Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh
<p><strong>Tạp chí của</strong> <strong>Học viện Ngân hàng</strong></p>vi-VNTạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng 3030-4199Xây dựng Chương trình đào tạo cử nhân định hướng làm việc tại Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm từ Trường Đại học Ứng dụng trực thuộc Ngân hàng Trung ương Đức
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128291
<p>Xây dựng Chương trình đào tạo cử nhân định hướng làm việc tại Ngân hàng Trung ương là bước đi chiến lược đảm bảo Ngân hàng Trung ương có được đội ngũ nhân sự chất lượng, chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của nền kinh tế hiện đại và hội nhập. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, bài viết nhằm khái quát kinh nghiệm của Trường Đại học Ứng dụng trực thuộc Ngân hàng Trung ương Đức trong việc xây dựng Chương trình đào tạo cử nhân định hướng sinh viên làm việc tại ba cơ quan là Ngân hàng Trung ương Đức, Cơ quan Giám sát Dịch vụ Tài chính Liên bang và Ngân hàng Trung ương Namibia; từ đó đề xuất các bài học cho Việt Nam, bao gồm: xây dựng mô hình đào tạo kép, áp dụng phương pháp giảng dạy hiện đại lấy người học làm trung tâm, thiết lập quan hệ đối tác chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước để đồng thiết kế chương trình, thiết lập cơ chế kiểm định chất lượng dựa trên năng lực thực tiễn, và tăng cường hỗ trợ tài chính cùng cơ hội học tập quốc tế.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Bùi Hữu Toàn. (2026). Xây dựng Chương trình đào tạo cử nhân định hướng làm việc tại Ngân hàng Trung ương: Kinh nghiệm từ Trường Đại học Ứng dụng trực thuộc Ngân hàng Trung ương Đức. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 1-14. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3113">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3113</a></p>Bùi Hữu Toàn
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm ứng phó với các bất ổn kinh tế
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128293
<p>Nghiên cứu nhằm phân tích và đánh giá hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để ứng phó với những bất ổn kinh tế. Bằng phương pháp phân tích tài liệu và thống kê mô tả với dữ liệu giai đoạn 2021- 2025, tập trung vào năm 2025, bài viết đã đánh giá các kết quả và hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qua điều hành lãi suất, tín dụng, tỷ giá và thị trường vàng. Từ các đánh giá, nhận định này, tác giả đã đề xuất các khuyến nghị để tiếp tục nâng cao hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ, như Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục chủ động bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước để có những điều chỉnh linh hoạt kịp thời, chú trọng ổn định lãi suất cho vay, đồng thời giám sát tăng trưởng tín dụng hợp lý, thực hiện các giải pháp đồng bộ trong quản lý thị trường vàng.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Phạm Thị Hoàng Anh. (2026). Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm ứng phó với các bất ổn kinh tế. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 15-28. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3151">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3151</a></p>Phạm Thị Hoàng Anh
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Quản lý thị trường vàng Việt Nam: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và mô hình Sở giao dịch vàng Thượng Hải
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128294
<p>Sau Nghị định 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 3 tháng 4 năm 2012, thị trường vàng Việt Nam được quản lý chặt chẽ nhưng bộc lộ một số vấn đề như thiếu tính linh hoạt, chênh lệch giá lớn với thị trường quốc tế và nguồn cung vàng miếng bị bó hẹp. Trong bối cảnh Việt Nam đang xem xét điều chỉnh chính sách quản lý vàng và khả năng thành lập Sở giao dịch vàng, bài viết sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp để khảo sát kinh nghiệm quản lý thị trường vàng của Trung Quốc, tập trung vào mô hình Sở Giao dịch Vàng Thượng Hải và cơ chế nhập khẩu vàng có kiểm soát. Trên cơ sở so sánh với thực tiễn Việt Nam, bài viết đề xuất 4 khuyến nghị chính sách nhằm phát triển thị trường vàng Việt Nam minh bạch và hiệu quả hơn nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát rủi ro của Nhà nước, bao gồm xây dựng Sở giao dịch vàng vật chất tập trung, cải cách cơ chế cấp phép nhập khẩu vàng, minh bạch hóa dữ liệu giao dịch và chuẩn hóa chất lượng vàng miếng.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Văn Tiến, & Phạm Mạnh Hùng. (2026). Quản lý thị trường vàng Việt Nam: Kinh nghiệm từ Trung Quốc và mô hình Sở giao dịch vàng Thượng Hải. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 29-41. <a href="http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3083">http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3083</a></p>Nguyễn Văn TiếnPhạm Mạnh Hùng
