https://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/issue/feedTạp chí Vật liệu và Xây dựng2025-12-30T05:57:18+07:00Hoàng Thuý Hồng Anhcontact@jomc.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Viện Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng</strong></p>https://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125076Ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong đánh giá độ bền vật liệu ô tô: Tiềm năng và xu hướng phát triển2025-12-30T05:56:13+07:00Nguyễn Đức Quýnguyenducquy@dntu.edu.vnNguyễn Hải Trânnguyenducquy@dntu.edu.vn<p>Trong bối cảnh ngành công nghiệp ô tô chuyển dịch mạnh mẽ sang các xu hướng xe điện, xe tự hành và phát triển bền vững, việc kiểm định và đánh giá độ bền vật liệu ngày càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo an toàn, tối ưu hiệu suất và giảm chi phí sản xuất. Các phương pháp kiểm định truyền thống như thử cơ học (kéo, nén, mỏi, va chạm) và kiểm định không phá hủy (siêu âm, X-quang, từ trường) tuy đã được ứng dụng rộng rãi nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như chi phí cao, thời gian kéo dài và khó dự đoán chính xác trong điều kiện vận hành thực tế. Sự phát triển của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đã mở ra những cơ hội mới, trong đó các công cụ mô phỏng số như CAE (Computer-Aided Engineering), FEM (Finite Element Method) hay mô hình song sinh số (Digital Twin) cho phép dự đoán hành vi vật liệu trong nhiều kịch bản vận hành khác nhau. Đồng thời, các thuật toán học máy (Machine Learning) và học sâu (Deep Learning) đã chứng minh hiệu quả trong việc xử lý dữ liệu lớn, nhận dạng vi cấu trúc vật liệu, phát hiện hư hỏng từ hình ảnh hoặc tín hiệu cảm biến. Bài báo này tập trung tổng quan các nghiên cứu gần đây về ứng dụng công nghệ số và AI trong kiểm định độ bền vật liệu ô tô, đồng thời so sánh với một số ứng dụng trong lĩnh vực xây dựng nhằm rút ra những bài học liên ngành. Trên cơ sở đó, bài báo thảo luận ưu điểm, thách thức và đưa ra xu hướng phát triển tương lai, hướng tới hệ thống kiểm định vật liệu thông minh, tự động hóa và bền vững.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125078Tình hình sử dụng và các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong sản xuất clanhke xi măng tại Việt Nam2025-12-30T05:56:18+07:00Phan Văn Quỳnhphanvanquynh.nuce@gmail.comNguyễn Văn HoanHoannv81@gmail.com<p>Ngành công nghiệp xi măng Việt Nam hiện có quy mô công suất lớn. Ngành công nghiệp xi măng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội nhưng cũng là một trong những lĩnh vực tiêu thụ năng lượng và phát thải khí nhà kính cao nhất của khối công nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng tiêu thụ năng lượng (nhiệt năng và điện năng) trong sản xuất clanhke xi măng tại Việt Nam. Kết quả khảo sát tại các nhà máy xi măng cho thấy mức tiêu hao nhiệt năng trung bình khoảng 824 kcal/kg clanhke và điện năng khoảng 61,8 kWh/tấn clanhke. Các dây chuyền công suất lớn, áp dụng đồng bộ các giải pháp tiết kiệm năng lượng và thu hồi nhiệt thải (WHR) đạt mức tiêu hao thấp hơn rõ rệt so với các dây chuyền nhỏ, công nghệ cũ.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125079Tối ưu hình dạng kết cấu của nhóm cọc móng cầu nước sâu2025-12-30T05:56:20+07:00Nguyễn Trường Chinhtoinq@utt.edu.vnNguyễn Quốc Tớitoinq@utt.edu.vn<p>Nghiên cứu này phân tích tính toán phản ứng sóng gây ra của cọc và đài cọc. Sau khi hiểu được ảnh hưởng của chiều dài cọc, ba móng tối ưu được đề xuất nhằm mục đích giảm chiều dài tự do của cọc và thiết lập các mô hình phần tử hữu hạn tương ứng để so sánh phản ứng do sóng gây ra của chúng. Kết quả cho thấy chuyển vị ở đỉnh móng tăng theo chiều dài cọc tăng cho đến khi phần đài nổi lên khỏi mặt nước và nội lực ở đáy cũng tăng theo. Việc đặt liên kết ở giữa cọc có thể làm giảm chiều dài tự do của cọc và thuận lợi cho phản ứng do sóng gây ra của móng ngoại trừ lực cắt. Một liên kết cứng hơn cho thấy hiệu quả tốt hơn trong việc cải thiện độ ổn định của móng. Kết luận này cung cấp tài liệu tham khảo cho việc tối ưu hóa móng cọc của các cầu nước sâu.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125083Đánh giá tiềm năng ứng dụng các giải pháp năng lượng mặt trời cho một tòa nhà văn phòng được giả định xây dựng tại 07 vùng khí hậu ở Việt Nam2025-12-30T05:56:23+07:00Nguyễn Đức Lượngluongnd@huce.edu.vnNguyễn Công Thịnhluongnd@huce.edu.vnNguyễn Hoàng Hiệpluongnd@huce.edu.vnVũ Việt Hàluongnd@huce.edu.vn<p>Nghiên cứu này phân tích và đánh giá tiềm năng ứng dụng các giải pháp năng lượng mặt trời (NLMT) (tấm pin NLMT được lắp đặt trên mái và hệ thống quang điện tích hợp tòa nhà (BIPV)) cho một tòa nhà văn phòng được giả định xây dựng tại 07 vùng khí hậu khác nhau ở Việt Nam bao gồm vùng Tây Bắc (vùng I), vùng Trung du - miền núi Việt Bắc và Đông Bắc (vùng II), vùng Đồng bằng Bắc Bộ (vùng III), vùng Bắc Trung Bộ (vùng IV), vùng Nam Trung Bộ (vùng V), vùng Tây Nguyên (vùng VI) và vùng Nam Bộ (vùng VII). Theo đó, cường độ sử dụng năng lượng của tòa nhà văn phòng giả định xây dựng tại 07 vùng khí hậu được đánh giá sử dụng công cụ mô phỏng năng lượng theo các kịch bản khác nhau: kịch bản cơ sở (không ứng dụng giải pháp NLMT) và các kịch bản tiết kiệm năng lượng (có ứng dụng các giải pháp NLMT theo các trường hợp khác nhau). Kết quả mô phỏng năng lượng theo các kịch bản khác nhau nhìn chung cho thấy việc ứng dụng các giải pháp tấm pin NLMT lắp đặt trên mái hoặc BIPV cho tòa nhà văn phòng có tiềm năng sản xuất một lượng điện năng đáp ứng nhu cầu sử dụng năng lượng tương đối lớn của tòa nhà văn phòng. Đặc biệt, khi kết hợp sử dụng đồng thời tấm pin NLMT lắp đặt trên mái và hệ thống BIPV thì mức tiết kiệm năng lượng của tòa nhà văn phòng rất lớn và trong một số trường hợp lượng điện năng sản xuất được từ các tấm pin NLMT hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu năng lượng của tòa nhà văn phòng. Khi xem xét các vùng khí hậu khác nhau, kết quả mô phỏng năng lượng cho thấy mức tiết kiệm năng lượng của tòa nhà văn phòng ứng dụng các giải pháp tấm pin NLMT lắp đặt trên mái hoặc BIPV cũng có sự khác nhau và một trong những nguyên nhân là sự khác nhau về tổng số giờ nắng trong năm của các địa phương/vùng khí hậu.