https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/issue/feedTạp chí Khoa học Phát triển nhân lực2025-08-29T10:14:03+07:00Ngô Thị Thanh Tiêntapchi@hcmca.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh</strong></p>https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118444Phản bác các luận điệu xuyên tạc đường lối ngoại giao Việt Nam trên cơ sở triết lý ngoại giao “cây tre Việt Nam”2025-08-29T06:30:34+07:00Pham Thi Van tapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Ngoại giao “Cây tre Việt Nam” với triết lý cốt lõi “gốc vững, thân chắc, cành uyển<br>chuyển” đã trở thành biểu tượng cho đường lối ngoại giao toàn diện, hiện đại và bản<br>lĩnh của Việt Nam trong thời kỳ mới. Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương<br>hóa, đa dạng hóa, vì hòa bình, hợp tác và phát triển đã góp phần củng cố vị thế quốc tế,<br>bảo đảm môi trường hoà bình, phục vụ phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân<br>dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới phức tạp, nhiều luận điệu xuyên tạc đã<br>cố tình bóp méo bản chất chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước, coi đó là sự “đu<br>dây”, “thiếu nhất quán”, “thụ động” hay “lập trường mơ hồ”. Trước thực tế này, việc<br>tiếp tục khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của đường lối ngoại giao Việt Nam, đồng<br>thời nhận diện, phản bác các luận điểm sai trái, thù địch, là yêu cầu cấp bách nhằm bảo<br>vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, định hướng dư luận xã hội và giữ vững ổn định chính<br>trị - đối ngoại trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118451Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi số trong quản lý vận hành nhà chung cư tại Thành phố Hồ Chí Minh: tiếp cận theo mô hình UTAUT và TOE2025-08-29T09:21:08+07:00VÕ THANH TUYỀNtapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi số trong<br>quản lý vận hành nhà chung cư tại thành phố Hồ Chí Minh được tiếp cận theo mô hình<br>Thống nhất về Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (UTAUT) và Mô hình Công nghệ - Tổ<br>chức - Môi trường (TOE). Dữ liệu được thu thập từ 205 nhân sự quản lý chung cư bằng<br>khảo sát bảng hỏi và 15 cuộc phỏng vấn sâu. Kết quả phân tích PLS-SEM cho thấy các<br>yếu tố như sự hỗ trợ từ lãnh đạo, chính sách nhà nước, sự hỗ trợ đối tác và mối quan tâm<br>cá nhân có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến ý định chuyển đổi số. Ngược lại, kỳ vọng hiệu<br>suất và tính quan sát được lại cho kết quả tiêu cực, phản ánh sự lo ngại thực tế so với<br>kỳ vọng lý thuyết. Nghiên cứu cũng khẳng định tính phù hợp của mô hình UTAUT-TOE<br>trong bối cảnh địa phương, đồng thời đề xuất các hàm ý chính sách thúc đẩy chuyển đổi<br>số hiệu quả hơn trong quản lý nhà ở đô thị.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118452Phát triển nguồn nhân lực sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế tri thức2025-08-29T09:28:47+07:00Nguyen Thi Toan Thangtapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức ngày càng phát triển, nguồn nhân lực sáng tạo giữ<br>vai trò then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền<br>vững, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Bài viết nhằm làm rõ vai<br>trò của nguồn nhân lực sáng tạo, phân tích các thách thức trong phát triển lực lượng này,<br>đồng thời đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Thông qua<br>phương pháp tổng hợp tài liệu và phân tích so sánh điển hình từ Singapore, Hàn Quốc<br>và Việt Nam, nghiên cứu chỉ ra rằng kỹ năng số, tư duy hệ thống, khả năng học tập suốt<br>đời và đổi mới là những năng lực cốt lõi cần được ưu tiên phát triển. Dù Việt Nam đã có<br>các chính sách hỗ trợ như Đề án 844 hay các mô hình hợp tác giáo dục - doanh nghiệp,<br>song vẫn tồn tại khoảng cách giữa giáo dục và thực tiễn, cùng với môi trường sáng tạo<br>còn hạn chế. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp gồm: đổi mới giáo dục theo hướng tích<br>hợp STEM/STEAM, xây dựng văn hóa đổi mới trong doanh nghiệp, tăng cường điều phối<br>chính sách của nhà nước và ứng dụng công nghệ hiện đại trong đào tạo, nhằm phát triển<br>hiệu quả nguồn nhân lực sáng tạo đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118453Tác động của các yếu tố đến quyết định lựa chọn điểm đến Cù lao Tân Triều2025-08-29T09:34:32+07:00Cao Do Quyen, Vo Thi Ngoc Thuytapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này nhằm xác định và đo lường các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn<br>điểm đến Cù lao Tân Triều, tỉnh Đồng Nai của khách du lịch nội địa, qua đó đề xuất các<br>hàm ý quản trị phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch mới. Phương pháp nghiên cứu hỗn<br>hợp được áp dụng, bao gồm nghiên cứu định tính (thảo luận nhóm chuyên gia) và nghiên<br>cứu định lượng (khảo sát 389 du khách nội địa) để kiểm định mô hình. Dữ liệu được phân<br>tích bằng phần mềm SPSS 25 thông qua các kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy<br>Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính bội.<br>Kết quả cho thấy các yếu tố có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn điểm đến, bao<br>gồm: “thông tin điểm đến”, “điểm đến an toàn”, “động lực đi du lịch”, “giá cả dịch vụ<br>hợp lý”, “cơ sở hạ tầng”, “hoạt động vui chơi, giải trí” và “hình ảnh điểm đến”. Trong<br>đó, “thông tin điểm đến” và “điểm đến an toàn” là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.<br>Dựa trên kết quả này, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách tập trung vào việc xây dựng<br>chiến lược thông tin đa kênh, củng cố nền tảng an toàn, nâng cao giá trị trải nghiệm toàn<br>diện và kết nối với chiến lược phát triển chung của tỉnh Đồng Nai.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118454Vận dụng tư tưởng giáo dục của Ph.Ăngghen đối với giáo dục Việt Nam hiện nay 2025-08-29T09:42:17+07:00Le Thi Kim Huetapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Từ quan điểm coi giáo dục là công cụ giải phóng con người, phải gắn liền với lao<br>động, lý luận và thực tiễn, hướng đến sự phát triển toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức,<br>thể chất và năng lực sáng tạo, bài viết phân tích giá trị lịch sử của tư tưởng giáo dục<br>Ăngghen đối với sự hình thành và phát triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là<br>tại Việt Nam dưới sự kế thừa và vận dụng sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng<br>Cộng sản. Đồng thời, bài viết làm rõ ý nghĩa ứng dụng sâu sắc của tư tưởng này đối với<br>giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, thể hiện qua các định hướng như: phát triển<br>con người toàn diện, giáo dục gắn với thực tiễn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo<br>dục và thúc đẩy học tập suốt đời trong xã hội học tập hiện đại.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118455Thực trạng sinh kế của hộ gia đình dân tộc thiểu số trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Thanh Hóa2025-08-29T09:57:56+07:00Nguyen Thi Duyentapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Bài viết phân tích thực trạng sinh kế của các hộ gia đình dân tộc thiểu số (DTTS) tại<br>khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa dưới tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH). Bằng<br>cách áp dụng Khung phân tích Sinh kế bền vững, bài viết hệ thống hóa và làm rõ các<br>khía cạnh cốt lõi của sinh kế gồm: đặc điểm các loại vốn sinh kế (tự nhiên, con người,<br>vật chất, tài chính, xã hội), các tác động của BĐKH, năng lực thích ứng hiện có và hiệu<br>quả của các chính sách hỗ trợ. Phân tích dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp cho thấy sinh<br>kế của cộng đồng DTTS, vốn phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên, đang đối mặt với<br>nhiều thách thức nghiêm trọng như suy thoái đất, thiếu nước và năng suất nông nghiệp<br>sụt giảm. Hộ gia đình DTTS đã có những chiến lược thích ứng tự phát, năng lực ứng<br>phó của họ vẫn còn hạn chế do các rào cản về vốn, kiến thức và tiếp cận thông tin. Song<br>nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế trong các chính sách hỗ trợ hiện hành và đề xuất<br>các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm đa dạng hóa sinh kế, nâng cao năng lực thích ứng cho<br>cộng đồng và hoàn thiện cơ chế chính sách, hướng tới mục tiêu phát triển sinh kế bền<br>vững cho đồng bào DTTS trong bối cảnh mới.