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Vai trò của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong đổi mới tư duy pháp luật cho công nghệ tài chính tại Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128296
<p>Bối cảnh bùng nổ của công nghệ tài chính (Fintech) tại Việt Nam đang đặt ra nhiều thách thức đối với các khuôn khổ pháp lý truyền thống, đòi hỏi thay đổi tư duy lập pháp. Nghiên cứu này phân tích vai trò của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox) như một công cụ then chốt và chất xúc tác cho sự đổi mới tư duy pháp lý. Bằng phương pháp phân tích luật học, so sánh và đánh giá chính sách, bài viết luận giải Sandbox là phương thức chuyển đổi tư duy pháp lý từ “tĩnh” và “cấm đoán” sang “động” và “dựa trên bằng chứng”. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc triển khai hiệu quả cơ chế Sandbox sẽ giúp các nhà làm luật thu thập dữ liệu thực tiễn, thấu hiểu các mô hình kinh doanh mới, từ đó xây dựng hành lang pháp lý linh hoạt, khuyến khích đổi mới, phù hợp với nền kinh tế số.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Dương Văn Quý. (2026). Vai trò của cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong đổi mới tư duy pháp luật cho công nghệ tài chính tại Việt Nam. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 42-52. <a href="http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3073">http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3073</a></p>Dương Văn Quý
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Tính pháp lý của điều khoản “không được hủy ngang” trong Hợp đồng ủy quyền
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128298
<p>Việc sử dụng điều khoản “không được hủy ngang” trong hợp đồng ủy quyền, đặc biệt đối với giao dịch bất động sản, đang đặt ra nhiều hệ quả pháp lý phức tạp và mâu thuẫn với nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật dân sự. Thông qua phân tích cấu trúc pháp lý của quan hệ ủy quyền và thực tiễn xét xử, bài viết cho thấy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng là quyền luật định không thể bị loại trừ bằng thỏa thuận thông thường. Sử dụng phương pháp phân tích luật, phân tích bản án qua thực tiễn xét xử và thực trạng hành nghề công chứng, nghiên cứu đặt ra giới hạn áp dụng hợp pháp của điều khoản này và đề xuất cơ chế kiểm soát chuyên sâu đối với công chứng viên. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ ranh giới giữa quyền định đoạt cá nhân và yêu cầu bảo vệ trật tự pháp lý trong giao dịch dân sự, để đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật để phòng ngừa hành vi lách luật và xâm phạm quyền tài sản dưới hình thức ủy quyền giả tạo.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Việt Cường. (2026). Tính pháp lý của điều khoản “không được hủy ngang” trong Hợp đồng ủy quyền. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 53-63. <a href="http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3005">http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3005</a></p>Nguyễn Việt Cường
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Nghiên cứu các nhân tố tác động tới rủi ro tín dụng của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á: Góc nhìn từ mô hình hồi quy phân vị
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128302
<p>Bài viết sử dụng phương pháp hồi quy mô-men phân vị (method of moments for quantile regression) kết hợp với bộ dữ liệu bảng không cân bằng gồm 185 ngân hàng khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2000- 2022 nhằm phân tích các nhân tố tác động tới rủi ro tín dụng theo các mức phân vị khác nhau của rủi ro tín dụng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng ở cấp độ ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, hiệu quả hoạt động và tính thanh khoản giúp làm giảm rủi ro tín dụng, nhất là với các ngân hàng có rủi ro tín dụng cao, trong khi chiến lược đa dạng hóa làm gia tăng rủi ro tín dụng. Điều này hàm ý các ngân hàng cần thận trọng trong thực hiện chiến lược đa dạng hóa, tăng trưởng tín dụng một cách có chọn lọc và củng cố nền tảng tài chính. Ở góc độ vĩ mô, tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng kinh tế góp phần làm giảm rủi ro tín dụng, trong khi lạm phát và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 làm rủi ro tín dụng gia tăng. