https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/issue/feed Tạp chí Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam 2025-10-21T05:03:51+07:00 Tạp chí Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam tapchidqyhhnvn@gmail.com Open Journal Systems <p><strong>Hội Điện quang và Y học hạt nhân Việt Nam</strong></p> https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119713 ĐỒNG THUẬN CHUYÊN GIA VỀ VAI TRÒ CỦA THUỐC ĐỐI QUANG TỪ ĐẶC HIỆU TẾ BÀO GAN TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN 2025-10-09T10:44:16+07:00 Minh Thông Phạm tapchidqyhhnvn@gmail.com Đăng Lưu Vũ tapchidqyhhnvn@gmail.com Quang Nghĩa Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thanh Dũng Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Trọng Bỉnh Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Thanh Thảo Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Quốc Dũng Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Anh Vũ Phạm tapchidqyhhnvn@gmail.com Công Long Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Tấn Đức Võ tapchidqyhhnvn@gmail.com Văn Khảng Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Lê Lâm Ngô tapchidqyhhnvn@gmail.com Hữu Khuyên Phạm tapchidqyhhnvn@gmail.com Ngọc Tráng Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Minh Trí Ngô tapchidqyhhnvn@gmail.com Phan Tường Anh Mai tapchidqyhhnvn@gmail.com Duy Mai Huyên Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Đăng Khoa Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Trung Thành Đinh tapchidqyhhnvn@gmail.com Quang Huynh Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Duy Dũng Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Quang Lục Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Khắc Vũ Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Cảnh Duy Phan tapchidqyhhnvn@gmail.com Đăng Tân Đỗ tandaihocy@gmail.com <p>Một số đồng thuận của các chuyên gia Hàn quốc và Việt Nam về giá trị của cộng hưởng từ gan mật với thuốc đối quang từ đặc hiệu mô gan trong chẩn đoán, tầm soát ung thư biểu mô tế bào gan cũng như đưa ra các kết luận và khuyến cáo về vấn đề này.</p> 2025-09-30T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119732 ỨNG DỤNG PHÂN LOẠI WSES 2020 TRONG ĐÁNH GIÁ BIẾN CHỨNG VIÊM TÚI THỪA ĐẠI TRÀNG 2025-10-09T10:53:52+07:00 Trọng Bỉnh. Lê letrongbinh@hueuni.edu.vn Thị Kim Thùy Lương tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm cắt lớp vi tính (CLVT) và ứng dụng phân loại theo Hội Phẫu thuật Cấp cứu Thế giới (WSES) 2020 trong đánh giá biến chứng của viêm túi thừa đại tràng (VTTĐT).<br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 70 BN được chẩn đoán và điều trị VTTĐT tại Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 01/2022 – tháng 08/2023. Chẩn đoán VTTĐT dựa vào CLVT hoặc nội soi/phẫu thuật khi hình ảnh CLVT không điển hình. Mô tả các đặc điểm về lâm sàng, xét nghiệm máu, CLVT và phương pháp điều trị, dùng phương pháp hồi quy đa biến để phân tích các yếu tố liên quan đến biến chứng của VTTĐT.<br><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung vị 44 (35-55,3) tuổi, nam/nữ: 2,68/1. 