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125084Đánh giá hiệu quả kinh tế quy trình công nghệ sản xuất sơn silicat trong điều kiện Việt Nam2025-12-30T05:56:25+07:00Vũ Văn Phongvuvanphong110799@gmail.comNguyễn Quốc Toảntoannq@huce.ed.vnLê Mạnh Cườngcuonglm@huce.edu.vn<p>Đánh giá hiệu quả kinh tế quy trình công nghệ sản xuất Sơn Silicat là một trong những nội dung quan trọng, hết sức cần thiết với ngành vật liệu nói chung và ngành sơn nói riêng hiện nay. Quy trình công nghệ sản xuất Sơn Silicat được cải tiến giúp tăng hiệu quả bảo vệ, trang trí đồng thời giảm giá thành và an toàn hơn cho sức khỏe con người. Các tác giả sử dụng phương pháp phân tích thị trường vốn không hoàn hảo với bài toán dự án đầu tư cụ thể để đánh giá hiệu quả kinh tế quy trình công nghệ sản xuất Sơn Silicat trong điều kiện Việt Nam. Các chỉ tiêu giá trị tương lai của hiệu số thu chi (<em>NFV</em>) và suất thu lợi hỗn hợp (<em>CRR</em>) được sử dụng để đánh giá. Kết quả của bài toán sẽ hỗ trợ đánh giá đúng hiệu quả kinh tế mà quy trình sản xuất Sơn Silicat đem lại, là cơ sở để đẩy mạnh sự chuyển giao công nghệ ngành sơn tại Việt Nam, hướng tới một ngành công nghiệp sản xuất ra những vật liệu sạch bảo vệ môi trường và hướng tới mục tiêu phát triển ngành xây dựng bền vững ở Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125087Vi nhựa trong nước uống: Hiện trạng và giải pháp2025-12-30T05:56:28+07:00Phạm Văn Tớitoipv@huce.edu.vnPhạm Văn Địnhtoipv@huce.edu.vnĐỗ Văn Mạnhtoipv@huce.edu.vnLê Xuân Thanh Thảotoipv@huce.edu.vnNguyễn Thị Thu Trangtoipv@huce.edu.vnLê Thị Thanh Antoipv@huce.edu.vnVũ Thị Thanh Huyềntoipv@huce.edu.vn<p>Vi nhựa đã được phát hiện trong các đại dương, biển và các vùng nước ngọt trên toàn thế giới trong những năm gần đây; tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về nồng độ của vi nhựa trong nước uống hàng ngày và các công nghệ loại bỏ chúng để bảo vệ sức khỏe con người. Các quá trình xử lý nước trong nhà máy xử lý nước uống như lắng, đông tụ, lọc màng, ... góp phần làm giảm thiểu nồng độ vi nhựa trong nước uống nhưng vẫn còn nhiều thách thức đối với hiệu suất của các quy trình xử lý vi nhựa này. Vì vậy, bài báo này tổng hợp những thông tin hiện có về vi nhựa trong các nguồn nước uống, đồng thời đưa ra một số giải pháp xử lý vi nhựa được áp dụng trên thế giới và các thách thức khi áp dụng các công nghệ này nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình xử lý.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125090Gạch bông trong bối cảnh phát triển vật liệu xây dựng không nung ở Việt Nam2025-12-30T05:56:30+07:00Trần Thị Thanh Tuyềntuyentth@hcmue.edu.vn<p>Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược phát triển vật liệu xây dựng không nung nhằm giảm thiểu phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, gạch bông xi măng thủ công – một loại vật liệu trang trí được sản xuất từ xi măng và bột đá mà không qua nung – đang thể hiện nhiều tiềm năng về hiệu quả môi trường và giá trị thẩm mỹ – văn hóa. Mặc dù các dòng vật liệu xây dựng không nung công nghiệp như gạch xi măng cốt liệu, bê tông khí chưng áp hay tấm panel nhẹ đã được nghiên cứu sâu, song chưa có công trình nào phân tích có hệ thống vai trò của gạch bông trong cấu trúc hệ vật liệu xanh của Việt Nam, đặc biệt về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kỹ thuật – năng lượng – văn hóa với bộ tiêu chí công trình xanh (LEED, LOTUS). Bằng phương pháp phân tích chính sách, tổng hợp tài liệu và khảo sát thực tiễn tại các cơ sở sản xuất gạch bông, nghiên cứu này làm rõ giá trị kỹ thuật, môi trường và di sản của gạch bông trong bối cảnh chuyển đổi xanh. Kết quả cho thấy gạch bông – do không nung – giúp giảm 40–60% phát thải CO₂, tiết kiệm 60–70% năng lượng, có cường độ nén đạt 20–25 MPa và khả năng tái sử dụng cao. Từ đó, nghiên cứu đề xuất khung phát triển “Gạch bông xanh” nhằm kết hợp công nghệ hiện đại với giá trị thủ công truyền thống, góp phần nâng cao vị thế của vật liệu di sản trong hệ sinh thái vật liệu xây dựng không nung Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125091Nghiên cứu ứng xử chịu chọc thủng của sàn phẳng bê tông cốt thép có lỗ mở2025-12-30T05:56:32+07:00Nguyễn Quang Sĩsinq_ph@utc.edu.vnNguyễn Hoàng Quânquannh_ktxd@utc.edu.vnNguyễn Xuân Huynguyenxuanhuy@utc.edu.vnLê Đăng Dũngledangdung@utc.edu.vn<p>Sàn phẳng bê tông cốt thép (BTCT) được áp dụng nhiều trong các công trình dân dụng hiện đại do có thể linh hoạt trong bố trí kiến trúc, thi công nhanh và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, loại sàn này có thể bị phá hoại đột ngột, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của lỗ mở gần vị trí cột/ vách. Nghiên cứu này đánh giá khả năng chống chọc thủng của sàn phẳng BTCT có lỗ mở theo các tiêu chuẩn ACI 318 – 19, Eurocode 2, BS 8110 – 1997, đồng thời so sánh với kết quả thực nghiệm đã được công bố. Sau đó, mô hình phần tử hữu hạn dùng phần mềm Cast3M được xây dựng để mô phỏng ứng xử chọc thủng của loại sàn này. Mô hình cho thấy sự tương đồng với kết quả thực nghiệm về các phương diện đường cong lực – chuyển vị, lực – biến dạng và dạng phá hoại mẫu. Kết quả chỉ ra rằng, lỗ mở gần cột làm giảm đáng kể khả năng chọc thủng của sàn, khi dịch chuyển vị trí lỗ mở ra xa cột thì sức kháng chọc thủng có thể tăng lên 15%. Ngoài ra, sàn có lỗ mở hình tròn có khả năng chịu chọc thủng lớn hơn khoảng 10% so với sàn có lỗ mở hình vuông và chữ nhật khi diện tích các lỗ mở là tương đương.