Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie
<p><strong>Tạp chí của Bộ Nông nghiệp và môi trường</strong></p>vi-VNTạp chí Nông nghiệp và Môi trường3093-3382NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÂY CHÈ SHAN TUYẾT CỔ THỤ Ở XÃ ĐỒNG PHÚC, TỈNH THÁI NGUYÊN
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125449
<p>Chè Shan tuyết cổ thụ ở xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên có sức sinh trưởng khỏe, thân gỗ lớn, tán rộng. Cây phân cành ở độ cao 116,3 - 143,3 cm, góc phân cành 36.8° - 74,2°, dạng tán đa dạng (ngang, xiên, đứng). Chu vi thân dao động 67 - 117 cm, mật độ cành trung bình. Lá có diện tích 39,43 - 109,73 cm², hình thái phiến lá nhăn nhiều, mép có răng cưa nông; màu lá xanh trung bình, xanh nhạt hoặc xanh đậm. Búp màu xanh nhạt, dài 8,6 - 13,4 cm, khối lượng 1,98 - 2,43 g, lông tuyết mức trung bình. Hoa có 5-7 cánh, màu trắng hoặc hồng, đường kính 2,60 - 3,33 cm; số chỉ nhị 67 - 108 bao. Quả nhỏ (1,82 - 2,49 cm), 2 - 4 hạt, hạt màu nâu đến nâu sẫm, vỏ dày mỏng khác nhau. Một số cá thể nổi bật có lá lớn (NB - 10, PP - 5, NB - 11) tiềm năng quang hợp cao. Kết quả cho thấy sự đa dạng hình thái giữa các cây, phản ánh tính di truyền và thích nghi sinh thái.</p>Hoàng Trần
Bản quyền (c) 2025
2439KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA BỐN LOÀI NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG ĐỐI VỚI TRƯỞNG THÀNH MỌT GẠO Sitophilus oryzae (Linnaeus) TRONG ĐIỀU KIỆN PHÒNG THÍ NGHIỆM
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125450
<p>Nghiên cứu khả năng gây bệnh của 4 loài nấm ký sinh côn trùng <em>Cordyceps</em><em> javanica</em>, <em>Beauveria bassiana</em>, <em>Beauveria amorpha</em> và <em>Metarhizium anisopliae</em> đối với trưởng thành mọt gạo <em>Sitophilus oryzae </em>được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm. Các thử nghiệm sinh học được tiến hành bằng cách đưa 10 trưởng thành mọt gạo vào trong hộp nhựa (13 x 10 x 10 cm) có chứa 50 g gạo và 2 g nấm kí sinh côn trùng, ở nhiệt độ 25 ± 1<sup>o</sup>C và độ ẩm 70 ± 2% RH. Theo dõi tỷ lệ chết và mọc nấm trong khoảng thời gian 5 - 35 ngày sau xử lý. Đánh giá khả năng gây bệnh của 4 loài nấm ký sinh côn trùng đối với trưởng thành mọt gạo dựa vào 5 chỉ tiêu: Tỷ lệ chết, thời gian gây chết trung bình, tỷ lệ mọc nấm, chu kỳ phát triển và hình thành bào tử nấm. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá và tuyển chọn được loài nấm <em>Cordycep</em><em>s</em><em> javanica</em> có tiềm năng để ứng dụng phòng, chống mọt gạo: Tỷ lệ chết của mọt gạo 86,67 ± 2,46%; thời gian gây chết trung bình (LT<sup></sup><sub>50</sub>) 12,15 ± 0,54 ngày; tỷ lệ mọc nấm 69,23 ± 1,63%; thời gian chu kỳ phát triển 17,43 ± 0,87 ngày và nồng độ bào tử hình thành 2,3 x 10<sup>7</sup> (bào tử/mọt).</p>Thúy Nguyễn
Bản quyền (c) 2025
241018 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỠNG CỦA PHẪU DIỆN ĐẤT PHÙ SA NHIỄM MẶN CANH TÁC BƯỞI DA XANH TẠI XÃ LƯƠNG HÒA, TỈNH VĨNH LONG
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125451