80% VTTĐT phải và 20% VTTĐT trái, 94,3% đa túi thừa ĐT, 100% thâm nhiễm mỡ, 85,7% dày thành đại tràng (ĐT) với 90% là dày dạng chu vi. Bóng khí quanh ĐT 24,3%, dịch quanh ĐT 31,4%, áp xe 11,4%, hơi tự do ổ bụng 5,7%, dịch ổ bụng lan tỏa 8,6%, rò 2,9%. Phân loại theo WSES 2020: VTTĐT không biến chứng (giai đoạn 0) 52,9%. Các biến chứng giai đoạn 1A, 1B, 2A, 2B, 3, 4 lần lượt là 27,1%, 4,3%, 7,1%, 0%, 2,9%, 5,7%. Yếu tố liên quan đến biến chứng của VTTĐT là hút thuốc lá, rối loạn tiêu hóa, phản ứng thành bụng, tăng bạch cầu, tỷ lệ bạch cầu đa nhân<br>trung tính (NEU), protein C phản ứng (CRP) và các đặc điểm trên CLVT gồm mất liên tục thành túi thừa, chiều dài đoạn ĐT dày thành. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy CRP là yếu tố độc lập dự báo biến chứng (tỉ số chênh (OR) 1,016; khoảng tin cậy (KTC) 95% 1,002-1,031; p =0,028). Giá trị ngưỡng CRP là 89,9 mg/L giúp tiên lượng biến chứng của bệnh theo phân loại WSES 2020 với độ nhạy 69,7% và độ đặc hiệu 80,6% (diện tích dưới đường cong (AUC) =0,797, p &lt;0,001).<br><strong>Kết luận:</strong> VTTĐT thường gặp ở ĐT phải; đa túi thừa, thâm nhiễm viêm, dày thành ĐT dạng chu vi là các đặc điểm hay gặp trên CLVT. Đa số BN thuộc giai đoạn 0 và 1A theo WSES 2020. Mức CRP &gt;89,9 mg/L là một yếu tố dự báo biến chứng độc lập. Ở những BN có lâm sàng và siêu âm hướng đến VTTĐT, khi có mức CRP &gt;89,9 mg/L nên được chỉ định chụp cắt lớp vi tính để khảo sát đầy đủ các biến chứng.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119737 ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CỦA 18F-FDG PET/CT TRONG XÁC ĐỊNH TỔN THƯƠNG UNG THƯ VÚ TÁI PHÁT 2025-10-09T11:03:48+07:00 Văn Trung Cao caotrung2909@gmail.com Quang Toàn Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Quang Hiển Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Văn Khải Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Lâm Sơn Phạm tapchidqyhhnvn@gmail.com Văn Thái Phạm tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá giá trị của 18F-FDG PET/CT trong phát hiện tổn thương ung thư vú tái phát sau điều trị triệt căn tại bệnh viện K.<br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 115 bệnh nhân ung thư vú nghi ngờ tái phát trên lâm sàng hoặc các xét nghiệm cận lâm sàng sau điều trị triệt căn ít nhất 6 tháng tại Bệnh viện K từ tháng 11/2021 đến 12/2023. Tất cả các bệnh nhân được chụp 18F-FDG PET/CT để đánh giá.<br><strong>Kết quả:</strong> Độ tuổi trung bình của 115 bệnh nhân nữ trong nghiên cứu là 53,7 ± 10,1. Thể mô bệnh học chiếm chủ yếu là ung thư biểu mô thể ống xâm nhập không đặc hiệu (83,5%), nhóm ER (+) và HER-2 (-) chiếm 43,7%. Khi so sánh và đối kết quả 18F-FDG PET/CT với các phương pháp khác thấy độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính, độ chính xác lần lượt là 91,8%, 93,3%, 90,9%, 92,2% và 92,2% với SUVmax trung bình là 10,4 ± 4,7 và diện tích dưới đường cong ROC đạt 0,92, cho thấy hiệu quả chẩn đoán cao. Ngoài ra, 18F-FDG PET/CT còn phát hiện thêm tổn thương ở 28/56 bệnh nhân chẩn đoán đúng và có giá trị dự báo dương tính cao nhất trong các phương pháp.<br><strong>Kết luận:</strong> Phương pháp 18F-FDG PET/CT có độ chính xác cao trong chẩn đoán ung thư vú tái phát so với phương pháp khác với giá trị SUVmax ở mức dễ phát hiện và có khả năng phát hiện thêm các tổn thương.