VAI TRÒ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG ĐÁNH GIÁ ĐỘ NẶNG Ở BỆNH NHÂN THUYÊN TẮC PHỔI CẤP

  • Nguyễn Đoàn Duy Quang
  • Đỗ Thị Thu Thảo
  • Trần Thị Mai Thùy
  • Lê Minh Thắng
  • Lê Nguyễn Gia Hy
Từ khóa: Thuyên tắc phổi, chụp cắt lớp vi tính, phân tầng nguy cơ thuyên tắc phổi

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh chụp CLVT của TTP và đánh giá mối liên hệ giữa các đặc điểm hình ảnh chụp CLVT và khả năng tiên đoán độ nặng ở bệnh nhân TTP.

Đối tượng và phương pháp: 112 TH TTP được chia thành hai nhóm TTP nguy cơ cao (TTP NCC) và không nguy cơ cao (TTP KNCC), so sánh điểm PESI, các biến số hình ảnh chụp CLVT.

Kết quả: Nhóm TTP NCC có điểm PESI (175,78±39,94), điểm Qanadli (60,56±21,25), tỷ lệ ĐK TP/TT (2,39±0,80) cao hơn nhóm TTP KNCC với điểm PESI (76,60±25,27), điểm Qanadli (31,75±20,51), tỷ lệ ĐK TP/TT (1,01±0,29), (P < 0,05). Biến số ĐKTP, ĐKTT, bất thường vách liên thất cũng có sự khác biệt giữa hai nhóm (P < 0,05). Các biến số còn lại không có sự khác biệt giữa hai nhóm (P ≥ 0,05). Tỷ lệ ĐK TP/TT tương quan mạnh với điểm Qanadli (r = 0,520) và điểm PESI (r = 0,510), điểm Qanadli tương quan yếu với điểm PESI (r = 0,265). Diện tích dưới đường cong của điểm PESI cao nhất, đạt 0,998 (KTC 95%: 0,992-1,000), điểm cắt là 122,5, tỷ lệ ĐK TP/TT đạt 0,981 (KTC 95%: 0,953-1,000), điểm cắt là 1,339, điểm Qanadli đạt 0,851 (KTC 95%: 0,6881,000), điểm cắt là 51,339. Tỷ lệ ĐK TP/TT là yếu tố dự báo TTP NCC (P < 0,05). Kết luận: Hình ảnh chụp CLVT có giá trị trong phân tầng nguy cơ TTP, cùng với điểm PESI.

điểm /   đánh giá
Chuyên mục
Bài viết