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125092Nghiên cứu tận dụng xỉ đáy lò của nhà máy đốt rác sinh hoạt làm cốt liệu nhỏ trong bê tông2025-12-30T05:56:35+07:00Nguyễn Văn Tuyếnnvtuyen@ctu.edu.vnNguyễn Đình Giang Namnvtuyen@ctu.edu.vnHoàng Vĩ Minhnvtuyen@ctu.edu.vnLê Văn Toànnvtuyen@ctu.edu.vnTrần Quốc Vinhnvtuyen@ctu.edu.vn<p>Nghiên cứu này đánh giá khả năng tận dụng xỉ đáy lò của nhà nhà máy đốt rác sinh hoạt làm cốt liệu nhỏ thay thế cát để chế tạo bê tông ứng dụng trong thực tế. Trong nghiên cứu này, xỉ đáy lò được sử dụng để thay thế cát tự nhiên trong cấp phối gạch ở các tỷ lệ 0%, 10%, 20%, 30%, (theo khối lượng). Đồng thời, ảnh hưởng của các hàm lượng xỉ đáy lò khác nhau đến các tính chất kỹ thuật của bê tông như cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn, độ hút nước và độ co khô cũng được đánh giá theo chỉ dẫn của các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành. Kết quả phân tích các chỉ tiêu kim loại nặng của xỉ đáy lò của nhà máy đốt rác sinh hoạt có giá trị dưới ngưỡng quy chuẩn QCVN 07:2009/BTNMT. Như vậy, xỉ đáy lò có thể an toàn sử dụng như cốt liệu thay cát tự nhiên để chế tạo bê tông. Kết quả nghiên cứu cho thấy với hàm lượng xỉ đáy lò thay thế cát tự nhiên 30% theo khối lượng đáp ứng một số yêu cầu chính theo các TCVN hiện hành và đạt chuẩn Bê tông M20, có thể ứng dụng thực tế vào lĩnh vực xây dựng. Tuy nhiên, để có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tế, cần nghiên cứu sâu hơn ảnh hưởng của xỉ đáy lò khi thay thế cốt liệu cát đến các tính chất của bê tông khi hàm lượng thay thế cát lớn hơn 30%.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125094Nghiên cứu về đóng góp của các dự án xây dựng khi áp dụng BIM tới tăng trưởng kinh tế tại Hà Nội2025-12-30T05:56:37+07:00Lê Minh Thoathoalm@tlu.edu.vnLâm Hải Hòathoalm@tlu.edu.vnNguyễn Thanh Huyềnthoalm@tlu.edu.vnNguyễn Thanh Tuyềnthoalm@tlu.edu.vn<p>Trong thời đại chuyển đổi số toàn cầu đang bùng nổ và ngành xây dựng Việt Nam không ngừng đối mặt với áp lực trong việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí và tối ưu hoá tiến độ dự án, việc ứng dụng Mô hình thông tin công trình (BIM – Building Information Modeling) đã trở thành một yếu tố chiến lược và cấp thiết. Quyết định số 258/QĐ-TTg về áp dụng BIM trong các dự án sử dụng vốn nhà nước và vốn đầu tư công, đã chỉ ra rõ ngành xây dựng cần phải nắm bắt và triển khai công nghệ số này ngay từ giai đoạn đầu của quá trình đầu tư. BIM là một quy trình làm việc toàn diện, cho phép tích hợp tất cả dữ liệu liên quan từ thiết kế, thi công đến vận hành và bảo trì công trình. Qua đó, mọi thông tin được số hoá và lưu trữ một cách thống nhất, giúp các bên liên quan có thể phối hợp chặt chẽ, giảm thiểu sai sót, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong việc ra quyết định. Nghiên cứu các dự án xây dựng áp dụng BIM vào tăng trưởng kinh tế ở Hà Nội.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125096Giới thiệu tiêu chuẩn sơn Silicat2025-12-30T05:56:39+07:00Vũ Thị DuyênVuduyenvibm@gmail.com<p>Tiêu chuẩn về yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử của “Sơn silicat” được xây dựng dựa trên tham khảo các tiêu chuẩn nước ngoài JG/T 26:2002 của Trung Quốc và JIS A 6909:2014 của Nhật. Trong tiêu chuẩn này, sơn được phân thành hai loại theo mục đính sử dụng, mỗi loại đưa ra các chỉ tiêu quy định với mức yêu cầu chất lượng khác nhau.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125097Chuẩn hóa tỷ lệ giảm giá đấu thầu xây dựng theo quy mô và thời gian tại Thành phố Hồ Chí Minh2025-12-30T05:56:40+07:00Lê Thị Thanh Trâmlethithanhtram@tdtu.edu.vn<p>Bài báo đề xuất một khung chuẩn hóa tỷ lệ giảm giá trong đấu thầu xây lắp theo hai chiều đồng thời: quy mô gói thầu (S) và thời gian thực hiện (T). Trên bộ dữ liệu 201 gói thầu tại TP. Hồ Chí Minh (2023-2024), tác giả phân tầng theo tertile để hình thành ma trận SXT, từ đó xây dựng bộ chuẩn phân vị P25-P50-P75 cho từng ô. Phương pháp kết hợp thống kê bền vững (trung vị, khoảng tứ phân vị) với kiểm định Kruskal-Wallis và cỡ ảnh hưởng ε² nhằm bảo đảm suy luận ổn định trước phân bố lệch và ngoại lệ. Kết quả cho thấy khi xét từng chiều đơn lẻ (S hoặc T), khác biệt về phân bố tỷ lệ giảm giá không đạt ý nghĩa và có cỡ ảnh hưởng rất nhỏ; ngược lại, trong không gian S×T nổi lên tương tác: một số tổ hợp (ví dụ quy mô lớn với thời hạn vừa phải) cho mức giảm giá cao, trong khi tổ hợp khác (ví dụ quy mô nhỏ kéo dài) cho mức giảm giá thấp. Từ các ước lượng, bài báo biên soạn bảng tham chiếu theo S×T, giúp phân loại nhanh quan sát vào ba trạng thái “thấp-điển hình-cao” phù hợp cấu hình gói. Dựa trên kết quả này, nghiên cứu đưa ra bộ chuẩn phân vị theo quy mô x thời hạn hỗ trợ chủ đầu tư làm cơ sở đánh giá khách quan, nhận diện bất thường về mức giảm giá, đồng thời giúp nhà thầu có chuẩn tham chiếu thị trường tối ưu hóa chiến lược chào giá theo cấu hình gói, cân đối rủi ro-lợi nhuận và định vị năng lực cạnh tranh.