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119738 KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ VI UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ BẰNG ĐỐT SÓNG CAO TẦN TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI 2025-10-09T11:37:01+07:00 Văn Khảng Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Ngọc Lê Hà hangocle0609@gmail.com Thị Thu Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Khơi Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Tố Ngân Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thanh Thủy Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Kiều Oánh Đoàn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Thu Thảo Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Đăng Lưu Vũ tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả bước đầu điều trị vi ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (PTMC) bằng đốt sóng cao tần (RFA) tại bệnh viện Bạch Mai.<br><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu kết hợp tiến cứu trên tất cả các bệnh nhân thực hiện RFA điều trị PTMC tại bệnh viện Bạch Mai từ ngày 01/10/2022 đến 31/12/2024 và được theo dõi trong ít nhất 6 tháng sau RFA.<br><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu trên 32 bệnh nhân (3 nam và 29 nữ), tuổi trung bình là 44,69 ± 13,42 tuổi (24-75). Thể tích khối u trung bình trước RFA là 0,064±0,079 ml. Theo dõi trung bình trong vòng 16,29±8,04 tháng sau điều trị. Tỷ lệ khối u biến mất hoàn toàn trong nghiên cứu tăng dần theo thời gian: 0% tại 3 tháng, 14,3% tại 6 tháng, 40% tại 12 tháng, 83,9% tại 18 tháng và đạt 100% ở nhóm theo dõi 24 tháng. Chỉ có một trường hợp khàn tiếng thoáng qua (3,1%), không có biến chứng muộn hay tổn thương vĩnh viễn.<br><strong>Kết luận:</strong> RFA là một phương áp xâm lấn tối thiểu, hiệu quả và an toàn cho điều trị PTMC.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119739 ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH DI CĂN PHỔI TRÊN CẮT LỚP VI TÍNH VÀ KẾT QUẢ ĐỐT SÓNG CAO TẦN ĐIỀU TRỊ TẠI CHỖ DI CĂN PHỔI DƯỚI HƯỚNG DẪN CỦA ROBOT MAXIO 2025-10-09T11:49:27+07:00 Gia Khánh Đinh dinhgiakhanhhvqy@gmail.com Ngọc Hạnh Hoàng tapchidqyhhnvn@gmail.com Minh Huệ Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Hoàng Duy Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Duy Hải Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Quang Linh Đinh tapchidqyhhnvn@gmail.com Bá Tú Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh của di căn phổi trên cắt lớp vi tính (CLVT) và đánh giá kết quả điều trị tại chỗ bằng đốt sóng cao tần (RFA) dưới hướng dẫn của robot Maxio.<br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu kết hợp hồi cứu được thực hiện trên 60 bệnh nhân có tổn thương di căn phổi, trong đó 30 bệnh nhân được điều trị bằng RFA dưới hướng dẫn robot Maxio tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2025.<br><strong>Kết quả:</strong> Đa số bệnh nhân có nhiều nốt di căn hơn so với nốt đơn độc. Vị trí thường gặp là thuỳ trên phổi phải và thuỳ dưới của hai phổi. Đường kính trung bình khối u 25 ± 4,5 mm. Hầu hết các tổn thương có dạng nốt đặc (86,7%). 19 bệnh nhân được RFA một lần, 7 bệnh nhân hai lần và 4 bệnh nhân ba lần. Tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 86,7%, khối u hoại tử sau 6 tháng. Một trường hợp ho máu ồ ạt đe dọa tính mạng được ghi nhận<br><strong>Kết luận:</strong> Di căn phổi thường biểu hiện dưới dạng nhiều nốt, nốt đặc, chủ yếu ở thuỳ dưới hai phổi và thuỳ trên phổi phải. RFA dưới hướng dẫn robot Maxio cho kết quả khả quan ban đầu, ít biến chứng.