</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118456Việc làm và tiền lương của người lao động tỉnh Đồng Nai nhìn từ Khung Chương trình Quốc gia về Việc làm thỏa đáng2025-08-29T10:00:44+07:00Nguyen Thi Minh Chautapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Tạo ra việc làm tốt hơn, có thu nhập cao hơn, tiền lương thỏa đáng đáp ứng mức sống<br>tối thiểu cho bản thân và hộ gia đình là những mục tiêu của Chương trình Quốc gia về<br>Việc làm thỏa đáng giai đoạn 2022 - 2026 của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác giữa<br>Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Việt Nam. Dựa vào nguồn dữ liệu của cuộc khảo sát<br>mức sống dân cư năm 2023 của Tổng cục Thống kê, bài viết nêu lên tình hình lao động,<br>việc làm của người lao động tại tỉnh Đồng Nai và tập trung phân tích tiền lương, tiền<br>công của nhóm người làm công ăn lương tỉnh Đồng Nai; và một số vấn đề đặt ra đảm<br>bảo tiền lương thỏa đáng cho người lao động. Kết quả nghiên cứu dự kiến hỗ trợ cho các<br>nhà quản lý, tư vấn chính sách cấp tỉnh quan tâm đến việc đảm bảo tiền lương đủ sống,<br>tiền lương thoả đáng cho tất cả mọi người lao động, đặc biệt là nhóm người làm công<br>hưởng lương, góp phần thúc đẩy đạt được mục tiêu Chương trình Quốc gia về Việc làm<br>thoả đáng</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118457Nhận thức của cộng đồng dân cư thị trấn Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) về quản lý chất thải rắn sinh hoạt2025-08-29T10:09:03+07:00Dang Thi Cam Van, Nguyen Minh Nhuttapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Bài viết tập trung đánh giá thực trạng nhận thức của cộng đồng dân cư thị trấn Bến<br>Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (cũ) về quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH).<br>Thông qua phương pháp định tính với phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng liên quan và<br>phân tích tài liệu thứ cấp, nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn người dân có nhận thức<br>cơ bản về phân loại rác nhưng hành vi thực tế còn chưa đồng bộ. Các rào cản chính bao<br>gồm thiếu cơ sở vật chất, hệ thống thu gom chưa phù hợp, thói quen sinh hoạt và thiếu<br>chính sách hỗ trợ cụ thể. Nghiên cứu áp dụng Lý thuyết nhận thức xã hội để lý giải mối<br>liên hệ giữa nhận thức, hành vi và môi trường xã hội trong vấn đề quản lý CTRSH, đồng<br>thời đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện nhận thức và hành vi như tăng cường tuyên<br>truyền, hướng dẫn cụ thể tại cộng đồng, xây dựng mô hình thí điểm phân loại rác tại<br>nguồn, đồng bộ hệ thống thu gom và áp dụng các chính sách khuyến khích - chế tài phù<br>hợp. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo trong xây dựng chính sách và chương trình<br>truyền thông môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn tại địa phương</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tchvcanbotpHCM-vjol/article/view/118458Tác động thời tiết và môi trường ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản của ngư dân huyện Cần Giờ (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh2025-08-29T10:12:56+07:00Nguyen Tan Dantapchi@hcmca.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Bài viết tập trung phân tích tác động của yếu tố thời tiết và môi trường đến hoạt động<br>khai thác thủy sản của ngư dân tại huyện Cần Giờ (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Bài<br>viết sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua bảng hỏi đối với 200 hộ gia đình<br>đang tham gia khai thác, đánh bắt thủy sản tại hai xã Thạnh An, Long Hòa và thị trấn<br>Cần Thạnh. Đồng thời, 20 hộ gia đình có kinh nghiệm lâu năm được phỏng vấn sâu để<br>thu thập thông tin chuyên sâu về mùa vụ, kỹ thuật và thay đổi trong quá trình đánh bắt.<br>Ngoài dữ liệu sơ cấp, bài viết còn khai thác số liệu thứ cấp từ các báo cáo kinh tế - xã hội<br>huyện Cần Giờ (giai đoạn 2022-2024), số liệu từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông<br>thôn, cùng với các tài liệu chuyên ngành. Nghiên cứu cũng tiến hành quan sát thực địa<br>nhằm kiểm chứng thông tin thu thập được. Kết quả cho thấy, sự sụt giảm các loài thủy<br>sản và suy thoái sự đa dạng sinh học vùng biển huyện Cần Giờ do thời tiết thay đổi thất<br>thường và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhưng đặc biệt nghiêm trọng hơn là việc<br>khai thác thủy sản quá mức với các loại ngư cụ hủy diệt làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản ở<br>vùng này. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thích ứng của cộng<br>đồng ngư dân và hướng tới phát triển bền vững ngành khai thác thủy sản địa phương</span> </p>2025-08-29T00:00:00+07:00Bản quyền (c)