https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/issue/feed Tạp chí Quy hoạch xây dựng 2026-03-11T05:05:49+07:00 Open Journal Systems <p>Tạp chí Quy hoạch xây dựng là cơ quan ngôn luận của ngành Xây dựng về lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị.</p> https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/131811 Chính sách phát triển giao thông vận tải đường sắt tốc độ cao kết nối vùng và mạng lưới đường sắt đô thị tại việt nam 2026-02-09T09:54:26+07:00 Thanh Mai Nguyễn tapchiquyhoach@gmail.com <p>Hệ thống đường sắt tốc độ cao (ĐSTC) đang được nhiều quốc gia đẩy mạnh phát triển như một cấu phần chiến lược trong việc nâng cao năng lực kết nối vùng, tổ chức lại không gian phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Tại Việt Nam, chính sách và hành lang pháp lý liên quan đến phát triển giao thông vận tải đường sắt đã nhấn mạnh đến việc đầu tư xây dựng tuyến <br>ĐSTC trên trục Bắc-Nam cũng như phát triển mạng lưới đường sắt đô thị. Tuy nhiên, quá trình triển khai trong thực tiễn vẫn gặp phải nhiều thách thức, như khó khăn trong huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân; hạn chế về cơ chế ưu đãi đầu tư; bất cập trong tiếp cận quy hoạch tích hợp giữa giao thông và sử dụng đất; cùng với đó là những vấn đề kỹ thuật, công nghệ và phân cấp quản lý chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến tính hiệu quả và khả thi của các dự án.</p> <p><br>Bài viết tập trung phân tích các thách thức thông qua việc rà soát, tổng hợp hệ thống chính sách, văn bản pháp luật và thực tiễn triển khai các dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam và mạng lưới đường sắt đô thị tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra những bàn luận về các giải pháp trong chính sách của Việt Nam nhằm tháo gỡ khó khăn, cũng như đề xuất khuyến nghị <br>nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao tính bền vững trong quá trình đầu tư phát triển hệ thống đường sắt quốc gia hiện đại.</p> 2025-08-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/131802 Phát triển Đường sắt cao tốc và Khu vực ga tại Nhật Bản Góc nhìn chuyên sâu về quy hoạch định hướng Giao thông công cộng tại việt nam 2026-02-09T09:48:05+07:00 Hirosugi Mizutani, sHuicHi isHikawa, naoki toMinaga tapchiquyhoach@gmail.com <p>Việt Nam đang xúc tiến kế hoạch xây dựng hành lang đường sắt cao tốc (ĐSCT) đầu tiên nối liền Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Dù chưa được triển khai, dự án này được kỳ vọng sẽ định hình lại địa lý kinh tế quốc gia bằng cách cải thiện thời gian di chuyển và kết nối đô thị. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nhà ga ĐSCT không chỉ đóng vai trò là nút giao thông mà còn là chất xúc tác cho quá trình chuyển đổi đô thị. Bài viết này phân tích kinh nghiệm sâu rộng của Nhật Bản trong việc phát triển ĐSCT và việc tích hợp các nhà ga với các khu vực đô thị xung quanh, đồng thời đưa ra những phân tích phù hợp với tình hình Việt Nam. Trước hết, bài viết đánh giá tổng quan các mô hình ĐSCT trên toàn cầu và mối quan hệ của chúng với khả năng tiếp cận đô thị, so sánh các phương pháp tiếp cận ở châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản. Sau đó, bài viết phân tích cách Nhật Bản bố trí các ga ĐSCT trong mạng lưới đường sắt hiện có và cách các vị trí này được phát triển thông qua quy hoạch dài hạn, tái phát triển và tái điều chỉnh đất đai. Các nghiên cứu điểm bao gồm Kyoto, Shin-Osaka, Shin-Yokohama, Sapporo và Hashimoto, minh họa cho cả việc tích hợp với các trung tâm đô thị lịch sử và việc tạo ra các trung tâm mới được hỗ trợ bởi khuôn khổ pháp lý hiện đại.