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của việc điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, đồng bộ; các biện pháp can thiệp chính sách kịp thời và có mục tiêu trong duy trì an toàn và ổn định của hệ thống.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Nhật Minh, Phạm Thị Hoàng Anh, & Nguyễn Đức Trung. (2026). Nghiên cứu các nhân tố tác động tới rủi ro tín dụng của các ngân hàng khu vực Đông Nam Á: Góc nhìn từ mô hình hồi quy phân vị. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 64-79. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3132">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3132</a></p>Nguyễn Nhật MinhPhạm Thị Hoàng AnhNguyễn Đức Trung
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Tác động của tài chính toàn diện đến khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ gia đình- Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Ninh Bình, Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128305
<p>Biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế hộ gia đình ven biển tại Ninh Bình của Việt Nam, nơi phụ thuộc lớn vào nông nghiệp và thủy sản. Nghiên cứu này đánh giá tác động của tài chính toàn diện tới khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ gia đình, dựa trên dữ liệu khảo sát thu thập từ 300 hộ gia đình cư trú tại Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng (thuộc tỉnh Nam Định cũ, nay là tỉnh Ninh Bình) trong thời gian từ 01/04/2025 đến 30/05/2025. Kết quả phân tích định lượng với hồi quy OLS và logistic, nghiên cứu chỉ ra tài chính toàn diện góp phần nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua các sản phẩm tài chính toàn diện như tín dụng ưu đãi, bảo hiểm vi mô. Đồng thời nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức tài chính- ngân hàng và vai trò của các phương tiện truyền thông trong tăng cường năng lực chống chịu với biến đổi khí hậu của người dân tại khu vực này.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Bích Ngân, Trương Thị Thùy Dương, & Đoàn Ngọc Thắng. (2026). Tác động của tài chính toàn diện đến khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ gia đình- Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 80-92. <a href="http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3061">http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3061</a></p>Nguyễn Bích NgânĐoàn Ngọc ThắngTrương Thị Thùy Dương
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Các yếu tố tác động đến ổn định tài chính ngân hàng tại ASEAN: Bằng chứng thực nghiệm từ mô hình kết hợp SGMM và ElasticNet
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128311
<p>Bài viết phân tích các yếu tố tác động đến ổn định tài chính ngân hàng tại sáu quốc gia ASEAN giai đoạn 2010- 2023, trong bối cảnh khu vực chịu nhiều áp lực từ biến động vĩ mô và đại dịch COVID-19. Mục tiêu nghiên cứu là xác định các yếu tố vi mô và vĩ mô ảnh hưởng đáng kể đến mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đề xuất các khuyến nghị chính sách phù hợp nhằm củng cố năng lực chống chịu rủi ro tài chính. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của 61 ngân hàng thương mại và các nguồn chính thống như World Bank, IMF. Bài viết sử dụng mô hình SGMM để xử lý nội sinh và hiệu ứng động, kết hợp với ElasticNet nhằm tối ưu hoá chọn lọc biến và khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả cho thấy vốn chủ sở hữu, ROE, đòn bẩy tài chính và đổi mới công nghệ có tác động tích cực đến ổn định ngân hàng, trong khi quy mô ngân hàng, tăng trưởng GDP, lạm phát và COVID-19 ảnh hưởng tiêu cực. Việc tích hợp SGMM và ElasticNet không chỉ nâng cao độ chính xác mô hình mà còn đóng góp phương pháp luận hữu ích cho nghiên cứu định lượng trong lĩnh vực ngân hàng. Các hàm ý chính sách bao gồm tăng cường cấu trúc vốn, đầu tư công nghệ tài chính và thiết lập khung pháp lý linh hoạt nhằm tăng cường ổn định tài chính bền vững.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Phạm Anh Thủy. (2026). Các yếu tố tác động đến ổn định tài chính ngân hàng tại ASEAN: Bằng chứng thực nghiệm từ mô hình kết hợp SGMM và ElasticNet. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 93-108. <a href="http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3015">http://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3015</a></p>Phạm Anh Thủy