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125098Nghiên cứu đánh giá khả năng sử dụng xỉ nhiệt điện và đá bazan chế tạo xi măng theo tiêu chuẩn Châu Âu2025-12-30T05:56:43+07:00Lê Văn Tiếnvantien.le526@gmail.comNguyễn Văn HoanHoannv81@gmail.com<p>Trong bối cảnh ngành công nghiệp xi măng đang đối mặt với yêu cầu giảm phát thải CO₂, việc sử dụng phụ gia khoáng là giải pháp quan trọng để giảm tỷ lệ sử dụng clanhke và cải thiện tính chất bền lâu của xi măng. Do trong tiêu chuẩn EN 197-1 không quy định đối với một số nguồn phụ gia khoáng đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam như xỉ nhiệt điện, đá bazan, v.v… Vấn đề nghiên cứu sử dụng đá bazan và xỉ nhiệt điện làm phụ gia cho xi măng theo EN 197-1 có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với việc sử dụng nguồn phụ gia này, khi hệ thống tiêu chuẩn Quốc gia về xi măng Việt Nam đang được xây dựng theo định hướng tương đồng với tiêu chuẩn châu Âu EN 197-1. Bài báo này trình bày các kết quả nghiên cứu đánh giá tính chất và khả năng sử dụng sản xuất xi măng poóc lăng CEM II theo tiêu chuẩn EN 197-1 của một số nguồn xỉ nhiệt điện (tro đáy) và đá bazan đang được sử dụng tại các nhà máy xi măng Việt Nam, các số liệu thí nghiệm sử dụng trong bài báo này trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ Xây dựng RD 17-24.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125099Giới thiệu bộ tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử cho viên xây theo định hướng mới2025-12-30T05:56:45+07:00Nguyễn Minh Quỳnhsennguyen.hdbk@gmail.comNguyễn Thị Sensennguyen.hdbk@gmail.com<p>Viên xây là vật liệu cơ bản, có ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền kết cấu và chất lượng công trình xây dựng. Tuy nhiên, hệ thống TCVN trước đây còn nhiều hạn chế khi chỉ tập trung vào một số sản phẩm truyền thống, thiếu đồng bộ và chưa cập nhật các chỉ tiêu quan trọng như độ bền băng giá, hệ số giãn nở ẩm hay hàm lượng muối hòa tan hoạt tính,.. Trước yêu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế, Bộ Xây dựng đã giao nhiệm vụ xây dựng hai bộ tiêu chuẩn mới: TCVN X771 – Yêu cầu kỹ thuật và TCVN X772 – Phương pháp thử, được biên soạn trên cơ sở chuyển dịch, có điều chỉnh từ EN 771 và EN 772, đồng thời tham khảo ASTM và ISO. Bộ TCVN X771 gồm 6 phần quy định kỹ thuật cho các loại viên xây chính, trong khi TCVN X772 gồm 19 phần về phương pháp thử, đảm bảo tính thống nhất và khả thi trong áp dụng. Kết quả thử nghiệm kiểm chứng tại Việt Nam cho thấy các chỉ tiêu mới đều khả thi và có độ tin cậy cao. Việc ban hành hai bộ tiêu chuẩn này không chỉ khắc phục khoảng trống trong hệ thống hiện hành mà còn tạo cơ sở khoa học và pháp lý vững chắc, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo độ bền công trình và thúc đẩy hội nhập quốc tế của ngành vật liệu xây dựng Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125100Ảnh hưởng của cát nghiền đến một số tính chất của bê tông2025-12-30T05:56:47+07:00Phan Văn Quỳnhphanvanquynh.nuce@gmail.comNguyễn Văn ĐoànDoan.vibm@gmail.comDương Thanh Quiquiduongthanh@gmail.com<p>Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của các loại cát nghiền (cát nghiền đá vôi, cát nghiền đá granite, cát nghiền đá bazan) khi thay thế cát sông đến một số tính chất của bê tông, bao gồm: lượng nước trộn, khả năng duy trì độ sụt, khối lượng thể tích hỗn hợp bê tông, cường độ nén ở 7 ngày và 28 ngày và cường độ uốn 28 ngày. Kết quả cho thấy bê tông sử dụng cát nghiền nhìn chung có cường độ nén và cường độ uốn cao hơn so với sử dụng cát sông, đặc biệt rõ rệt với cát nghiền đá granite và cát nghiền đá vôi; trong khi đó, bê tông dùng cát nghiền đá bazan có cường độ thấp hơn ở tuổi sớm nhưng được cải thiện ở 28 ngày. Tuy nhiên, việc thay thế cát sông bằng cát nghiền làm giảm độ sụt, khả năng giữ độ sụt kém hơn, đồng thời làm tăng lượng nước trộn do đặc điểm hạt góc cạnh và hàm lượng hạt mịn cao. So sánh giữa các loại cát nghiền cho thấy: cát nghiền đá granite cho cường độ nén cao nhất (R<sub>28</sub> đạt 67,85 MPa với cấp phối M400), cát nghiền đá vôi cũng làm gia tăng đáng kể cường độ, trong khi cát nghiền đá bazan có xu hướng làm giảm tính công tác và tăng lượng nước trộn, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu về cường độ của bê tông.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125101Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của loại và hàm lượng sợi thép đến khả năng chịu kéo của bê tông cường độ siêu cao2025-12-30T05:56:48+07:00Đặng Văn Phidangvanphi@humg.edu.vn<p>Bê tông cường độ siêu cao (UHPC) là vật liệu có tính năng cơ học vượt trội, đặc biệt là cường độ nén và độ bền lâu, tuy nhiên khả năng chống nứt sau khi vượt qua giới hạn đàn hồi vẫn còn hạn chế. Việc bổ sung sợi thép là một giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng chịu kéo và cải thiện tính dẻo sau nứt của UHPC. Nghiên cứu này trình bày ảnh hưởng của loại và hàm lượng sợi thép đến đặc tính chịu kéo của UHPC thông qua thí nghiệm với ba loại sợi thép khác nhau (tròn trơn, xoắn và có móc hai đầu), ứng với ba mức hàm lượng theo thể tích (0,5%, 1,0% và 1,5%). Kết quả cho thấy, cường độ chịu kéo tại thời điểm xuất hiện vết nứt đầu tiên của UHPC không thay đổi đáng kể giữa các tổ hợp. Tuy nhiên, cường độ kéo sau nứt, biến dạng dẻo và khả năng hấp thụ năng lượng đều tăng đáng kể khi hàm lượng sợi thép tăng. Đặc biệt, sợi thép xoắn và sợi thép có móc hai đầu thể hiện hiệu quả vượt trội so với sợi thép tròn trơn nhờ khả năng tạo liên kết cơ học tốt hơn với vữa bê tông. Các kết quả cho thấy hình dạng và tỷ lệ sợi đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao hiệu suất cơ học tổng thể của UHPC dưới tác động kéo.