9–59,2 (đợt 1) và từ 34,7–74,8 (đợt 2), nước có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước sông Đáy từ các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn.</span> </em></strong></p>Lê Văn Sơn, Lê Ngọc Thuấn, Kiều Thị Thu Trang
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV104110Tiềm năng thương mại hóa việc lưu trữ các-bon của tảo spirulina trong bối cảnh thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123532
<p><strong><em>Tiềm năng thương mại hóa của tảo Spirulina trong lưu trữ các-bon thông qua thị trường tín chỉ các-bon toàn cầu được đánh giá là đầy hứa hẹn nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức triển khai. Vi tảo, bao gồm Spirulina, là giải pháp sinh học hứa hẹn nhờ hiệu suất quang hợp cao (10-50 lần so với cây trồng trên cạn). Đồng thời, sinh khối Spirulina tạo ra nhiều nguồn giá trị gia tăng như thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, mỹ phẩm đến nhiên liệu sinh học. Các nghiên cứu tổng quan cho thấy, phương pháp cố định CO₂ bằng Spirulina có lợi thế chi phí thấp so với nhiều công nghệ khác, trong khi tính khả thi kinh tế được củng cố nhờ doanh thu kết hợp từ tín chỉ các-bon và các sản phẩm đồng giá trị. Việc nuôi trồng và ứng dụng Spirulina thể hiện kịch bản “đôi bên cùng có lợi”, vừa góp phần thu giữ và lưu trữ các-bon, vừa thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại mới dừng lại ở mức thí nghiệm, thí điểm hoặc lý thuyết; trong khi tín chỉ các-bon vẫn chủ yếu được xem như một nguồn thu tiềm năng chứ chưa có sự tham gia thực tiễn ở quy mô thương mại.</em></strong></p>Nguyễn Thị Thanh Trúc, Phan Vũ Đăng Khoa, Nguyễn Thị Lan Bình
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV111117Vai trò của nông dân trong phát triển nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123533
<p><strong><em>Gần bốn thập kỷ đổi mới đã giúp nông nghiệp Việt Nam trở thành một trong những trụ cột kinh tế và là ngành xuất khẩu hàng đầu thế giới. Trong tiến trình này, nông dân giữ vai trò trung tâm - là chủ thể sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, đóng góp quan trọng cho phát triển nông thôn và ổn định xã hội. Đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nông nghiệp Việt Nam định hướng chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” đa giá trị, gắn với nông nghiệp xanh, tuần hoàn, thông minh và chuyển đổi số. Bài viết khái quát vai trò, thành tựu và thách thức của nông dân, qua đó đề xuất giải pháp xây dựng nông thôn mới (NTM) gắn với các mục tiêu PTBV đến năm 2050.</em></strong></p>Nguyễn Lệ Hoa
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV118122Khung tiêu chí đánh giá kinh tế tuần hoàn cấp quốc gia: Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123534
<p><strong><em>Bài viết tổng hợp và so sánh khung tiêu chí đánh giá kinh tế tuần hoàn (KTTH) cấp quốc gia của các quốc gia và tổ chức tiên phong như Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Thông qua phân tích cấu trúc, chỉ số và cơ chế vận hành của các mô hình quốc tế, bài viết nhấn mạnh vai trò của khung tiêu chí KTTH như một công cụ giám sát, đo lường và điều chỉnh tiến trình chuyển đổi xanh ở cấp quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất Việt Nam cần xây dựng khung tiêu chí KTTH gồm 6 nhóm thành phần cốt lõi: Hiệu quả tài nguyên; năng lượng và khí hậu; vòng đời sản phẩm – tái chế; sử dụng nước và tài nguyên khác; đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh; cùng tác động môi trường, khí hậu. Bên cạnh việc định hình cấu trúc bộ chỉ số cốt lõi và lộ trình triển khai ba giai đoạn, nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu củng cố thể chế, thống nhất dữ liệu và thúc đẩy phối hợp liên ngành, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa nền KTTH toàn diện vào năm 2050.</em></strong></p>Nguyễn Gia Thọ, Nguyễn Anh Tuấn, Phạm Thị Phương Thảo
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV123127Công khai, minh bạch thông tin khoáng sản ở Việt Nam: Thực tiễn và giải pháp
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123535
