So sánh hiệu quả điều trị đái tháo đường thai kỳ bằng chế độ dinh dưỡng tiết chế đơn thuần và chế độ dinh dưỡng tiết chế bổ sung tại bệnh viện Hùng Vương
Comparison of the effectiveness of gestational diabetes mellitus treatment using standard dietary restriction versus supplemented dietary restriction at Hung Vuong hospital
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là rối loạn chuyển hóa thường gặp trong thai kỳ [1], có xu hướng gia tăng và gây nhiều ảnh hưởng sức khỏe cho mẹ và thai nhi [3, 7, 8]. Liệu pháp dinh dưỡng là nền tảng trong điều trị đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) [10]. Hiện tại, Bệnh viện Hùng Vương đang áp dụng chế độ dinh dưỡng tiết chế chuẩn cho các thai phụ. Nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung một sản phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp, nghiên cứu này được tiến hành để so sánh chế độ tiết chế chuẩn với chế độ có bổ sung sản phẩm nói trên. [3, 4].
Mục tiêu: So sánh hiệu quả kiểm soát đường huyết và khả năng dung nạp giữa chế độ dinh dưỡng tiết chế đơn thuần và chế độ dinh dưỡng tiết chế bổ sung ở bệnh nhân ĐTĐTK.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu trên 160 thai phụ ĐTĐTK mới chẩn đoán, điều trị nội trú tại BV Hùng Vương từ 02/2023 đến 02/2024. Chia 2 nhóm: tiết chế đơn thuần (n=80) và tiết chế bổ sung (n=80). Theo dõi đường huyết mao mạch 4 lần/ngày trong 7 ngày. Sử dụng Stata để phân tích số liệu.
Kết quả: Tỷ lệ đường huyết ổn định chung là 84,4%. Nhóm tiết chế đơn thuần có tỷ lệ ổn định cao hơn (88,8%) so với nhóm bổ sung (80,0%). Phân tích Kaplan-Meier cho thấy xác suất duy trì ổn định của nhóm bổ sung cao hơn theo thời gian. Nhóm bổ sung có tỷ lệ buồn nôn (37,5% vs 28,8%) và nôn (13,8% vs 8,8%) cao hơn. Tuổi thai là yếu tố dự báo độc lập ảnh hưởng đường huyết ổn định (HR=1,121, p <0,001).
Kết luận: Cả hai chế độ dinh dưỡng đều có hiệu quả kiểm soát đường huyết ở thai phụ ĐTĐTK. CĐTCĐT cho tỷ lệ đường huyết ổn định chung cao hơn. CĐTCBS cung cấp năng lượng liên tục tốt, duy trì xác suất đường huyết ổn định cao hơn trong quá trình theo dõi, tuy nhiên cần lưu ý hơn về khả năng dung nạp. Tuổi thai là yếu tố tiên lượng quan trọng.
Abstract
Introduction: Gestational diabetes mellitus (GDM) is a common metabolic disorder during pregnancy [1], with an increasing trend and significant health impacts on both mother and fetus [3, 7, 8]. Nutritional therapy is the cornerstone of management for gestational diabetes mellitus (GDM) [10]. Hung Vuong Hospital currently applies a standard dietary restriction regimen for pregnant women. To evaluate the effectiveness of supplementing the diet with a low glycemic index (GI) product, this study was conducted to compare the standard dietary restriction with the supplemented regimen [3, 4].
Objective: To compare the effectiveness of glycemic control and tolerability between standard dietary restriction and dietary restriction supplemented with Navie Cerna in GDM patients.
Methods: A prospective cohort study was conducted on 160 newly diagnosed GDM pregnant women undergoing inpatient treatment at Hung Vuong Hospital from February 2023 to February 2024. Patients were divided into two groups: standard dietary restriction (n=80) and supplemented dietary restriction (n=80). Capillary blood glucose was monitored 4 times daily for 7 days. Data were analyzed using Stata.
Results: The overall glycemic stability rate was 84.4%. The standard restriction group had a higher stability rate (88.8%) compared to the supplemented group (80.0%). Kaplan-Meier analysis indicated a higher probability of maintaining stability over time in the supplemented group. The supplemented group experienced higher rates of nausea (37.5% vs 28.8%) and vomiting (13.8% vs 8.8%). Gestational age was an independent predictor affecting glycemic stability (HR=1.121, p<0.001).
Conclusion: Both dietary regimens are effective in glucose management in GDM. The standard dietary restriction provide better glycemic stability, while the supplemented diet offers better initial energy supply and better glycemic stability over time over time, despite slightly higher rates of gastrointestinal symptoms.
DOI: 10.59715/pntjmp.4.4.17