Tạp chí Xã hội học và Tâm lý học - Tâm lý học https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc <p><strong>Tạp chí của Viện Xã hội học và Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p> vi-VN tapchixhhvatlh@gmail.com (Tạp chí Xã hội học và Tâm lý học) tapchixhhvatlh@gmail.com (Nguyễn Thị Huyền Trang) Wed, 14 Jan 2026 07:35:24 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 CĂNG THẲNG NGHỀ NGHIỆP VÀ VỐN TÂM LÝ CỦA LÍNH CỨU HỎA https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126636 <p>Nghiên cứu nhằm khám phá mối quan hệ giữa vốn tâm lý và căng thẳng nghề nghiệp của lính cứu hỏa tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ 535 lính cứu hỏa thông qua hai công cụ: thang đo Vốn tâm lý (Psychological Capital Questionnaire - PCQ) gồm bốn thành phần (niềm tin vào năng lực bản thân, lạc quan, hy vọng và khả năng phục hồi) và thang đo Căng thẳng nghề nghiệp trong lực lượng cứu hỏa (Stress in Fire Service Scale - SFSS). Kết quả phân tích tương quan cho thấy, vốn tâm lý có mối liên hệ nghịch chiều với căng thẳng nghề nghiệp, nghĩa là lính cứu hỏa có vốn tâm lý cao hơn thường báo cáo mức độ căng thẳng nghề nghiệp thấp hơn. Số liệu từ phân tích hồi quy đa biến chỉ ra rằng chỉ có hai thành phần của vốn tâm lý - niềm tin vào năng lực bản thân và lạc quan - có tác dụng giảm căng thẳng nghề nghiệp tổng thể của lính cứu hỏa cũng như làm giảm căng thẳng ở ba khía cạnh cụ thể: áp lực và kiểm soát công việc; điều kiện làm việc và lối sống; quan hệ đồng nghiệp và cảm giác cô lập. Ngược lại, khả năng phục hồi lại là yếu tố dự báo làm tăng căng thẳng từ áp lực và kiểm soát công việc. Những phát hiện này gợi ý rằng cần tăng cường vốn tâm lý, đặc biệt là niềm tin vào năng lực bản thân và sự lạc quan; song song với cải thiện điều kiện làm việc và lối sống để giảm thiểu căng thẳng nghề nghiệp cho lính cứu hỏa.</p> Lê Thị Minh Loan, Mai Ngoc Chi, Hoàng Mai Anh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126636 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA KẾT NỐI XÃ HỘI ĐẾN CĂNG THẲNG Ở SINH VIÊN ĐẠI HỌC https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126584 <p>Nghiên cứu này khám phá mối quan hệ giữa kết nối xã hội và mức độ căng thẳng ở sinh viên đại học - nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước áp lực học tập, tài chính và kỳ vọng gia đình. Dựa trên lý thuyết kết nối xã hội của Cassel và Cobb (1976), dữ liệu được thu thập từ 169 sinh viên đại học thông qua thang đo Nhận thức căng thẳng (PSS-10) và thang đo Kết nối xã hội (SCS). Kết quả cho thấy, kết nối xã hội có tương quan nghịch đáng kể với mức độ căng thẳng (r = -0,47; p &lt; 0,01). Phân tích hồi quy cho thấy, mỗi khi kết nối xã hội tăng một đơn vị thì mức độ căng thẳng giảm 0,34 đơn vị (p &lt; 0,001). Chất lượng mối quan hệ xã hội được xác định là yếu tố then chốt giúp giảm căng thẳng. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò bảo vệ của kết nối xã hội đối với mức độ căng thẳng ở sinh viên. Nghiên cứu đề xuất các trường đại học nên thúc đẩy sự gắn kết thông qua hoạt động nhóm, dịch vụ hỗ trợ tâm lý và xây dựng môi trường học tập thân thiện. Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở thực tiễn cho các chương trình can thiệp tâm lý và chính sách nhằm nâng cao khả năng thích ứng và chất lượng sống cho sinh viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục.</p> Hoàng Trung Học, Phan Đình Duy Ân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126584 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA BẢN SẮC CÁ NHÂN ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126601 <p>Giai đoạn vị thành niên đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển cá nhân, đặc biệt với hai nhiệm vụ trọng tâm là hình thành bản sắc cá nhân và định hướng tương lai. Nhận thức được sự cần thiết của việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng tương lai, nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát tác động của bản sắc cá nhân đến định hướng tương lai ở học sinh trung học phổ thông. Nghiên cứu được tiến hành trên 260 học sinh lớp THPT (lớp 11 và 12), trong đó nam chiếm 34,2%, nữ chiếm 63,1% và giới tính khác chiếm 2,7%. Thời gian khảo sát từ tháng 1/2024 đến tháng 4/2024. Dữ liệu được thu thập bằng thang đo Bản sắc của Rosenthal và cộng sự (1981) và Bảng câu hỏi Định hướng tương lai của Seginer (2009), bao gồm ba khía cạnh: định hướng sự nghiệp/nghề nghiệp, định hướng học vấn và định hướng hôn nhân và gia đình. Kết quả phân tích cho thấy bản sắc cá nhân có mối tương quan thuận chiều, có ý nghĩa thống kê với định hướng sự nghiệp và định hướng học vấn. Đồng thời, giữa định hướng sự nghiệp và định hướng học vấn cũng có mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa bản sắc cá nhân và định hướng hôn nhân và gia đình. Phân tích hồi quy xác nhận rằng bản sắc cá nhân có tác động tích cực, thúc đẩy định hướng tương lai ở các khía cạnh sự nghiệp và học vấn.</p> Bùi Minh Đức, Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn Xuân Quỳnh, Hoàng Thị Thảo Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126601 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA SINH VIÊN VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ VỚI KHẢ NĂNG PHỤC HỒI - NGHIÊN CỨU TRÊN SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC HUẾ https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126604 <p>Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng trí tuệ cảm xúc, khả năng phục hồi của sinh viên và mối quan hệ của nó với khả năng phục hồi - nghiên cứu trên 393 sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ cảm xúc, khả năng phục hồi của sinh viên ở mức trung bình, cùng với đó trí tuệ cảm xúc của sinh viên có mối tương quan thuận với khả năng phục hồi. Kết quả nghiên cứu thực trạng này đóng vai trò trong việc cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp hợp lý nhằm cải thiện trí tuệ cảm xúc và khả năng phục hồi của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế.</p> Phạm Quốc, Đinh Thị Phương Loan, Hồ Thị Trúc Quỳnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126604 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 MỨC ĐỘ TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH DƯỚI CÁC LÁT CẮT NHÂN KHẨU XÃ HỘI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH UNG THƯ https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126606 <p>Ung thư là một trong những nguyên nhân tử vong nhiều nhất ở Việt Nam. Tỷ lệ mắc nhiễm các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở bệnh nhân ung thư Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm bệnh nhân này hầu như chưa được quan tâm do thiếu hụt các bằng chứng liên quan đến sức khỏe tâm thần và bệnh ung thư. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở bệnh nhân ung thư Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được tiến hành trên 230 bệnh nhân tự nguyện tham gia bằng hình thức nghe, đọc và trả lời bảng hỏi. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tuổi tác, giới tính, giai đoạn bệnh và phương pháp đang điều trị không ảnh hưởng đến tỷ lệ bị rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, nếu ổn định hơn về tài chính, có trình độ học vấn cao, tiền sử sức khỏe tốt và biết mình không sử dụng thuốc giảm đau khi điều trị là những yếu tố có thể làm giảm tỷ lệ mắc nhiễm trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở bệnh nhân ung thư. Kết quả từ nghiên cứu này sẽ là những gợi ý có ý nghĩa khoa học trong việc ngăn ngừa và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân ung thư.