Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh
<p><strong>Tạp chí của</strong> <strong>Học viện Ngân hàng</strong></p>vi-VNTạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 3030-4199Hoàn thiện khung pháp luật về phát triển kinh tế ban đêm nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124236
<p>Kinh tế ban đêm đang nổi lên như một hướng đi quan trọng nhằm mở rộng không gian phát triển, tăng thu ngân sách, tạo việc làm và nâng cao hình ảnh đô thị tại Việt Nam. Trên cơ sở Đề án phát triển kinh tế ban đêm được phê duyệt tại Quyết định số 1129/QĐ-TTg năm 2020, nhiều địa phương đã thí điểm phố đi bộ, chợ đêm, khu ẩm thực, vui chơi, giải trí hoạt động đến khuya. Tuy nhiên, cùng với tiềm năng kinh tế, kinh tế ban đêm cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, môi trường và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cư dân trong khu vực có hoạt động ban đêm, đòi hỏi phải điều phối hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Bằng phương pháp tổng hợp nội dung các văn bản pháp luật hiện hành, tiếp cận vấn đề từ góc độ pháp luật công và pháp luật kinh tế, bài viết phân tích các quy định pháp luật và chính sách hiện hành liên quan đến kinh tế ban đêm, chỉ ra những khoảng trống và bất cập trong cấu trúc pháp lý hiện tại, đồng thời gợi mở một số định hướng hoàn thiện. Trên cơ sở tham chiếu một số kinh nghiệm quốc tế, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng khung pháp lý thống nhất, gắn với phân vùng không gian, cơ chế tham vấn cộng đồng, phối hợp liên ngành và cụ thể hóa các chuẩn mực về tiếng ồn, an toàn, môi trường như điều kiện để kinh tế ban đêm phát triển bền vững, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể.</p> <p> </p>Hồ Thanh Thủy
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-23285110Nâng cao hiệu lực của quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh ở Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124240
<p>Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, đối tượng của bảo hiểm xã hội bắt buộc được mở rộng cho các chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh. Lộ trình thực hiện được áp dụng theo hai giai đoạn, được quy định chi tiết tại Nghị định số 158/2025/NĐ-CP. Nghiên cứu này phân tích thực trạng độ bao phủ hiệu quả và độ bao phủ tiềm năng của bảo hiểm xã hội đối với chủ hộ kinh doanh theo các yếu tố nhân khẩu học và việc làm. Bằng phương pháp thống kê mô tả dựa trên Dữ liệu Điều tra Lao động- Việc làm năm 2023, nghiên cứu cho thấy độ bao phủ hiệu quả bảo hiểm xã hội đối với chủ hộ kinh doanh ở Việt Nam còn thấp và tập trung ở chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện. Đồng thời, có sự chênh lệch đáng kể về độ bao phủ bảo hiểm xã hội theo các đặc điểm nhân khẩu và đặc điểm việc làm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu khuyến nghị hoàn thiện quy trình đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc cho chủ hộ kinh doanh, rà soát và phân nhóm chủ hộ kinh doanh theo phương pháp nộp thuế, mức thu nhập và độ tuổi nhằm giám sát sự tuân thủ chính sách và có biện pháp tuyên truyền phù hợp.</p>Đỗ Thị ThuGiang Thanh Long
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232851121Ảnh hưởng bất cân xứng của bất ổn chính sách đến cầu tiền ở Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124244