<p>Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định đặc điểm hình thái và đặc tính hóa lý học của phẫu diện đất trồng bưởi da xanh tại xã Lương Hòa, tỉnh Vĩnh Long. Mô tả đặc tính hình thái dựa trên bảng so màu Munsell và phân tích hóa học được thực hiện tại Đại học Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu hình thái cho thấy, đất canh tác bưởi da xanh thuộc đất phù sa bồi, có tầng gley, nhiễm mặn nhẹ, với tên gọi Hyposali Gleyic Fluvisols. Phân tích đặc tính hóa học cho thấy, giá trị pH<sub>H2O</sub> và pH<sub>KCl</sub> các tầng mặt của 3 phẫu diện khoảng 4,47 - 5,68 và 3,64 - 4,82. Đồng thời, hàm lượng độc chất Al<sup>3+</sup> ở ngưỡng trung bình với giá trị 2,41 - 7,96 meq/100 g. Hàm lượng đạm dễ tiêu và lân dễ tiêu trong đất đạt giá trị lần lượt là 13,0 - 63,0 mg/kg và 39,2 - 547,8 mg/kg. Tuy nhiên, hàm lượng Al-P, Fe-P và Ca-P cao ở tầng đất mặt, với giá trị tương ứng 273,6 - 655,0; 63,4 - 541,5; 122,5 - 229,1 mg/kg. Hàm lượng chất hữu cơ và khả năng trao đổi cation trong đất được ghi nhận ở ngưỡng rất thấp đến trung bình. Cần cải thiện pH, EC và chất hữu cơ trên các vườn bưởi da xanh.</p>Khương Nguyễn
Bản quyền (c) 2025
241927 PHÂN LẬP VÀ ĐỊNH DANH VI KHUẨN VÙNG RỄ MỘT SỐ LOÀI LAN CÓ KHẢ NĂNG SINH TỔNG HỢP IAA (Indole-3-Acetic Acid)
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125452
<p>Trong nghiên cứu này, 44 dòng vi khuẩn đã được phân lập từ rễ của 7 loài lan bản địa trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm Đồng. Trong đó, 10 dòng vi khuẩn được xác định có khả năng tổng hợp IAA bằng phương pháp so màu với thuốc thử Salkowski. Hàm lượng IAA cao nhất được ghi nhận là 86,21 ± 1,72 mg/L do dòng vi khuẩn 1306.5 tổng hợp được. Bên cạnh đó, thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn sinh IAA đối với cây lan <em>Dendrobium</em> sp. nuôi cấy mô cho thấy, cả 10 dòng vi khuẩn đều có khả năng thúc đẩy sự phát triển hệ rễ trong 30 ngày theo dõi tốt hơn so với đối chứng. Trong đó, 1306.5 là dòng vi khuẩn mang đến hiệu quả nổi trội và được xác định thuộc chi <em>Pseudomonas</em> và có quan hệ gần gũi nhất với <em>Pseudomonas putida</em> thông qua kết quả định danh bằng phân tử và sinh hoá. Kết quả này mở ra hướng nghiên cứu ứng dụng các dòng vi khuẩn vùng rễ sinh IAA như một tác nhân hỗ trợ sinh trưởng và phát triển cây lan theo hướng bền vững, góp phần nâng cao hiệu quả canh tác và bảo tồn nguồn gen thực vật quý.</p>Tuyến Bùi
Bản quyền (c) 2025
242834NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN SẤY BỌT XỐP SẢN XUẤT BỘT TẢO Spirulina
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125453
<p>Nghiên cứu này nhằm xây dựng quy trình sấy bọt xốp thu nhận bột tảo <em>Spirulina</em> có chất lượng cao, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của một số thông số công nghệ quan trọng đến sản phẩm cuối cùng. Quy trình gồm hai giai đoạn: (i) tạo bọt từ dịch tảo và (ii) sấy lớp bọt xốp. Các yếu tố khảo sát bao gồm: Thời gian xử lý siêu âm dịch tảo (10, 20, 30, 40, 50 phút), tỷ lệ tảo: dung môi (1: 10; 1: 15; 1: 20; 1: 25; 1: 30 w/v), nồng độ chất tạo cấu trúc carboxymethyl cellulose (CMC) 0,25; 0,5; 0,75; 1%, thời gian đánh bọt 1, 3, 5, 7, 9 phút, độ dày lớp bọt 2, 3, 4, 5, 6 mm và nhiệt độ sấy 50, 60, 70, 80<sup>o</sup>C. Kết quả cho thấy, điều kiện thích hợp cho quá trình tạo bọt là thời gian