</p> <p>Ngoài ra, bài viết còn phác hoạ cơ chế hỗ trợ cho các dự án nhà ga quy mô lớn tại Nhật Bản, chẳng hạn như Luật Tái thiết đô thị, sự đóng góp công về vấn đề mặt bằng và các hướng dẫn về hợp tác công-tư. Vùng siêu đô thị Tokyo được nêu bật như một ví dụ về cấu trúc đa trung tâm, nơi nhiều trung tâm - bao gồm Tokyo, Shinagawa, Shinjuku và Roppongi Toranomon - đã phát triển các chức năng riêng biệt, đồng thời cùng nhau nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố. Dựa trên những kinh nghiệm này, bài viết rút ra những gợi ý đối với Việt Nam. Việc tích hợp một cách cẩn trọng các nhà ga ĐSCT tương lai với các trung tâm hiện hữu, được hỗ trợ bởi các chiến lược sử dụng đất và phối hợp tái phát triển, có thể giúp tối đa hóa giá trị và chức năng lâu dài, đồng thời đưa ra bài học cho phát triển bền vững theo định hướng giao thông công cộng.</p> 2025-08-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133900 Từ đường phố đến giao thông công cộng Đánh giá tiềm năng giao thông công cộng bằng Space Syntax, ứng dụng tại khu vực trung tâm Tp Hồ Chí Minh 2026-03-10T10:03:25+07:00 Hoàng Lê Nam Hải, Hoàng Ngọc Lan tapchiquyhoach@gmail.com <p>TP.HCM, trung tâm kinh tế nhộn nhịp của Việt Nam đang phải vật lộn với những thách thức kép của quá trình đô thị hóa nhanh chóng và hệ thống giao thông công cộng ngày càng căng thẳng. Khi thành phố mở rộng, nhu cầu về các giải pháp giao thông công cộng hiệu quả, dễ tiếp cận và tích hợp tốt trở nên tối quan trọng. Tuy nhiên, trong môi trường thiếu dữ liệu, nơi không có số liệu thống kê chi tiết về lượng người đi xe hoặc các cuộc khảo sát toàn diện, các phương pháp lập kế hoạch giao thông truyền thống thường không hiệu quả. Nghiên cứu này sử dụng cú pháp không gian để phân tích mạng lưới đường phố đô thị của CBD, được lấy từ OpenStreetMap (OSM) để đánh giá tiềm năng giao thông công cộng của thành phố, tập trung vào các tuyến xe buýt và điểm dừng hiện có. Sử dụng Tích hợp toàn cầu để đánh giá khả năng tiếp cận trên toàn thành phố, Tích hợp cục bộ để đo lường kết nối khu phố trong Quận 1 và 3 và lựa chọn để xác định các hành lang di chuyển xuyên suốt cao, nghiên cứu cho thấy cấu hình không gian định hình hiệu quả giao thông công cộng như thế nào. Bằng cách lập bản đồ các số liệu này so với cơ sở hạ tầng xe buýt hiện tại, nghiên cứu xác định các điểm mạnh - chẳng hạn như các tuyến đường được sắp xếp hợp lý dọc theo các đường phố có nhiều lựa chọn - và các khoảng cách, bao gồm các khu vực chưa được phục vụ đầy đủ với mức độ tích hợp cục bộ thấp. Những phát hiện này cung cấp cho các nhà quy hoạch đô thị một khuôn khổ có chi phí thấp, có thể sao chép để tối ưu hóa mạng lưới xe buýt, tăng cường vị trí dừng và cải thiện kết nối trong CBD. Cách tiếp cận này kết nối hình thái đô thị và quy hoạch giao thông, điều chỉnh các giải pháp cho cấu trúc không gian độc đáo của CBD.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133907 QuY hOạCh hỆ ThỐNG ĐƯỜNG SẮT ĐÔ ThỊ GẮN VỚi PhÁT TRiỂN ĐÔ ThỊ ThEO mÔ hÌNh TOD TRONG QUY HOẠCH CHUNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2045, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2065 2026-03-10T10:12:13+07:00 Hữu Hiếu Phạm tapchiquyhoach@gmail.com <p>Hệ thống các tuyến đường sắt đô thị (ĐSĐT) Hà Nội được định hướng trong các quy hoạch trước đây và được điều chỉnh trong các quy hoạch gần đây đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: Quy hoạch thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (QĐ số 