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125102Một đánh giá định lượng về sự phân bố và khả năng tiếp cận đến các cơ sở dịch vụ trong vùng đệm của tuyến Metro số 01 Bến Thành – Suối Tiên2025-12-30T05:56:50+07:00Phạm Chánh Toànpctoan.sdh241@hcmut.edu.vnNguyễn Xuân Longnxlong@hcmut.edu.vn<p>Quy hoạch đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD) là một trong những chiến lược quan trọng nhằm hướng đến phát triển đô thị bền vững. Không chỉ mang lại lợi ích lớn trong việc di chuyển, hệ thống Metro còn có tác động mạnh mẽ đến vùng phát triển xung quanh nhà ga, trong vùng ảnh hưởng có thể lên đến 2km. Bến Thành – Suối Tiên là tuyến Metro đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh, mang ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi hành vi di chuyển, thúc đẩy giá trị sử dụng đất và dịch vụ, cũng như hướng đến phát triển bền vững. Nghiên cứu này với mục tiêu áp dụng 2 nhóm chỉ số chính về sử dụng đất và khả năng tiếp cận đến nhà ga, đánh giá qua 2 khía cạnh này cho 14 nhà ga thuộc tuyến Metro Bến Thành – Suối Tiên. Dữ liệu được thu thập qua 2 hình thức chính là quay video hiện trường kết hợp bảng hỏi khảo sát. Nghiên cứu áp dụng phân tích tương quan, thuật toán phân cụm K-means, và biểu đồ radar nhằm phân tích các đặc điểm và mối liên hệ tiềm năng giữa các biến quan sát. Kết quả cho thấy 14 nhà ga được phân loại thành 2 cụm với những đặc điểm khác nhau về mức độ phát triển và khả năng tiếp cận. Đóng góp một góc nhìn quan trọng trong việc triển khai các chiến lược quy hoạch đô thị trong tương lai.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125104Giải pháp giảm thiểu phát thải các-bon vận hành trong các tòa nhà văn phòng2025-12-30T05:56:52+07:00Nguyễn Thị Huệhuent@huce.edu.vnNguyễn Duy Tiếnhuent@huce.edu.vnNguyễn Đức Lượnghuent@huce.edu.vnNguyễn Văn Duyhuent@huce.edu.vnHoàng Xuân Hòahuent@huce.edu.vn<p>Phát triển các tòa nhà phát thải ròng bằng không đã và đang được triển khai ở nhiều nước trên thế giới nhằm hướng tới đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng không trong ngành xây dựng và/hoặc lĩnh vực tòa nhà. Để giảm thiểu phát thải các-bon cho các tòa nhà cần thực hiện đồng thời các giải pháp giảm thiểu phát thải các-bon hàm chứa và các-bon vận hành. Nghiên cứu này đã thực hiện các hoạt động khảo sát, đánh giá hiện trạng tiêu thụ năng lượng của hệ thống kỹ thuật (hệ thống thông gió, điều hòa không khí; chiếu sáng; bơm…) trong các tòa nhà văn phòng cũng như hiệu quả áp dụng của một số giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các tòa nhà văn phòng ở Việt Nam. Dựa trên các kết quả này, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và phát thải các-bon trong quá trình vận hành của các tòa nhà văn phòng.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125105Nghiên cứu ứng xử kéo nhổ của đa sợi thép trong bê tông2025-12-30T05:56:54+07:00Tăng Văn Lâmdangvanphi@humg.edu.vnĐặng Văn Phidangvanphi@humg.edu.vnLê Huy Việtdangvanphi@humg.edu.vn<p>Nghiên cứu này đánh giá ứng xử kéo rút của đa sợi thép trong bê tông thông qua thí nghiệm kéo rút với số lượng sợi lần lượt là 1, 4 và 16. Các mẫu thí nghiệm được chế tạo nhằm làm rõ ảnh hưởng của số lượng sợi đến khả năng bám dính, cơ chế truyền ứng suất và sự hình thành vết nứt trong vùng tiếp xúc giữa sợi và bê tông. Kết quả cho thấy khi số lượng sợi tăng, cường độ bám dính trung bình trên mỗi sợi có xu hướng giảm, chủ yếu do sự phân tán ứng suất tiếp xúc và sự chồng lấn của các vết nứt lân cận. Đặc biệt, mẫu chứa một sợi đơn lẻ cho thấy khả năng kháng kéo rút tối ưu trên mỗi đơn vị sợi, ngược lại các mẫu có nhiều sợi ghi nhận mức suy giảm đáng kể. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng sợi cũng dẫn đến khả năng tiêu tán năng lượng cao hơn nhờ sự tương tác phức tạp giữa các vết nứt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm hữu ích cho việc mô tả cơ chế bám dính của các sợi thép trong bê tông và hỗ trợ thiết kế tối ưu vật liệu bê tông cốt sợi trong các kết cấu thực tế.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125107Nghiên cứu giải pháp và phương pháp tính toán kết cấu hầm chui2025-12-30T05:56:55+07:00Nguyễn Thị Quỳnh Nhưquynhu61@utc.edu.vnNinh Khắc Tôntonnk@utc.edu.vn<p>Hiện nay, tại Việt Nam chưa có tiêu chuẩn hay quy phạm cụ thể cho việc tính toán kết cấu tường trong đất của hầm chui. Công tác này chủ yếu dựa vào chuyên gia nước ngoài hoặc áp dụng các tiêu chuẩn từ Nga, Mỹ, Nhật Bản,… Tuy nhiên, sự khác biệt về điều kiện địa chất – thuỷ văn đòi hỏi phải có những nghiên cứu để lựa chọn và điều chỉnh phương pháp tính toán phù hợp với thực tiễn trong nước. Do đó, trong phạm vi nghiên cứu này, một số giải pháp và phương pháp tính toán được xem xét, đánh giá nhằm đề xuất khả năng áp dụng cho điều kiện Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125109Phân tích phản ứng động đất của cầu cọc sàn đúc sẵn2025-12-30T05:56:57+07:00Nguyễn Trường Chinhtoinq@utt.edu.vnNguyễn Quốc Tớitoinq@utt.edu.vn<p>Trong nghiên cứu này, hiệu suất kháng chấn và khả năng tiêu hao năng lượng của mối nối cọc sàn được nghiên cứu bằng mô hình số, kết quả cho thấy đường cong tĩnh của cọc ống dưới tải trọng tịnh tiến chu kỳ thấp hoàn toàn và có khả năng tiêu thụ năng lượng tốt. Dưới tác dụng của dao động địa chấn ngẫu nhiên, chuyển vị của kết cấu cọc sàn theo một hướng lên tới 0,023 m, đáp ứng yêu cầu của quy định. Các mối nối cọc sàn cải tiến được sử dụng trong phân tích lịch sử-thời gian động phi tuyến của kết cấu cầu được xây dựng.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125111Phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự trao đổi thông tin kém giữa các bên liên quan trong các dự án xây dựng nhà cao tầng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh2025-12-30T05:56:58+07:00Nguyễn Thị Tuyếtnguyenthanhviet@iuh.edu.vnTrần Quang Phúnguyenthanhviet@iuh.edu.vnNguyễn Thanh Việtnguyenthanhviet@iuh.edu.vn<p>Nghiên cứu này tập trung phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự trao đổi thông tin kém gữa các bên liên quan trong các dự án xây dựng nhà cao tầng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên các nghiên cứu trước đây và ý kiến chuyên gia, nghiên cứu này đã xác định được 30 nguyên nhân. Sử dụng phương pháp RII (Relative Importance Index), nghiên cứu nhận dạng được 5 nguyên nhân nổi bật nhất dẫn đến trao đổi thông tin kém bao gồm: “Truyền đạt thông tin dự án không chính xác”, “Chỉ dẫn thi công/ thông tin kỹ thuật không chính xác”, “Lập kế hoạch và phối hợp các bên liên quan kém hiệu quả”, “Thiếu sự hiểu biết chung giữa các bên liên quan”, “Chất lượng bản vẽ kỹ thuật kém”. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để các bên tham gia dự án nhận diện rõ ràng các nguyên nhân dẫn đến sự trao đổi thông tin kém, từ đó đề xuất giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả trao đổi thông tin và giảm thiểu tác động tiêu cực đến hiệu quả thực hiện dự án.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125113Đánh giá rủi ro khi sử dụng vật liệu xây dựng tại khu vực Tây Nam Bộ - Đề xuất giải pháp2025-12-30T05:56:59+07:00Lê Hà Thiên Ấnanpktq7@gmail.comLê Nguyễn Thiện Huyhuylelongan@gmail.comLê Mạnh Tườngtuongnhanlucsau@gmail.com<p>Khu vực Tây Nam Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam với hệ thống hạ tầng giao thông, dân dụng và công nghiệp đang được đầu tư mạnh mẽ. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên đặc thù như địa hình sông nước, khí hậu nhiệt đới ẩm, tình trạng xâm nhập mặn, ngập lụt và bão lũ thường xuyên đã đặt ra nhiều thách thức trong việc sử dụng và quản lý vật liệu xây dựng. Nghiên cứu này phân tích các rủi ro chủ yếu trong sử dụng vật liệu xây dựng tại Tây Nam Bộ, bao gồm tình trạng thiếu hụt nguồn cung, tác động của xâm nhập mặn đến độ bền và tuổi thọ công trình, những hạn chế khi sử dụng đất đắp, cùng với ảnh hưởng của thiên tai đến chất lượng vật liệu và công trình. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất một số giải pháp quản lý, kỹ thuật và định hướng phát triển vật liệu xây dựng bền vững nhằm nâng cao khả năng chống chịu, kéo dài tuổi thọ công trình và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường trong điều kiện biến đổi khí hậu.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125117Ứng dụng viễn thám và mô phỏng năng lượng trong phân tích hiệu quả nhiệt của mái nhà xanh2025-12-30T05:57:01+07:00Nguyễn Trường Ngânntngan@hcmut.edu.vn<p>Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, việc phát triển các giải pháp xanh nhằm giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị là hết sức cấp thiết. Mái nhà xanh nổi lên như một giải pháp bền vững, vừa cải thiện vi khí hậu, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng cho công trình. Nghiên cứu này ứng dụng kết hợp dữ liệu viễn thám và mô phỏng năng lượng để đánh giá hiệu quả nhiệt của mái nhà xanh tại khu vực trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh vệ tinh được xử lý nhằm xác định và phân loại mái nhà xanh; đồng thời mô hình mô phỏng năng lượng được thiết lập để phân tích tác động đến nhiệt độ bề mặt và nhu cầu làm mát. Kết quả cho thấy mái nhà xanh giúp giảm nhiệt độ bề mặt trung bình từ 0,45°C đến 1,05°C và tiết kiệm từ 0,55 đến 1,66 kWh/m<sup>2</sup>/năm, tùy loại mái và mật độ phủ xanh. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc quy hoạch, thiết kế và phát triển các giải pháp mái nhà xanh trong đô thị Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125118Nghiên cứu chế tạo vữa xây dựng hấp thụ khí CO2 từ nguồn hỗn hợp tro bay nhiệt điện, cốt sợi xơ dừa và dung dịch siêu dẻo hoạt hóa2025-12-30T05:57:03+07:00Phạm Quang Đạotranphungbtl@gmail.comTăng Văn Lâmtangvanlam@humg.edu.vnTrần Thị Kim Phụngtranphungbtl@gmail.comĐỗ Đình Hưngtranphungbtl@gmail.com<p>Nhà máy điện rác Greenstar (Bắc Ninh) mỗi năm phát sinh hơn 4.000 tấn tro bay, chủ yếu chôn lấp gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm. Nghiên cứu này đề xuất chế tạo gạch không nung hấp thụ CO<sub>2</sub> từ hỗn hợp tro bay nhiệt điện, xỉ lò cao, sợi xơ dừa và dung dịch kiềm hoạt hóa (NaOH, Na<sub>2</sub>SiO<sub>3</sub>) làm chất hoạt hóa geopolymer. Các cấp phối vật liệu được thiết kế theo TCVN hiện hành, tạo mẫu và thí nghiệm xác định các chỉ tiêu cơ lý (cường độ nén, uốn, khối lượng thể tích, độ hút nước, độ rỗng) cũng như khả năng hấp thụ CO₂. Kết quả cho thấy các mẫu gạch đều đạt mác M100, cường độ nén từ 12,7–14,5 MPa, bề mặt nhẵn, độ hút nước thấp và độ rỗng giảm còn 6,5–10,9%. Đặc biệt, các viên gạch rỗng chế tạo từ cấp phối Mix-ID-04 hấp thụ trung bình 12,5–14,2 g CO<sub>2</sub>/viên trong vòng 20–30 phút thí nghiệm, nhờ phản ứng cacbonat hóa của Ca(OH)<sub>2</sub>, tro bay và xỉ lò cao. Nghiên cứu chứng minh tính khả thi của việc kết hợp phế thải công nghiệp và phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất gạch không nung hấp thụ CO<sub>2</sub>, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, tiết kiệm tài nguyên và hướng tới mục tiêu Net Zero 2050.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125119Ứng xử chịu kéo khi uốn của dầm bê tông cốt sợi thép phân tán: Thí nghiệm và mô hình số2025-12-30T05:57:05+07:00Lê Gia Khuyếnkhuyenlg_ph@utc.edu.vnVũ Việt Hưnghungvv_ph@utc.edu.vnNguyễn Hoàng Quânquannh_ktxd@utc.edu.vnTrần Bảo Việtviettb@utc.edu.vn<p>Thí nghiệm và mô hình số mô phỏng dầm bê tông cốt sợi thép phân tán (BTCSTPT) chịu uốn ba điểm theo EN 14651: 2005 được nghiên cứu trong bài báo này. Sợi thép tròn trơn mạ đồng (HF5913) có hàm lượng sợi khác nhau theo phần trăm thể tích (0%; 0,5%; 1% và 1,5%) được sử dụng cho các dầm bê tông có cường độ chịu nén 60 MPa. Mẫu thí nghiệm có kích thước 150x150x550 mm. Kết quả thí nghiệm cho thấy cường độ chịu kéo khi uốn của dầm bê tông thường chỉ đạt khoảng 1/12 cường độ chịu nén. Trong khi đó, dầm BTCSTPT thể hiện khả năng chịu kéo khi uốn cao hơn đáng kể, có thể đạt từ 1/9 đến 1/6 cường độ chịu nén, tùy thuộc vào hàm lượng sợi thép được sử dụng. Kết quả này cho thấy việc bổ sung sợi thép vào bê tông góp phần cải thiện đáng kể khả năng chịu kéo khi uốn của vật liệu. Sự phù hợp giữa kết quả thí nghiệm và mô hình số mô phỏng ứng xử cơ học của vật liệu BTCSTPT dựa trên phương pháp trường pha được nhóm chúng tôi xây dựng gần đây, chứng tỏ sự chính xác của mô hình. Thông qua mô hình, ứng xử chịu kéo khi uốn của BTCSTPT đã được phân tích và thảo luận thêm.