siêu âm 30 phút, tỷ lệ tảo: dung môi 1: 25 (w/v), nồng độ CMC 0,75% (so với khối lượng tảo) và thời gian đánh bọt 3 phút. Trong giai đoạn sấy, lớp bọt dày 3 - 4 mm ở 70°C cho thời gian sấy khoảng 200 - 220 phút, với hiệu suất thu hồi cao (~ 91%), độ hòa tan tốt và hàm lượng protein khoảng 66,6 g/100 g chất khô cùng hàm lượng phycocyanin xấp xỉ 93,6 mg/g chất khô. So sánh với sấy chân không ở cùng nhiệt độ cho thấy, sấy bọt xốp giúp rút ngắn thời gian sấy, đồng thời bảo toàn phycocyanin tốt hơn đáng kể trong khi hiệu suất thu hồi tương đương, qua đó khẳng định tiềm năng ứng dụng của công nghệ này trong sản xuất bột tảo <em>Spirulina</em> giàu hoạt chất sinh học. Quy trình sấy bọt xốp sản xuất được xây dựng đã đáp ứng tốt mục tiêu nghiên cứu. Việc tối ưu điều kiện đánh bọt, tỷ lệ chất ổn định đã nâng cao hiệu quả sấy và bảo toàn hàm lượng protein, độ ẩm bột dưới 5%. Kết quả cho thấy, phương pháp sấy bọt xốp phù hợp để xử lý tảo <em>Spirulina</em>, giúp cải thiện tốc độ sấy, chất lượng bột thu được và là cơ sở để phát triển quy mô lớn hơn.</p>Duy Phan
Bản quyền (c) 2025
243544ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DIỆT VI KHUẨN vibrio parahaemolyticus CỦA CÁC LOẠI THẢO DƯỢC CHIẾT XUẤT BẰNG QUI TRÌNH TỐI ƯU
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125454
<p>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả diệt vi khuẩn<em> Vibrio parahaemolyticus </em>của ba loại thảo dược là trầu không (<em>P</em><em>iper</em><em> betle</em>), húng quế (<em>Ocimum basilicum</em>) và rau má (<em>Centella asiatica</em>) được chiết xuất bằng qui trình tối ưu. Ba điều kiện chiết xuất được thử nghiệm nhằm lựa chọn thông số tối ưu bao gồm: i) nồng độ dung môi ethanol (30, 50, 70, 95%); ii) thời gian ngâm mẫu (3, 5, 7, 9 ngày); iii) tỷ lệ giữa khối lượng mẫu thảo dược (g) và dung tích dung môi (mL) (1 : 10, 1 : 20, 1 : 30, 1 : 40). Kết quả nghiên cứu đã xác định được quy trình chiết xuất tối ưu bao gồm các thông số: (i) dung môi ở nồng độ 70%; (ii) thời gian ngâm trong 7 ngày; (iii) tỷ lệ 1 : 30 cho trầu không và húng quế, tỷ lệ 1 : 40 cho rau má. Sau đó, dịch chiết từ quy trình tối ưu được so sánh với dịch chiết từ qui trình chưa tối ưu để xác định đường kính vòng vô khuẩn (ZDI), nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) và khả năng diệt vi khuẩn <em>V. parahaemolyticus</em> đang trong giai đoạn tăng sinh. Quá trình tối ưu đã giúp gia tăng ZDI của dịch chiết trên vi khuẩn lên đến 1,5 lần (<em>P</em> < 0,05), cũng như giảm đến 2 lần các thông số MIC và MBC. Ngoài ra, dịch chiết từ qui trình tối ưu cũng giúp giảm đến 10 lần lượng vi khuẩn đang trong giai đoạn tăng sinh (<em>P</em> < 0,05) so với dịch chiết từ qui trình chưa được tối ưu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả diệt vi khuẩn của thảo dược từ qui trình chiết xuất tối ưu được gia tăng và tiềm năng sử dụng chúng trong xử lý <em>V. parahaemolyticus</em> ở ao nuôi tôm.</p>Thành Nguyễn
Bản quyền (c) 2025
244554 PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ ƯỚC TÍNH NHU CẦU TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG (Litopenaeus vanamei) THEO TIÊU CHUẨN ASC
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125455