1569/QĐ-TTg ngày 14/12/2024); Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 (QĐ số 1668/QĐ-TTg ngày 27/12/2024); Quy <br>hoạch mạng lưới giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (QĐ số 519/QĐ-TTg ngày 31/3/2016); Đề án tổng thể đầu tư xây dựng mạng lưới ĐSĐT Thủ đô và Nghị quyết 188/2025/QH15 <br>của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới ĐSĐT tại thành phố Hà Nội, TP.HCM. Phát triển giao thông công cộng hiện đại là yêu cầu bắt buộc đối với vùng đô <br>thị lớn tập trung như Thủ đô Hà Nội. Để chuyển đổi phương thức sử dụng và phát triển giao thông công cộng hiệu quả, cần có nhiều giải pháp tổng hợp, thực hiện theo lộ trình bài bản, trong đó quy hoạch phát triển hệ thống ĐSĐT gắn kết với mô hình TOD là vô cùng quan trọng và cấp bách.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133917 Lựa chọn phương thức giao thông công cộng vận chuyển khối lượng lớn phù hợp cho các đô thị tại Việt Nam 2026-03-11T03:17:02+07:00 Nguyễn Anh Tuấn, Hoàng Vĩnh Hưng tapchiquyhoach@gmail.com <p>Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ, kéo theo nhu cầu cấp bách về phát triển hạ tầng giao thông nói chung và hệ thống giao thông công cộng nói riêng. Tuy nhiên, việc phát triển giao thông công cộng tại các đô thị lớn như thành phố Hà Nội và TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là về tài chính và tiến độ triển khai các dự án. Hiện tại, cả hai thành phố này đều có kế hoạch tiếp tục phát triển đa dạng các loại hình giao thông công cộng bên cạnh các tuyến đã được đưa vào vận hành, khai thác; tuy nhiên tiến độ thực hiện chậm do khó khăn trong việc huy động nguồn vốn đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng và thủ tục hành chính. Với thực trạng và bối cảnh như vậy, các thành phố cần cân nhắc và lựa chọn phương thức vận tải hành khách công cộng phù hợp để đáp ứng tính khả thi, linh hoạt, qua đó phục vụ nhu cầu di chuyển ngày càng gia tăng tại các đô thị. Ngoài hệ thống đường sắt đô thị thông thường, tàu điện tự động không người lái (NTS-AGT) được đánh giá là giải pháp tiềm năng do chi phí xây dựng thấp hơn so với đường sắt đô thị, thời gian triển khai ngắn, khả năng vận hành linh hoạt phù hợp với điều kiện hạ tầng của các đô thị Việt Nam. Ngoài ra, loại hình này đã được triển khai thành công tại Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Singapore và nhiều quốc gia khác. Bài báo nhấn mạnh việc cần rà soát và điều chỉnh quy hoạch đường sắt đô thị theo hướng tích hợp các loại hình vận tải khác như hệ thống NTS-AGT, đặc biệt là tận dụng các tuyến đường ven sông, ven kênh rạch. Đồng thời, cần đẩy nhanh cải cách thủ tục đầu tư, triển khai mô hình phát triển</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133920 Đánh giá chất lượng không gian đi bộ tại các khu vực xung quanh nhà ga ĐSĐT: nghiên cứu So Sánh và Đề xuất giải pháp cho Việt Nam 2026-03-11T03:30:35+07:00 NguyễN Thị Mai Chi, Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Văn Cường tapchiquyhoach@gmail.com <p>Bài viết nghiên cứu chất lượng không gian đi bộ tại các khu vực phát triển theo định hướng giao thông công cộng (TOD) qua phương pháp phân tích so sánh với kinh nghiệm quốc tế. Lấy tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông làm trường hợp điển hình và đối chiếu với mô hình TOD từ các đô thị châu Á như Nhật Bản, Jakarta, Bangkok, Manila và Mumbai. Kết quả cho thấy chất lượng không gian đi bộ xung quanh nhà ga ĐSĐT ở Hà Nội còn nhiều vấn đề về chất lượng vỉa hè, an toàn giao thông, kết nối đa phương thức và không gian công cộng. Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp: (1) cải thiện hạ tầng vỉa hè; (2) xử lý lấn chiếm và bảo đảm an toàn; (3) tích hợp phương thức giao thông; (4) điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất theo nguyên tắc TOD; và (5) tạo không gian công cộng hấp dẫn</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133921 Từ đường phố đến giao thông công cộng Đánh giá tiềm năng giao thông công cộng bằng Space Syntax, ứng dụng tại khu vực trung tâm TP Hồ Chí Minh 2026-03-11T03:39:49+07:00 Hoàng Lê nam Hải, Hoàng Ngọc Lan tapchiquyhoach@gmail.com <p>TP.HCM, trung tâm kinh tế nhộn nhịp của Việt Nam đang phải vật lộn với những thách thức kép của quá trình đô thị hóa nhanh chóng và hệ thống giao thông công cộng ngày càng căng thẳng. Khi thành phố mở rộng, nhu cầu về các giải pháp giao thông công cộng hiệu quả, dễ tiếp cận và tích hợp tốt trở nên tối quan trọng. Tuy nhiên, trong môi trường thiếu dữ liệu, nơi không có số liệu thống kê chi tiết về lượng người đi xe hoặc các cuộc khảo sát toàn diện, các phương pháp lập kế hoạch giao thông truyền thống thường không hiệu quả. Nghiên cứu này sử dụng cú pháp không gian để phân tích mạng lưới đường phố đô thị của CBD, được lấy từ OpenStreetMap (OSM) để đánh giá tiềm năng giao thông công cộng của thành phố, tập trung vào các tuyến xe buýt và điểm dừng hiện có. Sử dụng Tích hợp toàn cầu để đánh giá khả năng tiếp cận trên toàn thành phố, Tích hợp cục bộ để đo lường kết nối khu phố trong Quận 1 và 3 và lựa chọn để xác định các hành lang di chuyển xuyên suốt cao, nghiên cứu cho thấy cấu hình không gian định hình hiệu quả giao thông công cộng như thế nào. Bằng cách lập bản đồ các số liệu này so với cơ sở hạ tầng xe buýt hiện tại, nghiên cứu xác định các điểm mạnh - chẳng hạn như các tuyến đường được sắp xếp hợp lý dọc theo các đường phố có nhiều lựa chọn - và các khoảng cách, bao gồm các khu vực chưa được phục vụ đầy đủ với mức độ tích hợp cục bộ thấp. Những phát hiện này cung cấp cho các nhà quy hoạch đô thị một khuôn khổ có chi phí thấp, có thể sao chép để tối ưu hóa mạng lưới xe buýt, tăng cường vị trí dừng và cải thiện kết nối trong CBD. Cách tiếp cận này kết nối hình thái đô thị và quy hoạch giao thông, điều chỉnh các giải pháp cho cấu trúc không gian độc đáo của CBD.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133924 Futran: Giải pháp giao thông trên cao khả thi cho thành phố Hồ Chí Minh linh hoạt, hiệu quả và phù hợp với đô thị hiện đại. 2026-03-11T03:49:55+07:00 TS. DaviD Ching; Nguyễn văn vương, Trương nam Thuận tapchiquyhoach@gmail.com <p>Trong bối cảnh giao thông đô thị của TP.HCM ngày càng trở nên quá tải, việc tìm kiếm một giải pháp mới, tiết kiệm, linh hoạt và thân thiện với môi trường là điều cấp thiết. Trong số các đề xuất, hệ thống Futran Elevated Taxi nổi lên như một phương án đầy tiềm năng, có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta tiếp cận giao thông đô thị hiện đại. Futran là một hệ thống vận tải trên cao, nơi các cabin nhỏ - giống như những “chiếc taxi trên không” - được treo dưới một hệ ray lắp đặt ở độ cao khoảng 5 đến 7m so với mặt đất. Mỗi cabin có thể chở từ 4 đến 12, 15 người, vận hành hoàn toàn tự động, không cần người điều khiển. Hệ thống này được vận hành bằng điện, không phát thải khí nhà kính, không gây tiếng ồn lớn, và đặc biệt phù hợp với những đô thị đang phải vật lộn với ô nhiễm không khí và tiếng ồn như TP.HCM.