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125120Đề xuất xây dựng các hạng mục nhằm đáp ứng yêu cầu của hệ thống thoát nước đô thị xanh tại tỉnh Hưng Yên2025-12-30T05:57:07+07:00Lê Thị Mai Hươnglemaihuong1811.hlm@gmail.comTạ Văn Phấnlemaihuong1811.hlm@gmail.com<p>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đô thị hóa nhanh, hệ thống thoát nước truyền thống tại tỉnh Hưng Yên đang bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu kiểm soát ngập úng và bảo vệ môi trường đô thị. Bài báo đề xuất giải pháp quản lý xây dựng hệ thống công trình thoát nước đô thị xanh tích hợp, gồm 18 hạng mục, chia thành bốn nhóm chức năng: (i) thu gom và xử lý nước mưa tại nguồn; (ii) dẫn và thoát nước mưa; (iii) điều hòa và phân tán dòng chảy; (iv) sinh thái – cảnh quan kết hợp. Các hạng mục được lựa chọn dựa trên tính khả thi kỹ thuật, hiệu quả kiểm soát dòng chảy bề mặt, khả năng thích ứng với điều kiện đặc thù của Hưng Yên và định hướng phát triển đô thị xanh. Phương án phân bố và lồng ghép công trình đảm bảo đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu, hướng thoát nước chủ đạo về phía Đông Nam, tận dụng hệ thống kênh tiêu và vùng trũng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống công trình này có thể giảm ngập úng, tăng khả năng thấm và tái sử dụng nước mưa, đồng thời cải thiện vi khí hậu và chất lượng cảnh quan đô thị. Trên cơ sở đó, bài báo kiến nghị cơ chế quản lý xây dựng, vận hành và bảo trì theo hướng phân cấp, khuyến khích xã hội hóa đầu tư, đồng thời gắn kết với các quy chuẩn và chính sách phát triển đô thị bền vững của tỉnh.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125121Phân tích so sánh ảnh hưởng của phương pháp thi công và thời gian chờ cố kết đến ứng xử của tường vây trong công trình ngầm2025-12-30T05:57:09+07:00Lê Đình Mạnhmanhcn2406008@gmail.com<p>Ở các đô thị lớn Việt Nam, sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số nhanh khiến không gian mặt đất quá tải, thúc đẩy xu hướng phát triển công trình ngầm như tầng hầm, bãi đỗ xe, trung tâm thương mại và giao thông ngầm. Tuy nhiên việc xây dựng các công trình nói trên dẫn đến xuất hiện hàng loạt hố đào sâu có kích thước lớn trong điều kiện địa chất phức tạp (đất yếu, mực nước ngầm cao) dẫn đến những thách thức kỹ thuật đáng kể liên quan đến ổn định tường vây và an toàn tổng thể công trình. Nghiên cứu này áp dụng phương pháp phân tích phần tử hữu hạn bằng phần mềm PLAXIS 2D để mô phỏng hai phương pháp thi công phổ biến, Top-down và Bottom-up, trong điều kiện có xét đến yếu tố biến đổi theo thời gian và quá trình cố kết của đất nền. Bằng việc phân tích theo từng giai đoạn kết hợp với cơ chế thoát nước, nghiên cứu đánh giá định lượng tác động của giải pháp thi công và thời gian chờ cố kết giữa các giai đoạn đến hiệu quả làm việc và độ ổn định kết cấu tường vây. </p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125122Giải pháp công nghệ trong kiểm tra, quản lý chất lượng mối hàn nhiệt nhôm, giáp mối nóng chảy và một số hạng mục kết cấu khác tại các dự án đường sắt đô thị ở Việt Nam2025-12-30T05:57:10+07:00Nguyễn Anh Túanhtu8990@gmail.comCao Anh Tuấnanhtu8990@gmail.comLâm Hữu Quanganhtu8990@gmail.com<p>Đường sắt, hay vận tải đường sắt là một phương tiện giao thông, một yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế, được sử dụng để vận chuyển hàng hóa cũng như vận chuyển hàng khách. Hệ thống vận chuyển bằng cách sử dụng đường ray và sử dụng các bánh xe bằng kim loại (thường là thép) gắn trên đường ray như đầu máy và các toa xe (Hệ thống này được gọi là một đoàn tàu). Vận tải đường sắt đã tồn tại từ lâu đời và được coi là một phương thức vận chuyển quan trọng trên toàn cầu. Vận tải đường sắt cũng là phương thức vận tải đường bộ nhanh nhất, giảm ùn tắc giao thông và giảm ô nhiễm môi trường. Hệ thống đường sắt kết nối các khu vực, thúc đẩy kinh tế, giao thương và du lịch. Việc thiết kế, thi công và đảm bảo chất lượng, an toàn là yếu tố cực kỳ quan trọng để ngăn ngừa sự cố và gián đoạn trong quá trình khai thác dài lâu. Do vậy, việc kiểm soát chất lượng thông qua các phép thử thí nghiệm trong quá trình thi công một số hạng mục kết cấu đóng một vai trò hết sức quan trọng. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày một số phương pháp thí nghiệm quản lý chất lượng mối hàn nhiệt nhôm, giáp mối nóng chảy cũng như các phép thử khác tại một số dự án đường sắt. Bài viết thảo luận về các nguyên tắc, ưu điểm, hạn chế và cách triển khai thực tế của chúng.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125123Đánh giá tác động của tuyến Metro số 1 đến giá bất động sản tại TP.HCM: Ứng dụng mô hình Hedonic kết hợp GIS2025-12-30T05:57:12+07:00Nguyễn Lâm Quỳnh Trâmnlqtram.sdh241@hcmut.edu.vnNguyễn Xuân Longnxlong@hcmut.edu.vn<p>Các dự án hạ tầng giao thông đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao lợi ích xã hội, đặc biệt tại khu vực đô thị. Hòa cùng xu thế phát triển này, tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên khởi hành được kỳ vọng làm thay đổi đáng kể thói quen di chuyển, góp phần tái cấu trúc không gian đô thị và gia tăng giá trị bất động sản. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của tuyến metro số 1 đến giá trị bất động sản nhà ở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh tuyến được đưa vào vận hành thương mại từ tháng 12 năm 2024. Bộ dữ liệu gồm 356 quan sát được thu thập từ các nền tảng bất động sản trực tuyến trong phạm vi 1,5 km dọc theo tuyến. Nghiên cứu sử dụng mô hình định giá hedonic dạng bán logarit, kết hợp với việc ứng dụng GIS để tính toán các biến không gian. Kết quả cho thấy mô hình có mức độ giải thích tương đối tốt, với khoảng 62% sự biến thiên của giá bất động sản được lý giải bởi các biến độc lập. Các yếu tố về kết cấu, tiện ích và khả năng tiếp cận giao thông công cộng có tác động tích cực đến giá trị bất động sản, trong khi các biến khoảng cách mang tác động ngược chiều. Đáng chú ý, giá trị bất động sản tăng lên đáng kể khi khoảng cách đến ga metro giảm, cho thấy tác động của tuyến metro số 1 đến thị trường bất động sản đô thị TP.HCM.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125124Ảnh hưởng của điều kiện dưỡng hộ CO2 đến cường độ, mức độ cacbonat hóa và biến đổi vi cấu trúc của gạch xây không nung2025-12-30T05:57:14+07:00Lê Văn Quanghtphuoc@ctu.edu.vnNguyễn Huy Dũnghtphuoc@ctu.edu.vnHuỳnh Trọng Phướchtphuoc@ctu.edu.vn<p>Việc giảm phát thải khí CO<sub>2</sub> trong ngành công nghiệp xây dựng đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, dưỡng hộ vật liệu bằng khí CO<sub>2</sub> là một giải pháp công nghệ mới đầy triển vọng, vừa góp phần hấp thụ khí nhà kính, vừa cải thiện chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu này tập trung đánh giá hiệu quả của phương pháp dưỡng hộ CO<sub>2</sub> đối với gạch không nung xi măng cốt liệu (GKN) mác M15, sản xuất theo công nghệ rung ép. Thí nghiệm được thực hiện với các điều kiện dưỡng hộ về áp suất CO<sub>2</sub> (2 bar) và thời gian tiếp xúc (6, 12, 18, 24 giờ) ở nhiệt độ khí quyển, so sánh với mẫu đối chứng dưỡng hộ truyền thống. Các chỉ tiêu được đánh giá bao gồm: cường độ nén tại 3, 7 và 28 ngày; cường độ uốn; độ hút nước; chiều sâu cacbonat hóa; cùng với phân tích vi cấu trúc bằng SEM và XRD. Kết quả cho thấy mẫu dưỡng hộ CO<sub>2</sub> đạt cường độ nén trung bình cao hơn từ 33–61% tại 3 ngày và từ 16–23% tại 28 ngày so với mẫu đối chứng. Độ hút nước giảm từ 11,3% xuống còn 8,5%; chiều sâu cacbonat hóa sau 24 giờ dưỡng hộ đạt đến 18 mm. Phân tích XRD cho thấy sự hình thành mạnh mẽ của các pha calcite và vaterite, trong khi SEM cho thấy cấu trúc vi mô chặt hơn, lỗ rỗng được lấp đầy bởi sản phẩm cacbonat hóa. Dưỡng hộ CO<sub>2</sub> là giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng và tuổi thọ của GKN mác M15, đồng thời góp phần giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất vật liệu xây dựng.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125125Vòng đời cây xanh đô thị và tiềm năng tái chế thành vật liệu gỗ bền vững tại công viên Lê Văn Tám, TP.HCM2025-12-30T05:57:16+07:00Nguyễn Văn NhànNhanvanxd@gmai.comĐinh Bình Phương Minhphuongminhdinh83@gmail.comBùi Thức Trungphuongminhdinh83@gmail.comNguyễn Thị Bích NgọcNgoc.nguyenthibich@uah.edu.vnLê Ngọc ThiênThien.lengoc@uah.edu.vn<p>Cây xanh đô thị đóng vai trò quan trọng trong giảm thiểu phát thải khí nhà kính, điều hòa vi khí hậu và nâng cao chất lượng sống. Tuy nhiên, tại TP.HCM, mỗi năm có hàng chục cây bị loại bỏ do sâu bệnh, già cỗi hoặc yêu cầu hạ tầng kỹ thuật, tạo ra một lượng lớn sinh khối gỗ chưa được khai thác hiệu quả. Nghiên cứu này sử dụng khung đánh giá vòng đời (Life Cycle Assessment - LCA) để xác định tiềm năng tái chế sinh khối từ cây xanh bị loại bỏ tại Công viên Lê Văn Tám. Dữ liệu khảo sát 473 cây cho thấy trung bình 40 cây/năm bị đốn hạ. Áp dụng phần mềm OpenLCA, nghiên cứu tính toán tiềm năng giảm phát thải CO₂eq và tiết kiệm năng lượng nếu tái chế sinh khối thành vật liệu như ván ép hoặc nội thất công cộng. Chuỗi giá trị tái chế được phân tích theo loài cây và cấp đường kính thân, từ khâu thu gom, phân loại đến thiết kế sản phẩm. Kết quả đề xuất một mô hình hợp tác ba bên giữa đơn vị quản lý cây xanh, doanh nghiệp tái chế và cơ sở nghiên cứu, đồng thời đưa ra khung chính sách tích hợp giữa quy hoạch đô thị, tiêu chuẩn vật liệu và chiến lược carbon thấp. Nghiên cứu đóng góp một hướng tiếp cận mới cho quản lý cây xanh theo vòng đời và phát triển kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh đô thị hóa nhanh tại Việt Nam.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựnghttps://vjol.info.vn/index.php/tcvienvatlieu/article/view/125126Chuyển đổi số trong ngành xây dựng: Bài học kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới2025-12-30T05:57:18+07:00Trần Trung Kiênkientt@utt.edu.vn<p>Chuyển đổi số đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với tác động sâu rộng đến hầu hết các lĩnh vực, trong đó có ngành xây dựng. Việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm quốc tế về triển khai chuyển đổi số là cần thiết để xây dựng chiến lược phù hợp với điều kiện thực tiễn ngành xây dựng của Việt Nam. Bằng việc thu thập tài liệu và phân tích kinh nghiệm chuyển đổi số ngành xây dựng của các quốc gia điển hình là Singapore, Anh, Mỹ, bài báo đề xuất một số bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho ngành xây dựng của Việt Nam. Để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, trong thời gian tới, ngành xây dựng Việt Nam cần có các cơ chế hỗ trợ, chính sách chuyển đổi số chi tiết; đầu tư vào đào tạo và nâng cao kỹ năng số cho nhân lực; đầu tư công nghệ chiến lược; xây dựng văn hóa số và phát triển hệ sinh thái số.</p>2025-12-28T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Vật liệu và Xây dựng