</p> Lê Thị Dung Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126606 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 MỐI LIÊN HỆ GIỮA TRẢI NGHIỆM TUỔI THƠ VÀ TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TRẺ TUỔI VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126607 <p>Các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam đã nhấn mạnh tác động của trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực đối với các vấn đề sức khỏe tinh thần ở độ tuổi thanh thiếu niên và đầu trưởng thành. Bên cạnh đó, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh vai trò bảo vệ của trải nghiệm tuổi thơ tích cực trước những ảnh hưởng của trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực. Nghiên cứu hiện tại được thực hiện trên 274 khách thể từ 18 - 30 tuổi tại Việt Nam (độ tuổi trung bình = 21,12; độ lệch chuẩn = 3,03) với mục đích kiểm tra mối liên hệ giữa trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực và trải nghiệm tuổi thơ tích cực với nguy cơ trầm cảm, lo âu, stress ở giai đoạn đầu tuổi trưởng thành. Kết quả cho thấy, 88,7% số người tham gia khảo sát từng có ít nhất một trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực và 67,5% số khách thể có từ 8 trải nghiệm tuổi thơ tích cực trở lên. Về sức khỏe tinh thần, tỷ lệ người có dấu hiệu trầm cảm, lo âu và stress đều ở mức cao (lần lượt là: 60,2%; 77,0%; 66,1%). Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra rằng trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực và trải nghiệm tuổi thơ tích cực có khả năng dự báo các vấn đề về sức khỏe tinh thần ở đầu tuổi trưởng thành một cách độc lập thay vì tương tác với nhau, trong đó trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực làm tăng nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress còn trải nghiệm tuổi thơ tích cực đóng vai trò như yếu tố làm thuyên giảm những nguy cơ này. Từ kết quả đó, nghiên cứu đề xuất nên tập trung thúc đẩy trải nghiệm tuổi thơ tích cực trong môi trường phát triển đầu đời song song với việc ngăn ngừa các trải nghiệm tuổi thơ tiêu cực.</p> Thái Văn Quang, Nguyễn Đức Phương Trang, Nguyễn Thùy Dung, Nguyễn Văn Lượt Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126607 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ CÓ CON TUỔI VỊ THÀNH NIÊN VỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG: MỘT NGHIÊN CỨU TẠI TỈNH BẮC GIANG https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126612 <p>Bạo lực học đường đang trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng, để lại nhiều hệ lụy đối với sức khỏe tinh thần và sự phát triển toàn diện của học sinh. Bên cạnh học sinh và giáo viên, cha mẹ cũng là nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hành vi bạo lực học đường, song vẫn còn ít nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam tập trung vào khía cạnh này. Nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng nhận thức của cha mẹ có con ở tuổi vị thành niên về bạo lực học đường trên mẫu khách thể gồm 208 cha mẹ có con đang học tại bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Giang (nay là Bắc Ninh). Công cụ thu thập dữ liệu là bảng hỏi cấu trúc theo thang đo Likert 4 mức độ, bao gồm các nhóm nội dung: nhận thức về thực trạng bạo lực học đường, các hình thức, nguyên nhân - hậu quả của bạo lực học đường. Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả. Kết quả nghiên cứu cho thấy cha mẹ nhận diện rõ bạo lực thể chất nhưng còn hạn chế với bạo lực tinh thần, xã hội và bạo lực qua mạng. Họ xem gia đình và cá nhân học sinh là nguyên nhân chính, tuy nhận thức rõ hậu quả tâm lý nghiêm trọng, song vẫn tồn tại quan điểm xem nhẹ.