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133928 Giao thông công cộng đô thị - Kinh nghiệm Quốc tế 2026-03-11T03:57:02+07:00 Anh Tuấn Phan tapchiquyhoach@gmail.com <p>Quá trình chuyển dịch trạng thái đô thị phản ánh sự biến đổi, phát triển và chuyển hóa liên tục của các đô thị trước tác động tổng hợp từ những yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường. Quá trình này gây ra những hệ quả trực tiếp và gián tiếp, tác động sâu sắc đến cấu trúc không gian đô thị như tình trạng gia tăng dân số nhanh, mất cân bằng về cơ cấu lao động, sự chuyển đổi về cơ cấu kinh tế, cũng như tạo ra các áp lực lớn về môi trường và cơ sở hạ tầng. Cùng với tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhu cầu sở hữu phương tiện cá nhân của người dân đô thị ngày càng tăng cao. Điều này dẫn đến sự phát triển thiếu đồng bộ giữa quy mô dân số và năng lực đáp ứng của hạ tầng kỹ thuật đô thị, làm phát sinh các vấn đề nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và quá tải hạ tầng giao thông. Trước tình trạng đó, giao thông công cộng đã ra đời như một giải pháp đột phá, đặc biệt đối với các đô thị lớn và siêu đô thị. Sự phát triển của hệ thống giao thông công cộng diễn ra song hành và đồng bộ với sự mở rộng đô thị, thể hiện khả năng thích nghi trước những biến đổi và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng của người dân, hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133940 Thực trạng và nhu cầu về sinh hoạt, nhà ở của công nhân lao động di cư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của nước ta hiện nay 2026-03-11T04:19:33+07:00 Bích Thuận Lê tapchiquyhoach@gmail.com <p>Bài báo phân tích đánh giá về tình trạng nhà ở cho công nhân lao động di cư đang sinh sống thuê trọ tại địa bàn các trung tâm công nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu dân cư tập trung đông công nhân lao động. Đánh giá những hệ quả và vấn đề đặt ra từ điều kiện nhà ở đến tình hình việc làm đời sống của công nhân lao động di cư, an ninh trật tự ở địa bàn dân cư tập trung đông công nhân lao động. Những yếu tố tác động đến điều kiện nhà ở của công nhân lao động di cư, các chính sách Đảng và nhà nước về nhà ở cho công nhân</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133946 Tăng cường tính khả thi của đồ án Quy hoạch xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh 2026-03-11T04:30:19+07:00 Anh Vũ Ngô tapchiquyhoach@gmail.com <p>Công tác quy hoạch xây dựng tại TP.HCM đang đối mặt với thách thức lớn về tính khả thi trong triển khai. Mặc dù tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết đạt mức cao, tuy nhiên thống kê cho thấy trong giai đoạn 2015-2022, tỷ lệ đồ án phải rà soát, điều chỉnh cục bộ chiếm đến 87,5%. Các nguyên nhân chính được xác định bao gồm: (1) Phương pháp lập quy hoạch truyền thống từ trên xuống (top - down) không còn phù hợp với xu thế từ dưới lên (bottom up) hiện nay; (2) Tầm nhìn quy hoạch chưa sát với sự đa dạng và ứng phó linh hoạt với biến động của thị trường; (3) Thiếu kết nối hữu cơ giữa quy hoạch với nguồn lực tài chính và kế hoạch thực hiện. Từ đó, khuyến nghị các nhóm giải pháp mang tính hệ thống, tập trung vào việc đổi mới thể chế, tích hợp yếu tố kinh tế - tài chính vào quy trình lập quy hoạch và ứng dụng các phương pháp luận quy hoạch linh hoạt, thích ứng.