Đặc điểm hình ảnh siêu âm phổi ở bệnh nhân đợt cấp của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Lung ultrasound imaging characteristics in patients with acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một bệnh hô hấp thường gặp, có thể phòng ngừa và điều trị, được đặc trưng bởi tình trạng hạn chế luồng khí thở ra kéo dài, thường tiến triển nặng dần theo thời gian. Theo Chiến lược toàn cầu về Phòng ngừa và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD) 2024, tỷ lệ mắc BPTNMT trên toàn cầu ở nhóm người từ 30-79 tuổi là 10,3%, tương đương là 391,9 triệu người, với số ca tử vong lên đến 3,23 triệu. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc BPTNMT ở nam giới từ 40 tuổi trở lên là 7,1%, nữ giới là 1,9%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh lý mạn tính, tiến triển nặng dần theo thời gian, với các đợt cấp xen kẽ các giai đoạn ổn định. Siêu âm phổi là phương pháp thuận tiện, sẵn có, hạn chế di chuyển vì an toàn, không nhiễm xạ có thể thực hiện ở bệnh nhân nặng để khảo sát nhu mô phổi, thành ngực, những tổn thương phổi tiếp giáp với thành ngực, và ưu thế trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, đông đặc phổi.
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh siêu âm phổi ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Đối tượng và phương pháp NC: Tất cả các bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có thực hiện siêu âm phổi nhập viện điều trị tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương trong thời gian từ tháng 01/2024 đến hết tháng 10/2024.
Kết quả: Nghiên cứu có 81 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có siêu âm phổi. Tuổi trung bình của bệnh nhân: 68±10,2 (40-92); tỉ lệ nam chiếm ưu thế với tỉ lệ 90,12%; Tỉ lệ Nam/Nữ: 9,12:1. Hút thuốc lá (60,49%); Lao phổi cũ (35,8%). Bệnh nhân có mức độ bệnh trung bình (64,2%); mức độ bệnh nặng (35,8%). Đa số bệnh nhân đợt cấp BPTNMT thuộc nhóm E (86,42%). Các dấu hiệu siêu âm phổi lần lượt có tỉ lệ như sau: B lines ≥ 3 (28,4%); Dấu hiệu tên lửa (19,75 %); Hình ảnh đông đặc phổi (18,52%); Mất hình ảnh A lines (14,81%). Dày màng phổi (17,28%); Mất dấu hiệu phổi trượt (14,81%); Tràn dịch màng phổi với dấu hiệu quad 4 cạnh, hình sin (13,58%). Mất A lines, B lines ≥ 3, dấu hiệu tên lửa, hình ảnh đông đặc, tràn dịch màng phổi, mất dấu hiệu phổi trượt chiếm tỉ lệ cao ưu thế ở nhóm bệnh nhân đợt cấp BPTNMT mức độ nặng so với mức độ trung bình và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Kết luận: Siêu âm phổi là phương tiện hữu ích, hỗ trợ chẩn đoán nhanh và phát hiện những dấu hiệu liên quan độ nặng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Abstract
Background: Chronic Obstructive Pulmonary Disease (COPD) is a common, preventable, and treatable disease characterized by persistent airflow limitation that is usually progressive. The Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2024 report), the global prevalence of COPD among people aged 30-79 years was 10.3%, accounting for 391.9 million people, causing 3.23 million deaths. In Viet Nam, COPD cases account for 7.1% of the male population aged 40 and above and 1.9% of females within the said age range. Chronic Obstructive Pulmonary Disease was a chronic, progressive disease that worsens over time, with exacerbations alternating with periods of stability. Lung ultrasound is a convenient, readily available method that minimizes the need for movement due to its safety, the lack of ionization radiation and can be performed on critically ill patients. It is used to to examine lung parenchyma, the chest wall, the lesions of the lung adjacent to the chest wall and particularly advantageous in detecting pleural effusion, pneumothorax, lung consolidation.
Objectives: To describe the lung ultrasound imaging characteristics of acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease.
Subjects and Methods: A descriptive study was conducted on all patients with acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease, utilizing lung ultrasound imaging performed who admitted to Nguyen Tri Phuong Hospital from January 2024 to the end of October 2024.
Results: The study included 81 patients with acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease (AECOPD) performed lung ultrasound. The mean age of patients with AECOPD was 68 ±10,2 years (40-92), and the male-to-female ratio was 9,12:1. Cigarette smoking (60.49%); Old pulmonary tuberculosis (35.8%). The degree of acute exacerbation in Chronic Obstructive Pulmonary Disease, patients had Moderate Exacerbation (64.2%); Severe Exacerbation (35.8%). The majority of patients with acute exacerbation of COPD belonged to group E (86.42%). The B lines ≥ 3 (28.4%); lung rocket (19.75%); alveolar consolidation (18.52%). The lung ultrasound signs was as follows: Erasing A lines (14.81%). Pleural thickening (17.28%); abolished lung sliding sign (14.81%); Pleural effusion with quad sign, sinusoid sign (13.58%). The erasing A lines, B lines ≥ 3, lung rocket, alveolar consolidation, pleural effusion, and abolished lung sliding sign were more prevalent in patients with severe acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease compared to those with moderate disease severity, with this difference being statistically significant (p < 0.05).
Conclusion: Lung ultrasound is useful method that can help the clinician make a rapid diagnosis and detects signs related to the severity of patients with acute exacerbation of chronic obstructive pulmonary disease.
DOI: 10.59715/pntjmp.4.4.5