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Tác động của cú sốc giá dầu đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128315
<p>Nghiên cứu này phân tích tác động của ba loại cú sốc giá dầu- cú sốc cung, cầu và rủi ro- đối với thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua chỉ số VN-Index giai đoạn 2018- 2025. Sử dụng phương pháp tương quan cục bộ Wavelet (WLC), nghiên cứu làm rõ mối liên hệ động theo thời gian và tần suất, qua đó phản ánh đặc điểm phi tuyến và sự không đồng nhất trong tác động của các cú sốc dầu. Kết quả cho thấy cú sốc cung và cầu có thể tác động tích cực trong các giai đoạn phục hồi kinh tế, nhưng chuyển sang tiêu cực khi xuất hiện khủng hoảng hoặc căng thẳng địa chính trị. Ngược lại, cú sốc rủi ro chủ yếu tạo áp lực giảm lên VN-Index, mặc dù đôi khi vẫn ghi nhận ảnh hưởng dương trong ngắn hạn. Phát hiện này mang lại hàm ý quan trọng: nhà đầu tư cần phân biệt rõ nguồn gốc cú sốc để quản trị rủi ro danh mục, trong khi nhà hoạch định chính sách nên theo dõi chặt chẽ nguyên nhân biến động dầu nhằm kịp thời điều chỉnh các công cụ kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, nghiên cứu khẳng định tính ưu việt của phương pháp WLC trong việc phân tích các thị trường mới nổi, nơi đặc trưng bởi tính bất ổn cao và phụ thuộc nhiều vào biến động toàn cầu.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Mậu Bá Đăng, Ngô Thái Hưng, & Nguyễn Minh Phúc. (2026). Tác động của cú sốc giá dầu đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 109-122. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2974">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2974</a></p>Nguyễn Mậu Bá ĐăngNgô Thái HưngNguyễn Minh Phúc
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Tác động của các nhân tố nội tại tới rủi ro phá sản của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128319
<p>Nghiên cứu này tập trung đánh giá tác động của các nhân tố nội tại tới rủi ro phá sản của các doanh nghiệp niêm yết. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập gồm 350 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2023. Bằng phương pháp hồi quy logit và hồi quy OLS, nghiên cứu làm rõ tác động của các nhân tố nội tại đến rủi ro phá sản của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh hậu COVID-19- giai đoạn mà nhiều doanh nghiệp đối mặt với áp lực tài chính lớn bởi chi phí lãi vay cao, dòng tiền suy giảm và nhu cầu tiêu dùng co hẹp. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn thực tế về tình hình tài chính hiện tại của các doanh nghiệp mà còn đóng góp vào khoảng trống nghiên cứu về các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của doanh nghiệp tại thị trường Việt Nam. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu nguy cơ phá sản, bao gồm: tăng cường vốn chủ sở hữu nhằm cải thiện tính tự chủ tài chính; hạn chế mở rộng các dự án có mức độ rủi ro cao hoặc phụ thuộc quá nhiều vào đòn bẩy tài chính; tối ưu hóa chi phí và sử dụng tài sản hiệu quả để tăng lợi nhuận.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Hồng Nga, & Nguyễn Hải Anh. (2026). Tác động của các nhân tố nội tại tới rủi ro phá sản của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 123-134. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2895">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2895</a></p>Nguyễn Thị Thu TrangNguyễn Hải AnhNguyễn Hồng Nga
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Mối quan hệ giữa thực hành kế toán quản trị và hiệu quả hoạt động thông qua quản trị chuỗi cung ứng
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128321
<p>Mục đích của nghiên cứu này là xem xét tác động của thực hành kế toán quản trị (MAP) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (EOE) và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng (SCOE) thông qua biến trung gian quản trị chuỗi cung ứng (SCM). Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 128 kế toán trưởng tại các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn trong khoảng thời gian từ tháng 1/2025 đến tháng 3/2025. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng MAP tác động tích cực cả trực tiếp và gián tiếp đến EOE thông qua SCM. Trong khi đó MAP chỉ tác động tích cực gián tiếp đến SCOE với vai trò trung gian của SCM. Từ kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị để gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và của cả chuỗi cung ứng. Đối với cơ sở giáo dục, cần nâng cao kiến thức MAP trong chuỗi cung ứng. Đối với doanh nghiệp, cần nâng cao các kỹ thuật kế toán quản trị được sử dụng trong SCM và thúc đẩy chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Đối với các nhà hoạch định chính sách, cần xây dựng các cơ chế và chính sách khuyến khích doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và áp dụng MAP kết hợp với SCM.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Lê Thị Tâm, & Nguyễn Thị Mai Anh. (2026). Mối quan hệ giữa thực hành kế toán quản trị và hiệu quả hoạt động thông qua quản trị chuỗi cung ứng. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 135-148. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3019">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3019</a></p>Lê Thị TâmNguyễn Thị Mai Anh