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119740 NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HÓA KHÁNG I - 131 TẠI BỆNH VIỆN K 2025-10-09T11:56:59+07:00 Thế Tân Nguyễn nguyenthetan89bn@gmail.com Thanh Thuỷ Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, kháng điều trị I-131 tại khoa Y học hạt nhân Bệnh viện K.<br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: nghiên cứu mô tả trên 27 bệnh nhân ung thư tuyến giáp biệt hóa kháng điều trị I-131 từ 1/2020 đến 05/2024.<br><strong>Kết quả:</strong> tuổi trung bình bệnh nhân nghiên cứu 50,26 ± 15,5, tỷ lệ nữ/nam là 3/1. Có 19 bệnh nhân (70,4%) thể nhú, 07 bệnh nhân (25,9%) thể nang, 01 bệnh nhân (3,7%) thể nhú - nang. Liều điều trị trung bình đến khi chẩn đoán kháng I-131 là 396,2 ± 156,7mCi. Theo tiêu chuẩn ATA 2015 về kháng I-131, có 14 (51,9%) bệnh nhân thuộc nhóm I (mô ung thư không bắt I-131 trên xạ hình toàn thân trong lần điều trị đầu tiên), 07 bệnh nhân (25,9%) thuộc nhóm II (tổ chức u trước kia bắt giữ I-131 nhưng sau đó mất khả năng bắt I-131 sau một số lần điều trị), 05 BN (18,5%) thuộc nhóm III (một số tổn thương bắt I-131 còn một số tổn thương không bắt I-131), 01 bệnh nhân (3,7%) thuộc nhóm IV (các tổn thương tiến triển dù có bắt I-131). Có 04 (14,8%) bệnh nhân được phẫu thuật tổn thương di căn, 09 (33,3%) bệnh nhân điều trị tiếp với I-131, 10 (37%) bệnh nhân không điều trị, tiếp tục theo dõi và ức chế TSH, còn lại 02 (7,4%) bệnh nhân được xạ trị ngoài và điều trị với Levatinib. Có 06 (22,2%) bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn sau điều trị, 07 (25,9%) bệnh nhân đáp ứng không hoàn toàn về sinh hoá, 03 (11,1%) bệnh nhân đáp ứng không rõ ràng, 11 (40,7%) bệnh nhân đáp ứng không hoàn toàn về cấu trúc.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/119751 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP NÚT MẠCH HÓA CHẤT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TẠI BỆNH VIỆN E 2025-10-10T05:11:08+07:00 Kiều Huyền Trang Phạm phamtrang.1212194@gmail.com Minh Châu Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Hữu Chung Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Ngọc Quân Hồ tapchidqyhhnvn@gmail.com Văn Sơn Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tính an toàn và hiệu quả ban đầu của nút mạch hóa chất trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) và một số yếu tố liên quan.<br><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang trên 41 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan và được điều trị bằng phương pháp nút hóa chất động mạch gan, theo dõi các kết quả lâm sàng và cận lâm sàng sau can thiệp tại khoa Chẩn đoán hình ảnh – Bệnh viện E trong khoảng thời gian 4/2024 đến 5/2025.<br><strong>Kết quả:</strong> độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 63,05 ± 10,2 tuổi; trong đó có 39 bệnh nhân là nam giới (95%). Hầu hết bệnh nhân có chức năng gan còn bảo tồn (Child-Pugh A với 40 bệnh nhân [97,5%]). Về tính an toàn: nồng độ AST/ALT cao nhất sau điều trị 1 tuần là 237,2 ± 390,3 UI/L và 259,3 ± 415,1 UI/L đối với DEB-TACE so với 180 ± 259,5 UI/L và 162,6 ± 206,5 UI/L đối với cTACE (p &gt;0,05). Đau bụng là triệu chứng thường gặp nhất sau can thiệp, cao hơn ở nhóm DEB-TACE với khối u nhỏ hơn 5 cm là 57,1% so với 33,3% ở nhóm cTACE. Về hiệu quả điều trị, tỉ lệ kiểm soát khối u sau 1 tháng tốt ở cả hai nhóm DEB-TACE và cTACE (92% và 100%). Với khối u có đường kính dưới 5 cm, tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) ở nhóm cTACE tốt hơn là 100%. Với khối u có đường kính trên 5cm, tỷ lệ đáp ứng tổng thể (ORR) ở nhóm DEB-TACE (76,5%) cao hơn so với cTACE (40%). Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy với u giai đoạn muộn BCLC C, tỷ lệ đáp ứng tổng thể (ORR) ở nhóm DEB-TACE tốt hơn với 83,3%.<br><strong>Kết luận:</strong> cả hai phương pháp DEB-TACE và cTACE đều có hiệu quả ban đầu và tính an toàn tốt trong điều trị HCC không còn chỉ định phẫu thuật. Với nhóm bệnh nhân có kích thước u lớn và giai đoạn muộn (BCLC C) DEB TACE cho thấy có tính hiệu quả tốt hơn. Trong khi nhóm bệnh nhân có kích thước u nhỏ, cTACE là lựa chọn tối ưu với tỉ lệ kiểm soát bệnh tốt hơn và tác dụng phụ thấp hơn, đặc biệt là khi thực hiện bằng phương pháp nút mạch siêu chọn lọc.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120385 GIÁ TRỊ CỦA HỆ SỐ KHUẾCH TÁN BIỂU KIẾN (ADC) TRONG XÁC ĐỊNH ĐIỂM GLEASON UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT 2025-10-20T12:27:35+07:00 Thúy Nga Nguyễn nganguyen2116@gmail.com Văn Sơn Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Minh Châu Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tương quan và giá trị của hệ số khuếch tán biểu kiến (ADC) trong xác định điểm Gleason ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL).<br><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: từ tháng 1 năm 2023 đến tháng 12 năm 2024, 39 bệnh nhân được chẩn đoán và có kết quả mô bệnh học là UTTTL, đã được chụp cộng hưởng từ tuyến tiền liệt trước đó. Chúng tôi đánh giá tương quan giữa giá trị ADC tại tổn thương với điểm Gleason bằng hệ số tương quan Spearman’s, sau đó so sánh giá trị ADC giữa hai nhóm UTTTL không có ý nghĩa lâm sàng (Gleason =6) và có ý nghĩa lâm sàng (Gleason &gt;6) bằng kiểm định Mann-Whitney U test. Đường cong ROC được sử dụng để tìm giá trị ADC trong phân biệt UTTTL có và không có ý nghĩa lâm sàng.<br><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình bệnh nhân là 75,8 ± 7,3 tuổi. Thể tích trung bình tuyến là 48,4 ± 25,4 gram. 62% UTTTL xuất phát từ vùng ngoại vi, 38% xuất phát từ vùng tuyến trung tâm. 7,7% bệnh nhân có điểm Gleason =6, 92,3% bệnh nhân có điểm Gleason &gt;6. Giá trị ADC tại tổn thương có tương quan nghịch mạnh với điểm Gleason, với hệ số tương quan Spearman’s = -0,619 (p=0,000). Giá trị ADC trung bình của nhóm Gleason =6 là 1194,33 ± 41,9 s/mm2, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm Gleason &gt;6 là 802,3 ± 115,4 s/mm2 (p&lt;0,05). Phân tích đường cong ROC cho thấy với ngưỡng giá trị ADC là 1093,5 s/mm2, cộng hưởng từ khuếch tán có khả năng phân biệt UTTTL không có ý nghĩa lâm sàng và có ý nghĩa lâm sàng, với độ nhạy 100% ([CI] 56,5 – 100%), độ đặc hiệu 97,2% ([CI] 85,7 – 99,4%).<br><strong>Kết luận:</strong> Giá trị ADC có mối tương quan đáng kể với điểm Gleason và có khả năng dự đoán UTTTL có và không có ý nghĩa lâm sàng.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120387 GIÁ TRỊ CỦA CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH TRONG CHẨN ĐOÁN XOẮN PHẦN PHỤ 2025-10-20T12:36:28+07:00 Hồ Vũ Khôi Nguyễn khoi.nhv@umc.edu.vn Thái Duy Đoàn tapchidqyhhnvn@gmail.com Tấn Đức Võ tapchidqyhhnvn@gmail.com Phượng Hải Huỳnh tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu</strong>: Xác định giá trị của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) trong chẩn đoán xoắn phần phụ.