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133949 Định hướng phát triển không gian Khu Du lịch quốc gia Mũi Cà Mau hướng đến phát triển bền vững 2026-03-11T04:39:22+07:00 Yến Nhi tapchiquyhoach@gmail.com <p>Sustainable tourism is a growing trend worldwide, contributing to socio-economic development in various localities. However, current tourism development often occurs spontaneously and lacks cohesive planning,m management, and control, leading to negative impacts on the natural environment and indigenous cultures. To effectively harness tourism potential and optimize the use of natural and human resources, appropriate <br>and well-defined development measures and plans are crucial. This paper proposes solutions for effective and sustainable tourism development through spatial development orientation applied to the Mui Ca Mau National Tourist Area. It assesses potential values by identifying and zoning spaces, thereby determining tourism characteristics and functions suitable for each zone. Spatial development orientation plays a vital role in guiding tourism development, enabling the identification of suitable tourism products, efficient resource utilization, controlled development management, and the preservation of natural and cultural values towards sustainable development</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133953 Kết nối vùng - động lực tăng trưởng của đô th di sản Hoa Lư phía Nam vùng Đồng bằng sông Hồng 2026-03-11T04:48:13+07:00 Thị Nhâm Phạm tapchiquyhoach@gmail.com <p>Hoa Lư là biểu tượng lịch sử của đất nước, nơi đặt nền móng đầu tiên cho quốc gia Đại Cồ Việt; là đô thị di sản đặc thù, nơi giao thoa giữa tự nhiên, văn hóa và cư dân bản địa. Hoa Lư đại diện của cấu trúc đô thị truyền thống tích hợp không gian thành luỹ - cư trú với không gian nông nghiệp - tôn giáo - cảnh quan đang hiện hữu và sống động. Vì thế, Hoa Lư mang trong mình tiềm năng trở thành một mô hình phát triển đô thị di sản thế hệ mới.</p> <p>Đô thị Hoa Lư trong bối cảnh vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang chuyển động mạnh mẽ theo hướng đô thị hóa và cạnh tranh không gian tăng trưởng. Nếu không tái định vị sự phát triển, Hoa Lư sẽ đứng ngoài các dòng chảy kinh tế - xã hội (KT-XH) vùng và có nguy cơ trở thành vùng trũng. Bài viết đề xuất tiếp cận “kết nối vùng” như một định hướng chủ đạo, nhằm chuyển hóa không gian Hoa Lư từ một đô thị di sản truyền thống thành cực tăng trưởng mềm vừa gìn giữ bản sắc, vừa lan tỏa năng lực sáng tạo và hội nhập quốc tế.</p> 2025-08-25T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/qhdt/article/view/133954 Quản lý phát triển mô hình nghĩa trang xanh tại các thành phố Việt Nam 2026-03-11T05:02:06+07:00 Nguyễn Thị Thanh Mai, Lại Thị Ngọc Diệp; Cao hoàng Tâm; Phạm Văn Công tapchiquyhoach@gmail.com <p>Với tốc độ đô thị hóa nhanh, quỹ đất ngày càng trở nên khan hiếm đặc biệt là tại các thành phố lớn tại Việt Nam, không gian sống, sinh hoạt và cả không gian dành cho người đã khuất đang tạo áp lực lớn lên việc sử dụng đất tại các đô thị. Nhiều nghĩa trang cũ đang trong tình trạng quá tải, manh mún, thiếu đồng bộ và chưa đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, trong khi việc quy hoạch phát triển và xây mới các nghĩa trang gặp nhiều khó khăn. Trước các thách thức đó, mô hình “nghĩa trang xanh” vốn được áp dụng nhiều tại các quốc gia phát triển, được xem là một giải pháp nhân văn, hiện đại và thân thiện với môi trường. Mô hình không chỉ giải quyết nhu cầu an táng văn minh mà còn góp phần mở rộng diện tích không gian xanh, sinh thái và hướng đến phát triển bền vững. Bài báo đề cập đến khái niệm, xu hướng phát triển và kinh nghiệm thế giới về mô hình nghĩa trang xanh, tổng quan thực trạng và công tác quản lý nghĩa trang ở Việt Nam đối với mô hình nghĩa trang xanh, từ đó đưa ra các khuyến nghị về tăng cường quản lý phát triển mô hình nghĩa trang xanh tại các đô thị ở Việt Nam.</p> Bản quyền (c)