<p><strong><em>Công khai, minh bạch thông tin hoạt động khai thác khoáng sản là một yêu cầu khách quan của quản trị tài nguyên hiện đại, góp phần phòng, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và thúc đẩy phát triển bền vững trong khai thác khoáng sản. Trong bối cảnh Việt Nam mới ban hành Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công khai, minh bạch trong hoạt động khoáng sản trở thành nhiệm vụ cấp bách nhằm phù hợp với xu hướng “Khai thác khoáng sản phải đi đôi với minh bạch, trách nhiệm và bền vững - Vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và thế hệ tương lai” [12]. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích khung pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật thời gian qua, bài báo đã chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hướng tới quản lý tài nguyên khoáng sản hiệu quả, minh bạch và bền vững theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024 mới ban hành.</em></strong></p>Nguyễn Thị Minh Tâm, Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Văn Cường, Phạm Đức Miinh, Phạm Thị Minh Thủy, Nguyễn Thị Lý, Phạm Thị Phương Thảo
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV128131Đánh giá 30 năm xây dựng và thực hiện pháp luật đất đai về giá đất
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123536
<p><em><strong>Trải qua 30 năm xây dựng và thực hiện pháp luật đất đai (từ Luật Đất đai năm 1993 đến nay), hệ thống quy định về giá đất đã có nhiều thay đổi căn bản, phản ánh sự chuyển biến trong tư duy quản lý kinh tế và yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc xác định, quản lý và điều tiết giá đất vẫn còn tồn tại nhiều bất cập: chênh lệch giữa giá đất Nhà nước quy định và giá thị trường; tình trạng khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng; cũng như hạn chế trong công tác định giá, minh bạch thông tin và cơ chế vận hành thị trường quyền sử dụng đất.</strong></em></p>Dương Xuân Hiện, Bùi Lê Thanh
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV132136Quản trị đất đai bền vững trong bối cảnh thích ứng với EUDR cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123538
<p><strong><em>Quy định chống mất rừng của EU (EUDR) đặt ra yêu cầu cấp thiết về cải thiện quản trị đất đai bền vững tại Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam được xếp vào nhóm "rủi ro thấp", tuy nhiên việc thực thi vẫn gặp thách thức lớn do Hệ thống pháp luật đất đai - lâm nghiệp chồng chéo, dữ liệu phân tán, thiếu bản đồ ranh giới thống nhất (snapshot 2020). Nghiên cứu khẳng định cải cách quản trị đất đai là nền tảng cốt lõi. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất - rừng thống nhất, hoàn thiện khung pháp lý và ứng dụng chuyển đổi số. Thích ứng thành công với EUDR sẽ là động lực để Việt Nam cải cách quản trị đất đai theo hướng minh bạch, số hóa, thúc đẩy sinh kế và xuất khẩu sản phẩm nông - lâm nghiệp bền vững.</em></strong></p>Nguyễn Bá Long, Xuân Thị Thu Thảo, Phạm Thanh Quế, Nguyễn Trọng Cương, Hồ Văn Hóa, Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Bích, Ngô Thị Dinh
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV137142Một số tiêu chí cơ bản để xác định chỉ tiêu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
https://vjol.info.vn/index.php/mt/article/view/123539
<p><strong><em> Việc xác định các chỉ tiêu sử dụng đất (SDĐ) là nội dung cơ bản rất quan trọng trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH,KHSDĐ) mà thông qua đó để thực hiện tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội (KT-XH) như tổ chức không gian lãnh thổ, hệ thống kết cấu hạ tầng, phân bố các điểm dân cư đô thị và nông thôn, phân bổ SDĐ, phát triển các ngành KT-XH. Mặc dù việc xác định các chỉ tiêu SDĐ trong thực tế đã tuân thủ các quy định của pháp luật, dựa trên các căn cứ, yếu tố cần thiết về điều kiện tự nhiên, KT-XH nhưng việc thực hiện chưa có sự thống nhất, chưa dựa trên một hệ thống tiêu chí đầy đủ. Vì vậy, cần phải xây dựng bộ tiêu chí đầy đủ, phù hợp làm căn cứ để xác định chỉ tiêu SDĐ trong công tác QH,KHSDĐ các cấp.</em></strong></p>Bùi Lê Thanh, Lê Gia Chinh, Nguyễn Duy Bình
Bản quyền (c)
2025-11-252025-11-25IV143146