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu hồi cứu, bệnh chứng gồm 110 trường hợp phẫu thuật có liên quan đến phần phụ, trong đó 55 trường hợp được xác định có xoắn phần phụ. Các hình ảnh trên chụp cắt lớp vi tính được ghi nhận và đưa vào phân tích bằng phép kiểm Chi bình phương, sử dụng đường cong ROC (Receiver Operating Characteristic) và phân tích hồi quy logistic đa biến để xác định giá trị và đưa ra mô hình chẩn đoán xoắn phần phụ.<br><strong>Kết quả:</strong> Xoắn phần phụ tập trung trong nhóm tuổi dưới 50 tuổi, bên phải thường gặp hơn. Kết quả mô bệnh học ác tính chiếm khoảng 8,9%. Các đặc điểm liên quan đến xoắn phần phụ bao gồm: dày thành nang lệch tâm, dấu hiệu cuộn xoáy, dấu hiệu khối, dấu hiệu rốn, dấu hiệu liềm, xuất huyết, tử cung lệch và mô không bắt thuốc (p &lt; 0,05). Dấu hiệu cuộn xoáy có độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương cao nhất trong chẩn đoán xoắn phần phụ (tương ứng 96,4% và 93,6%). Mô hình chẩn đoán xoắn phần phụ dựa trên bốn đặc điểm gồm dấu hiệu cuộn xoáy, dấu hiệu khối, mô không bắt thuốc và dấu hiệu rốn có giá trị tốt với diện tích dưới đường cong AUC = 0,88 với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 83,6% và 89,3%.<br><strong>Kết luận:</strong> CLVT là phương tiện hình ảnh học có giá trị tốt trong chẩn đoán xoắn phần phụ. Mô hình chẩn đoán dựa trên bốn đặc điểm gồm dấu hiệu cuộn xoáy, dấu hiệu khối, mô không bắt thuốc và dấu hiệu rốn giúp ích trong chẩn đoán bệnh.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120390 BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÍNH AN TOÀN CỦA PHƯƠNG PHÁP HUỶ U GAN BẰNG NHIỆT CÓ HỖ TRỢ DỊCH Ổ BỤNG NHÂN TẠO TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN Ở VỊ TRÍ NGUY CƠ 2025-10-20T12:47:47+07:00 Tấn Tài. Nguyễn tainguyen1906@gmail.com Trần Kính Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Đình Hoàng Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Đình Luân Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là một trong những ung thư thường gặp. Huỷ u bằng nhiệt là phương pháp điều trị triệt để hiệu quả, nhưng với các khối u ở vị trí khó (bị phổi, xương sườn che khuất hoặc gần cơ hoành, ống tiêu hoá), thủ thuật dưới hướng dẫn siêu âm gặp nhiều hạn chế và nguy cơ gây tổn thương nhiệt cho cơ quan lân cận. Kỹ thuật tạo dịch tự do ổ bụng được xem là một giải pháp đơn giản, an toàn và hiệu quả giúp bảo vệ cơ quan lân cận. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả, độ an toàn, tỉ lệ tái phát tại chỗ và kết cục lâm sàng của kỹ thuật trên trong điều trị UTBMTBG.<br><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> hồi cứu loạt ca được chẩn đoán UTBMTBG ở vị trí nguy cơ được điều trị bằng huỷ u bằng nhiệt có hỗ trợ tạo dịch tự do ổ bụng từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2025.<br><strong>Kết quả:</strong> Trong tổng số 12 trường hợp UTBMTBG được huỷ u bằng nhiệt: tuổi trung bình là 66,5 ± 9,07, tỉ lệ nam/nữ là 2/1. Có 7 trường hợp được huỷ u bằng vi sóng và 5 trường hợp bằng sóng cao tần, với khoảng cách trung bình đến các cơ quan trọng yếu là 4,25 ± 2,73 (mm). Tỉ lệ thành công của kỹ thuật tạo dịch tự do ổ bụng qua angiosheath là 100%, với lượng dịch trung bình bơm vào khoang phúc mạc là 1054,2 ± 423,97 (ml). Không có trường hợp nào gặp biến chứng nặng sau thủ thuật.