<p>Nghiên cứu thực hiện trên 39 hộ nuôi tôm thẻ chân trắng với 75 ao nuôi theo 2 mô hình (ao đất – MHAĐ, ao lót bạc – MHALB) tại một Hợp tác xã trên địa bàn huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu. Nghiên cứu tiến hành so sánh hiệu quả tài chính và năng lượng (NL) giữa MHAĐ và MHALB theo tiêu chuẩn Aquaculture Stewardship Council trong năm 2023. Dữ liệu thu thập trên 75 ao nuôi đang hoạt động bao gồm chi phí, doanh thu, lợi nhuận và tiêu thụ NL. Kết quả cho thấy MHALB tiêu thụ NL 29.396 ± 10.763 MJ/1.000 m², tương ứng với 6.904 ± 3.433 MJ/tấn tôm tại cổng trang trại cao hơn MHAĐ 4,42 và 1,48 lần. Trong tổng chi phí, chi phí thức ở MHALB chiếm tỷ lệ cao nhất với 80,4%, tương đương 301.026.396 ± 118.027.958 đồng/1.000 m<sup>2</sup>/đợt, trong khi AĐ có chi phí thức ăn là 173.025.132 ± 58.520.839 đồng/1.000 m<sup>2</sup>/đợt, chiếm 82,6%. Phân tích hiệu quả tài chính cho thấy mặc dù MHALB có doanh thu cao hơn 1,74 lần MHAĐ, nhưng mỗi đồng đầu tư vào MHAĐ mang lại lợi nhuận cao hơn so với MHALB. Sự chênh lệch trong tiêu thụ NL và hiệu quả chi phí giữa hai MH khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra quyết định đầu tư MH nuôi dựa trên tổng hợp tiêu chí kinh tế (hiệu quả tài chính) và tác động môi trường (giá trị NL tiêu thụ).</p>Liêm Lê
Bản quyền (c) 2025
245568 ẢNH HƯỞNG NỒNG ĐỘ ĐẠM VÀ LÂN ĐẾN HIỆU SUẤT XỬ LÝ NƯỚC THẢI SAU BIOGAS CỦA BÈO TAI CHUỘT (Salvinia molesta)
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125456
<p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tiềm năng xử lý nước thải sau biogas của bèo tai chuột (<em>Salvinia molesta</em>). Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện nhà lưới với 6 nghiệm thức là tỷ lệ pha loãng nước thải sau biogas (NT) từ hộ chăn nuôi heo với nước sông (NS) bao gồm: 5% NT + 95% NS (NT1), 10% NT + 90% NS (NT2), 20% NT + 80% NS (NT3), 30% NT + 70% NS (NT4), 40% NT + 60% NS (NT5) và 50% NT + 50% NS (NT6). Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Mật độ bèo 158 g/thùng (tương đương với 158 g cho 0,15 m<sup>2</sup> diện tích xử lý) được áp dụng để xử lý nước thải với thể tích mỗi thùng là 35 L (25 cm). Thời gian lưu nước trong hệ thống được thiết lập 15 ngày và mẫu nước được thu định kỳ 5 ngày/lần. Sau 15 ngày vận hành, các chỉ tiêu chất lượng nước đầu ra gồm: pH, COD, TP đều đạt trong giới hạn cho phép theo QCVN 62:2025/BTNMT (cột B). Hiệu suất xử lý COD của các nghiệm thức NT1, NT2, NT3, NT4, NT5, NT6 lần lượt đạt 77,2; 72,1; 79,4; 75,6; 82,8; 72,5%. Tương tự, hiệu suất loại bỏ tổng đạm vô cơ (TIN) đạt 98,1; 98,4; 98,8; 99,0; 99,1; 98,6% và TP được loại bỏ với hiệu suất tương ứng là 96,5; 86,6; 98,3; 96,3; 98,1; 90,3%. Trong đó, NT3, NT4, NT5 cho hiệu quả xử lý đồng thời COD, TIN và TP tốt nhất. Điều này cho thấy, nồng độ đầu vào khoảng 216,0 - 248,0 mg COD/L, 13,9 - 29,7 mg TIN/L và 5,2 - 8,3 mg TP/L của NT3, NT4, NT5 là tối ưu cho hoạt động hấp thu của bèo tai chuột cũng như các quá trình vi sinh vật cộng sinh, giúp hệ thống vận hành ổn định và đạt hiệu quả xử lý vượt trội. Khối lượng tươi bèo tăng gấp 2,08 - 2,18 lần sau 15 ngày và các tỷ lệ pha loãng không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Xử lý bằng bèo tai chuột là giải pháp sinh học hiệu quả, chi phí thấp, dễ áp dụng cho hộ gia đình đồng bằng sông Cửu Long trong mô hình VACB.</p>Trang Ngô