</p> Nguyễn Diệp Hà, Rơ Đăm Thị Bích Ngọc Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126612 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA NHU CẦU HỌC THUẬT VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG VIỆC ĐẾN SỰ GẮN KẾT VỚI CÔNG VIỆC CỦA GIẢNG VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỰ CHỦ https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126618 <p>Nghiên cứu này xem xét khả năng dự báo của nhu cầu học thuật và kết quả thực hiện công việc đến sự gắn kết với công việc của giảng viên ở các trường đại học tự chủ. Dữ liệu được thu thập từ 381 giảng viên tại ba trường đại học tự chủ ở Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu. Kết quả cho thấy nhu cầu học thuật có sự dự báo mạnh mẽ đến gắn kết trong nghiên cứu, trong khi kết quả thực hiện công việc phát sinh có ảnh hưởng đáng kể đến gắn kết trong giảng dạy. Ngược lại, kết quả thực hiện công việc được giao không có ảnh hưởng đáng kể đến gắn kết trong giảng dạy lẫn nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất các chính sách hỗ trợ giảng viên nhằm thúc đẩy sự gắn kết với công việc.</p> Phạm Xuân Hưởng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126618 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 THẾ MẠNH CỦA PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI NGÔI NHÀ BÌNH YÊN THUỘC TRUNG TÂM PHỤ NỮ VÀ PHÁT TRIỂN, HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126625 <p>Nghiên cứu thế mạnh của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Ngôi nhà Bình Yên được thực hiện trên 100 phụ nữ bị bạo lực bởi chồng hoặc người sống chung như vợ chồng và đang tạm trú hoặc đã hồi gia sau khi nhận hỗ trợ tại Trung tâm trợ giúp xã hội Ngôi nhà Bình Yên thuộc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dù chịu nhiều tổn thương nhưng phụ nữ trải qua bạo lực gia đình vẫn duy trì được nội lực đáng kể như niềm tin và hy vọng, khả năng thích nghi và ứng phó, nghị lực, lòng tự trọng và một số đặc điểm tích cực khác. Do vậy, người làm công tác xã hội trong quá trình hỗ trợ cần chú trọng sử dụng chuyên môn của mình để nhận diện, khơi dậy những thế mạnh bên trong của phụ nữ bị bạo lực gia đình nhằm thúc đẩy hiệu quả phục hồi theo hướng trao quyền, hướng đến phòng tránh nguy cơ tái bạo lực, khả năng phục hồi và tái hòa nhập bền vững của nạn nhân.</p> Nguyễn Phương Tường Vi Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126625 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700 ĐỘNG CƠ SỬ DỤNG ỨNG DỤNG HẸN HÒ Ở THANH NIÊN ĐỘ TUỔI ĐẦU TRƯỞNG THÀNH https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126628 <p>Nghiên cứu động cơ sử dụng ứng dụng hẹn hò của thanh niên đầu trưởng thành tại Việt Nam, xác định bốn động cơ chính: “Hòa nhập/giao lưu xã hội”, “Tìm kiếm mối quan hệ”, “Giải trí” và “Tăng trải nghiệm tình dục”. Kết quả cho thấy động cơ “Hoà nhập/giao lưu xã hội” đạt mức độ đồng thuận cao nhất, phản ánh nhu cầu kết nối xã hội trong giai đoạn đầu trưởng thành. Động cơ “Tìm kiếm mối quan hệ” đứng thứ hai, cho thấy sự quan tâm đến các mối quan hệ lãng mạn, trong khi động cơ “Giải trí” có mức độ đồng ý thấp, chỉ ra việc sử dụng ứng dụng như nền tảng để vui chơi. Đặc biệt, động cơ “Tăng trải nghiệm tình dục” có điểm thấp nhất, phản ánh sự nhạy cảm của chủ đề tình dục trong văn hóa châu Á. Nghiên cứu cũng phát hiện sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ về động cơ này và động cơ “Tìm kiếm mối quan hệ”, với nam giới có mức độ đồng tình cao hơn, điều này có thể lý giải qua lý thuyết tiến hóa và lý thuyết cấu trúc xã hội. Nghiên cứu đóng góp kiến thức về hành vi sử dụng ứng dụng hẹn hò trong bối cảnh văn hóa Việt Nam và hỗ trợ chiến lược tiếp thị. Tuy nhiên, nghiên cứu có hạn chế về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.</p> Trần Thị Tùng Lâm Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tcxahoihocvatamlyhoc-tamlyhoc/article/view/126628 Wed, 14 Jan 2026 00:00:00 +0700