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Cơ chế hình thành hành vi chủ động trong công việc: Vai trò của trải nghiệm và khả năng thích ứng của nhân viên tại Tổng Công ty Thép Việt Nam
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128327
<p>Trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghiệp nặng chịu áp lực lớn từ biến động thị trường, yêu cầu an toàn và hiệu suất vận hành, hành vi chủ động trong công việc của nhân viên ngày càng được xem là nguồn lực quan trọng để duy trì hiệu quả và khả năng thích ứng của tổ chức. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích cơ chế hình thành hành vi chủ động trong công việc của nhân viên tại Tổng Công ty Thép Việt Nam thông qua vai trò trung gian của trải nghiệm và khả năng thích ứng của nhân viên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu kiểm định tác động của các yếu tố môi trường tổ chức, bao gồm cơ hội phát triển, sự công bằng và hỗ trợ, và văn hóa cởi mở, đến trải nghiệm nhân viên. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 459 cán bộ, công nhân viên và được phân tích bằng phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM). Kết quả cho thấy khả năng thích ứng có tác động tích cực và mạnh nhất đến hành vi chủ động trong công việc, đồng thời đóng vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa trải nghiệm nhân viên và hành vi chủ động. Ngoài ra, trải nghiệm nhân viên chịu ảnh hưởng tích cực từ các yếu tố môi trường tổ chức, trong đó sự công bằng và hỗ trợ có mức độ tác động lớn nhất. Các phát hiện này góp phần làm rõ cơ chế thúc đẩy hành vi chủ động trong bối cảnh doanh nghiệp công nghiệp nặng và cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết kế các chính sách quản trị nguồn nhân lực phù hợp.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Phạm Thanh Mai, Phùng Thế Hùng, & Nguyễn Hải Ninh. (2026). Cơ chế hình thành hành vi chủ động trong công việc: Vai trò của trải nghiệm và khả năng thích ứng của nhân viên tại Tổng Công ty Thép Việt Nam. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 149-162. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3112">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3112</a></p>Phạm Thanh MaiPhùng Thế HùngNguyễn Hải Ninh
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức về hiệu quả đào tạo kiểm toán và đặc điểm cá nhân tới thái độ hoài nghi nghề nghiệp của sinh viên ngành kiểm toán tại Trường Đại học Thủy lợi
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128338
<p>Nghiên cứu khám phá mối liên hệ giữa nhận thức về hiệu quả đào tạo kiểm toán, đặc điểm cá nhân và thái độ hoài nghi nghề nghiệp của sinh viên ngành kiểm toán Trường Đại học Thủy lợi (TLU). Thái độ hoài nghi nghề nghiệp là yếu tố quan trọng giúp kiểm toán viên nhận diện rủi ro và nâng cao chất lượng kiểm toán. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp gồm giai đoạn định tính thực hiện phỏng vấn sâu chuyên gia để xác định nhân tố ảnh hưởng và phát triển bảng hỏi; và giai đoạn định lượng khảo sát 203 sinh viên TLU năm 3 và 4 (tháng 2/2025) để kiểm định mối liên hệ giữa các nhân tố. Kết quả cho thấy các nhân tố đều có mối liên hệ đồng biến đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp của sinh viên ngành kiểm toán, trong đó đặc điểm cá nhân có mối liên hệ đáng kể hơn. Bằng việc tinh chỉnh thang đo và các kiểm định bổ trợ, nghiên cứu khắc phục hạn chế về phương pháp tự đánh giá và sự tương quan cao giữa các khái niệm. Nghiên cứu đề xuất các cơ sở đào tạo cải thiện chương trình giảng dạy và chú trọng phát triển các đặc điểm cá nhân (như tư duy phản biện, tính cẩn trọng) cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kiểm toán tương lai.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Hoàng Thị Mai Lan, Ngô Thị Thu Hoài, Phạm Thị Hiền, Trần Thu Hòa, Hoàng Thị Chung, & Lê Thị Lan. (2026). Nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức về hiệu quả đào tạo kiểm toán và đặc điểm cá nhân tới thái độ hoài nghi nghề nghiệp của sinh viên ngành kiểm toán tại Trường Đại học Thủy lợi. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 163-175. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2934">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.2934</a></p>Hoàng Thị Mai LanNgô Thị Thu HoàiPhạm Thị HiềnTrần Thu HòaHoàng Thị ChungLê Thị Lan