<br><strong>Kết luận:</strong> Huỷ u gan bằng nhiệt có hỗ trợ tạo dịch tự do ổ bụng là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị UTBMTBG ở vị trí nguy cơ.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120399 SO SÁNH THỂ TÍCH NHĨ TRÁI, TIỂU NHĨ TRÁI VÀ MÔ MỠ MÀNG NGOÀI TIM Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ KỊCH PHÁT VÀ RUNG NHĨ DAI DẲNG 2025-10-21T04:42:57+07:00 Thị Thảo Nguyễn ngthaohmu@gmail.com Ngọc Tráng Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Lan Anh Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Huyền Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Vân Hoa Hoàng tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Thùy Liên Lê tapchidqyhhnvn@gmail.com Bảo Ngọc Phùng tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Lý Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Quỳnh Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Khôi Việt Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Phương Thảo Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Hồng Hải Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com Đăng Lưu Vũ tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá sự khác biệt về thể tích nhĩ trái (LAV), tiểu nhĩ trái (LAAV) và mô mỡ màng ngoài tim (EFV) giữa bệnh nhân rung nhĩ kịch phát (PAF) và dai dẳng (PersAF), đồng thời phân tích mối liên quan giữa các yếu tố này với tiến triển bệnh.<br><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 58 bệnh nhân rung nhĩ trước đốt sóng cao tần, được chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy tim ở bệnh viện Bạch Mai trong thời gian từ 01/2024 đến 05/2025. Chúng tôi khảo sát thể tích nhĩ trái, tiểu nhĩ trái, mô mỡ màng ngoài tim trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy bằng phần mềm Syngo.via.<br><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu tiến hành trên 58 bệnh nhân rung nhĩ (72,4% kịch phát, 27,6% dai dẳng) với tuổi trung bình 60,5 ± 9,2 tuổi cho thấy sự khác biệt đáng kể về các thông số giải phẫu tim. Nhóm rung nhĩ dai dẳng (PersAF) có thể tích nhĩ trái (LAV) lớn hơn đáng kể (126,6 ± 51,0 ml so với 83,4 ± 19,6 ml, p &lt; 0,001) và thể tích tiểu nhĩ trái (LAAV) cao hơn (18,3 ± 9,7 ml so với 12,7 ± 6,2 ml, p = 0,004) so với nhóm kịch phát (PAF). Phân tích hồi quy đa biến sau hiệu chỉnh các yếu tố nhiễu xác nhận PersAF làm tăng LAV thêm 22,5 ml (95%CI 13,1-31,9, p &lt; 0,001) và LAAV thêm 4,25 ml (95%CI 0,16-8,34, p = 0,041). Đáng chú ý, mặc dù<br>có sự khác biệt ban đầu về thể tích mỡ màng ngoài tim (EFV) và mỡ quanh nhĩ trái (LA-EFV) giữa hai nhóm (p &lt; 0,05), nhưng sau hiệu chỉnh yếu tố nhiễu, sự khác biệt này không còn ý nghĩa thống kê (EFV: β = 6,3, p = 0,166; LA-EFV: β = 2,4, p = 0,093). Các yếu tố độc lập liên quan đến gia tăng EFV và LA-EFV bao gồm giới tính nam, BMI cao và tăng huyết áp (p &lt; 0,05). Kết quả này cung cấp bằng chứng về sự tái cấu trúc tim ở bệnh nhân rung nhĩ dai dẳng, đồng thời gợi ý cơ chế bệnh sinh phức tạp liên quan đến các yếu tố giải phẫu và chuyển hóa.<br><strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu xác nhận sự khác biệt rõ rệt về thể tích nhĩ trái và tiểu nhĩ trái giữa hai nhóm rung nhĩ kịch phát và dai dẳng, tuy nhiên mối liên quan giữa mô mỡ màng ngoài tim với thể bệnh rung nhĩ vẫn chưa thực sự rõ ràng, cần được làm sáng tỏ bằng các nghiên cứu chuyên sâu hơn.