<p>Nghiên cứu này phân tích tác động bất cân xứng của sự bất ổn chính sách (đo lường qua Chỉ số bất ổn thế giới) đến lượng cầu tiền ở Việt Nam trong giai đoạn quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2023 thông qua mô hình ARDL tuyến tính (ARDL) và ARDL phi tuyến (NARDL). Kết quả từ mô hình ARDL cho thấy trong ngắn hạn bất ổn chính sách làm giảm lượng cầu tiền và mức độ ảnh hưởng này là không đáng kể trong dài hạn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn với mô hình NARDL, cú sốc tích cực của bất ổn chính sách làm gia tăng lượng cầu tiền, ngược lại cú sốc tiêu cực của bất ổn chính sách sẽ làm giảm lượng cầu tiền một lượng không cùng quy mô. Trong dài hạn, cả cú sốc tiêu cực và tích cực của bất ổn chính sách đều làm giảm lượng cầu tiền, nhưng tác động của cú sốc tích cực là không đáng kể. Bên cạnh đó, thu nhập thực, lãi suất và tỷ lệ lạm phát cũng được xem là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cầu tiền. Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực nghiệm quan trọng để đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô trong trường hợp thực tiễn ở Việt Nam.</p>Nguyễn Thị QuýPhạm Thị Thu Hiền
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232852234Minh bạch báo cáo tài chính và tác động đến khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng: Kết quả khảo sát ở doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124245
<p>Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm một tỷ trọng lớn về số lượng doanh nghiệp hoạt động và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự thiếu minh bạch báo cáo tài chính. Sử dụng phương pháp phân tích văn bản và khảo sát thực tiễn 515 đối tượng gồm nhà quản lý, kế toán trưởng và nhân viên kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 11/2024 đến 8/2025, bài viết đã làm rõ thực trạng minh bạch báo cáo tài chính và ảnh hưởng của minh bạch báo cáo tài chính doanh nghiệp nhỏ và vừa đến tiếp cận vốn vay ngân hàng. Từ đó bài viết đề xuất các doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao minh bạch báo cáo tài chính nhằm tăng cường khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng trên các khía cạnh như: Tuân thủ chuẩn mực kế toán; tăng cường kiểm toán và công khai báo cáo tài chính; nâng cao nhận thức của nhà quản lý và đội ngũ kế toán về vai trò quan trọng của minh bạch báo cáo tài chính.</p>Phan Thị Anh Đào
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232853545Ngân hàng nước ngoài và rủi ro tài chính: Phân tích ngưỡng theo Fintech, cạnh tranh và bất định vĩ mô
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124246
<p>Nghiên cứu này phân tích tác động phi tuyến của sự hiện diện ngân hàng nước ngoài (FBP) đến rủi ro tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn 2010- 2024, với trọng tâm vào ba yếu tố điều tiết: mức độ phát triển Fintech, bất định vĩ mô, và năng lực cạnh tranh. Bằng cách kết hợp mô hình Panel Threshold Regression và học máy, nghiên cứu phát hiện rằng FBP không có tác động tuyến tính cố định, mà thay đổi mạnh mẽ theo điều kiện nền tảng. Kết quả cho thấy FBP giúp nâng cao ổn định tài chính trong bối cảnh Fintech ở mức vừa phải, cạnh tranh không quá cao và môi trường vĩ mô ổn định. Tuy nhiên, khi các yếu tố này vượt quá ngưỡng nhất định, tác động có thể đảo chiều. Ngoài ra, hiệu ứng FBP khác biệt đáng kể giữa các nhóm ngân hàng: tích cực hơn tại các ngân hàng nhỏ, tư nhân và trong giai đoạn trước COVID-19. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới tại một nền kinh tế mới nổi đang hội nhập nhanh, góp phần làm sáng tỏ cơ chế điều kiện hóa của hội nhập tài chính trong môi trường số hóa và bất định. Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách về mở cửa tài chính có điều kiện, phân loại rủi ro theo nhóm và thiết kế khung cảnh báo sớm phù hợp với bối cảnh Việt Nam.</p>Phạm Thủy Tú
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232854660Liên kết giữa nông dân- doanh nghiệp nông nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng: Kết quả khảo sát trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124247