Bản quyền (c) 2025
246981 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẤP NƯỚC TRÀ NÓC - Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125457
<p>Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các yếu tố chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ cấp nước tại Công ty Cổ phần Cấp nước Trà Nóc - Ô Môn. Xuất phát từ thực tế Công ty còn tồn tại nhiều hạn chế như: Thất thoát nước cao, áp lực nước không ổn định, thủ tục phức tạp và dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt nhưng tính chuyên nghiệp còn hạn chế, nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng, thực hiện khảo sát 70 hộ dân đang sử dụng dịch vụ cấp nước. Sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến bằng phần mềm XLSTAT. Kết quả cho thấy, mô hình phù hợp và giải thích được 51,9% sự biến thiên của sự hài lòng (R² hiệu chỉnh = 0,519). Ba yếu tố có tác động tích cực đến sự hài lòng gồm: Phương tiện hữu hình, sự tin cậy và tính chuyên nghiệp, độ an toàn. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy, Công ty Cổ phần Cấp nước Trà Nóc - Ô Môn cần tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng, tăng tính chuyên nghiệp và đảm bảo chất lượng nguồn nước; đồng thời đơn giản hóa quy trình và cải thiện thái độ phục vụ để nâng cao sự hài lòng của khách hàng và phát triển bền vững trong tương lai.</p>Minh Huỳnh
Bản quyền (c) 2025
248292 ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI SỬ DỤNG CÁC LOÀI CÂY RỪNG QUÝ HIẾM TẠI VÙNG ĐỆM KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
https://vjol.info.vn/index.php/tcnongnghiepmoitruong-vie/article/view/125458
<p>Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm kinh tế - xã hội và nhận thức, hành vi sử dụng các loài cây rừng quý, hiếm của cộng đồng và cán bộ quản lý tại vùng đệm Khu Dự trữ Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu được thu thập từ 96 phiếu điều tra được và xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0, sử dụng thống kê mô tả, tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy, trình độ học vấn và nghề nghiệp là những biến quan trọng ảnh hưởng rõ đến nhận thức và hành vi sử dụng/mức độ sử dụng các loài cây rừng quý, hiếm. Nhóm cán bộ đạt điểm nhận thức cao hơn và có xu hướng sử dụng thận trọng hơn, trong khi người dân có tần suất khai thác cao hơn/thường xuyên hơn, đặc biệt đối với các loài gỗ quí và cây dược liệu có giá trị kinh tế. Mô hình hồi quy chỉ ra ba biến trình độ học vấn (β = 0,372), nghề nghiệp (β = 0,415) và nhóm đối tượng (người dân/cán bộ) (β = -0,327), với R² hiệu chỉnh đạt 0,41 biến thiên trong nhận thức và hành vi sử dụng. Thực trạng khai thác ở mức cao đối với một số loài hàm chứa nguy cơ suy giảm nguồn gen ngoài tự nhiên. Nghiên cứu đề xuất cần lồng ghép truyền thông - giáo dục, phát triển sinh kế bền vững và cơ chế đồng quản lý giữa cơ quan quản lý với cộng đồng địa phương trong các chiến lược bảo tồn và sử dụng hợp lý các loài cây rừng quý, hiếm ở vùng đệm khu bảo tồn.</p>Hà Đặng
Bản quyền (c) 2025
2493100