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120404 QUẢN LÝ TỔN THƯƠNG NGẤM THUỐC KHÔNG TẠO KHỐI TRÊN CHT TUYẾN VÚ: THÁCH THỨC CHẨN ĐOÁN VÀ CHIẾN LƯỢC LÂM SÀNG 2025-10-21T04:54:10+07:00 Thu Hương Nguyễn sundayntxq@gmail.com Thị Phương Thảo Bùi tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Huệ Trần tapchidqyhhnvn@gmail.com Thị Ngọc Anh Đặng tapchidqyhhnvn@gmail.com <p>Tổn thương ngấm thuốc không tạo khối (Non-Mass Enhancement - NME) trên cộng hưởng từ (CHT) tuyến vú là tổn thương khó chẩn đoán, dễ nhầm lẫn với ngấm thuốc mô nền và các biến đổi sinh lý. Bài báo cáo chuyên đề này nhằm mục đích tổng quan khái niệm, đặc điểm hình ảnh và những thách thức trong chẩn đoán NME theo BI-RADS, đồng thời phân tích các chiến lược quản lý lâm sàng dựa trên đối chiếu đa phương tiện và kết quả giải phẫu bệnh. Nguồn tài liệu được tổng hợp từ hướng dẫn Hệ thống báo cáo và dữ liệu hình ảnh tuyến vú của Hiệp hội điện quang Hoa Kỳ, phiên bản lần thứ 5 (ACR BI-RADS 2013), các nghiên cứu quốc tế gần đây, và một số&nbsp; ca lâm sàng minh họa tại cơ sở thực hành. Qua đó, bài viết làm rõ vai trò của phân loại nguy cơ (BI-RADS 3, 4a, 4b), các chỉ định sinh thiết dưới CHT hay thay thế bằng siêu âm, X-quang vú, cũng như giá trị của theo dõi ngắn hạn trong giảm sinh thiết không cần thiết. Triển vọng nghiên cứu tập trung vào việc hoàn thiện tiêu chí phân độ cho NME và chuẩn hóa quy trình sinh thiết dưới hướng dẫn CHT. Kết luận, quản lý NME cần tiếp cận toàn diện, cân nhắc bối cảnh lâm sàng và yếu tố nguy cơ cá nhân để tối ưu hóa hiệu quả chẩn đoán và điều trị.</p> Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchoidienquangvayhochatnhan/article/view/120408 UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ BIỆT HOÁ KHÁNG IOD PHÓNG XẠ, DI CĂN NÃO: BÁO CÁO CA LÂM SÀNG 2025-10-21T05:01:55+07:00 Lê Thanh Hải Nguyễn drthanhhai261@gmail.com Thị Trà My Huỳnh tapchidqyhhnvn@gmail.com Văn Hoá Nguyễn tapchidqyhhnvn@gmail.com <p><strong>Tổng quan:</strong> Ung thư tuyến giáp thể biệt hoá được điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật và kết hợp với iod phóng xạ, bệnh có tiên lượng tốt. Những trường hợp bệnh di căn xa thường có tiên lượng kém hơn và có nguy cơ kháng iod phóng xạ. Ung thư tuyến giáp thể biệt hoá kháng iod phóng xạ, tiến triển di căn não rất ít gặp và có tiên lượng xấu, đòi hỏi tiếp cận đa mô thức trong điều trị. Báo cáo này mô tả một trường hợp lâm sàng điển hình, nhấn mạnh các chiến lược chẩn đoán và điều trị.<br><strong>Ca lâm sàng:</strong> Bệnh nhân nữ 65 tuổi, được chẩn đoán ung thư tuyến giáp thể nhú đã được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp và điều trị iod phóng xạ 4 đợt cho tình trạng di căn phổi, xương sườn 7 bên trái với tổng liều 600 mCi. Bệnh nhân được chẩn đoán kháng iod phóng xạ và phát hiện tổn thương tái phát tại chỗ, tiến triển di căn não trong quá trình theo dõi. Bệnh nhân được điều trị toàn thân với Lenvatinib và xạ trị toàn bộ não.<br><strong>Kết quả:</strong> Sau 1 năm điều trị, bệnh nhân có tổn thương não giảm kích thước, nồng độ Thyroglobulin giảm dần, lâm sàng ổn định.<br><strong>Kết luận</strong>: Ung thư tuyến giáp thể biệt hoá kháng iod phóng xạ di căn não thường rất ít gặp, bệnh có tiên lượng xấu, điều trị toàn thân và kết hợp với các mô thức điều trị tại chỗ giúp kiểm soát bệnh bệnh.</p> Bản quyền (c)