<p>Tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu quả, tính bền vững và năng lực cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu này thực hiện tổng quan và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp trong nông nghiệp. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu phát triển bảng hỏi, khảo sát 384 hộ nông dân và 20 doanh nghiệp nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn tháng 01 đến tháng 03 năm 2025, để làm rõ nhận định về mối liên kết này và các nhân tố ảnh hưởng trong bối cảnh thực tiễn ở một tỉnh trung du miền núi và nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh tế địa phương. Kết quả khảo sát đưa ra bằng chứng ban đầu về tác động của điều kiện tự nhiên; mức độ phát triển thị trường của địa phương; khung chính sách pháp lý; mức độ phát triển của doanh nghiệp; năng lực, trình độ của lao động nông nghiệp; nhận thức và năng lực liên kết của các chủ thể; và mức độ ứng dụng khoa học công nghệ. Trong đó nhân tố quan trọng nhất là nhận thức và năng lực liên kết của các chủ thể, mức độ tác động của các nhân tố khác cơ bản là tương đương. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách và quản trị doanh nghiệp thiết kế các chiến lược tăng cường mối liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp.</p>Ma Thị Huyền NgaLê Quốc Hội
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232856171Tác động của hiệu quả logistics đến xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang các quốc gia Châu Âu
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124248
<p>Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, logistics đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của logistics đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU). Áp dụng mô hình trọng lực mở rộng với dữ liệu bảng gồm Việt Nam và 27 quốc gia EU trong giai đoạn 2007- 2022, kết quả cho thấy chỉ số hiệu quả logistics (LPI) tác động tích cực đến giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang các quốc gia đối tác, đặc biệt sau khi EVFTA có hiệu lực. Trong các thành phần của LPI, giao hàng, khả năng truy xuất và thời gian là những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể nhất. Ngoài ra, LPI tác động rõ rệt hơn đến xuất khẩu sang các quốc gia phát triển so với các quốc gia đang phát triển. Kết quả nghiên cứu gợi ý hàm ý chính sách bao gồm tăng cường hợp tác với EU để phát triển hạ tầng logistics, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm minh bạch hóa chuỗi cung ứng, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu, từ đó tận dụng cơ hội mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.</p>Mai Hương GiangNông Khánh NgânĐinh Thị AnhLê Ngọc HânVũ Thị Nhung
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-232857285Ứng dụng Machine Learning trong đánh giá sức khỏe kinh tế tư nhân tại các địa phương Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/124249
<p>Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của tăng trưởng, tạo việc làm và đổi mới sáng tạo, song Việt Nam còn thiếu một thước đo hệ thống về “sức khỏe” khu vực này ở cấp địa phương. Do vậy, bài viết tiến hành xây dựng chỉ số tổng hợp sức khỏe kinh tế tư nhân cho 63 tỉnh/thành, phục vụ phân nhóm địa phương và định hướng chính sách. Phương pháp nghiên cứu ứng dụng học máy: PCA để giảm chiều và rút trích các chiều cạnh cốt lõi (quy mô, mật độ, hiệu quả vận hành), sau đó K-means để phân cụm địa phương. Dữ liệu sử dụng từ Tổng cục Thống kê (2022), bao quát chỉ tiêu số lượng và chất lượng. Kết quả xác định ba cụm rõ nét: (i) Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có quy mô lớn và phát triển tương đối toàn diện; (ii) nhóm tỉnh công nghiệp (Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Bà Rịa- Vũng Tàu) có mật độ doanh nghiệp cao, sử dụng vốn hiệu quả nhưng hiệu quả tổng thể chưa ngang cụm (i); (iii) các tỉnh miền núi/xa trung tâm có quy mô và hiệu quả còn khiêm tốn. Đóng góp mới của nghiên cứu là đề xuất một chỉ số đa chiều, minh bạch và tái lập dựa trên PCA- K-means, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng để thiết kế khuyến nghị chính sách theo cụm địa phương.</p>Nguyễn Bích Ngọc
Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
2025-12-232025-12-2328586100