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Ứng dụng trí tuệ nhân tạo phát hiện gian lận và lòng tin người tiêu dùng trong thương mại điện tử tại Việt Nam: Vai trò trung gian của nhận thức về trí tuệ nhân tạo
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128343
<p>Nghiên cứu khám phá tác động của ứng dụng AI phát hiện gian lận đến nhận thức về AI và lòng tin vào nền tảng thương mại điện tử; trong đó, nhận thức về AI được xem xét cả khía cạnh tích cực (cảm nhận hữu ích, cảm nhận dễ sử dụng) và tiêu cực (lo ngại quyền riêng tư, lo ngại vấn đề đạo đức, công nghệ chưa hoàn thiện). Thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước và phát triển qua nghiên cứu định tính và định lượng sơ bộ. Nghiên cứu định lượng chính thức được thực hiện thông qua khảo sát 420 người tiêu dùng Việt Nam từ tháng 2/2025 đến tháng 8/2025. Kết quả cho thấy 65,3% sự biến thiên trong lòng tin vào nền tảng thương mại điện tử được giải thích bởi ứng dụng AI phát hiện gian lận và nhận thức về AI. Đặc biệt, nghiên cứu khẳng định vai trò then chốt của AI phát hiện gian lận trong việc xây dựng lòng tin thông qua tác động kép: trực tiếp lên lòng tin và gián tiếp qua việc định hình nhận thức về AI. Kết quả nghiên cứu cung cấp hàm ý quản trị cho các nền tảng thương mại điện tử nhằm triển khai AI phát hiện gian lận hiệu quả, cân bằng giữa bảo mật và trải nghiệm người dùng.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Tạ Văn Thành, Lê Thái Phượng, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Thị Hồng Hoa, & Nguyễn Thị Minh Hằng. (2026). Ứng dụng trí tuệ nhân tạo phát hiện gian lận và lòng tin người tiêu dùng trong thương mại điện tử tại Việt Nam: Vai trò trung gian của nhận thức về trí tuệ nhân tạo. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng</em>, <em>28</em>(1+2), 176-190. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3084">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3084</a></p>Tạ Văn ThànhLê Thái PhượngNguyễn Minh TriếtNguyễn Thị Hồng HoaNguyễn Thị Minh Hằng
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287Ảnh hưởng của mạng xã hội Tiktok đến quyết định lựa chọn địa điểm ăn uống của giới trẻ tại Hà Nội
https://vjol.info.vn/index.php/tckinhteluatvanganhang-hvnh/article/view/128350
<p>Nghiên cứu này phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn địa điểm ăn uống của giới trẻ tại Hà Nội thông qua nền tảng TikTok, trong bối cảnh TikTok ngày càng phổ biến và được sử dụng như một công cụ tìm kiếm thông tin ẩm thực hiệu quả. Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2024, nhóm nghiên cứu đã khảo sát 391 người trẻ từ 18 đến 25 tuổi, thu được 362 bảng khảo sát hợp lệ và xử lý dữ liệu bằng SPSS và SmartPLS 4. Kết quả cho thấy truyền miệng điện tử trên TikTok ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định lựa chọn địa điểm ăn uống của giới trẻ tại Hà Nội, thông qua hai yếu tố trung gian là chuẩn mực chủ quan và thái độ, trong đó chuẩn mực chủ quan đóng vai trò chi phối lớn hơn. Ngoài ra, các yếu tố thuộc mô hình TAM như nhận thức dễ sử dụng và nhận thức hữu ích cũng tác động tích cực đến thái độ người dùng. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ ảnh hưởng TikTok đến quyết định lựa chọn ẩm thực và mang lại giá trị thực tiễn cho các doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực thực phẩm và đồ uống (F&B) trong việc tận dụng yếu tố truyền miệng điện tử và chuẩn mực chủ quan để tăng tiếp cận và tác động đến quyết định của khách hàng trẻ.</p> <p><strong>Trích dẫn</strong>: Nguyễn Lê Đình Quý, Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Quỳnh Anh, Nguyễn Khánh Huyền, & Lê Vũ Ngân Hà. (2026). Ảnh hưởng của mạng xã hội Tiktok đến quyết định lựa chọn địa điểm ăn uống của giới trẻ tại Hà Nội. <em>Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 28</em>(1+2), 191-206. <a href="https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3009">https://doi.org/10.59276/JELB.2026.1.2.3009</a></p>Nguyễn Lê Đình QuýNguyễn Bích HạnhNguyễn Quỳnh AnhNguyễn Khánh HuyềnLê Vũ Ngân Hà
Bản quyền (c)
2026-01-272026-01-27286+287