Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên https://vjol.info.vn/index.php/tnu <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Thái Nguyên</strong></p> vi-VN hanhhth@tnu.edu.vn (Hoàng Thị Hồng Hạnh) lehoa70@vista.gov.vn (ThS Lê Thị Hoa) Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 XU HƯỚNG DU LỊCH MỘT MÌNH VÀ NHU CẦU DU LỊCH MỘT MÌNH CỦA GIỚI TRẺ: NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115886 <p>Du lịch một mình (solo travel) đang trở thành một xu hướng nổi bật, đặc biệt trong bối cảnh hậu đại dịch Covid-19 khi du khách tìm kiếm những trải nghiệm cá nhân hóa và tự do hơn. Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát 482 người trong độ tuổi từ 18 – 30 tại Đà Nẵng nhằm làm rõ những thuận lợi, thách thức và nhu cầu khi đi du lịch một mình. Kết quả cho thấy du lịch một mình đang trở thành xu hướng phổ biến trong giới trẻ nhờ sự tự do, linh hoạt và cơ hội khám phá bản thân. Phần lớn các chuyến đi là ngắn ngày và có chi phí trung bình dưới 5 triệu đồng. Tuy nhiên, các rào cản chính bao gồm lo ngại về an toàn cá nhân, cảm giác cô đơn và áp lực từ định kiến xã hội. Nghiên cứu còn chỉ ra các nhu cầu nổi bật như thông tin chi tiết về điểm đến, dịch vụ hỗ trợ an toàn và trải nghiệm văn hóa địa phương. Từ đó, bài báo đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và hỗ trợ tốt hơn cho nhóm du khách yêu thích xu hướng du lịch này. Bài báo có thể gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về giải pháp công nghệ hỗ trợ khách du lịch một mình như ứng dụng di động hoặc nền tảng trực tuyến giúp kết nối, chia sẻ thông tin và giảm bớt lo ngại về an ninh.</p> Phan Kim Ngân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115886 Fri, 28 Mar 2025 00:00:00 +0700 CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP Ở NAM BỘ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1954: THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115887 <p>Nông nghiệp Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954 giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Chính sách phát triển nông nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong quá trình sản xuất, làm thay đổi cơ cấu giữa các ngành kinh tế ở miền Nam và đảm bảo an ninh lương thực cả nước trong bối cảnh Việt Nam vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Mục đích của bài báo này là làm sáng tỏ vai trò của chính sách phát triển nông nghiệp của chính quyền cách mạng tại Nam Bộ và chính sách vơ vét kinh tế của chính quyền thực dân Pháp giai đoạn 1945-1954. Trong nghiên cứu này, tác giả tiếp cận phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để cho thấy rằng chính sách phát triển nông nghiệp có mối quan hệ biện chứng với kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vai trò của chính sách nông nghiệp trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng giai đoạn 1945-1954, qua đó góp phần đúc kết bài học kinh nghiệm trong hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau này.</p> Nguyễn Văn Kham, Bùi Hoàng Tân Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115887 Fri, 28 Mar 2025 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI NÂNG CAO TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115888 <p>Phú Bình là huyện trung du nằm ở phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, với diện tích đất tự nhiên là 241,39 km<sup>2</sup>, được chia thành 20 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 01 thị trấn và 19 xã. Năm 2022, huyện Phú Bình được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 19/19 xã đạt chuẩn nông thôn mới và tiếp tục tập trung thực hiện xây dựng huyện nông thôn mới nâng cao. Bài báo sử dụng phương pháp thu thập số liệu kết hợp khảo sát thực địa và phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh để chỉ ra kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới nâng cao. Nghiên cứu đã đánh giá và phân tích kết quả thực hiện 9 tiêu chí huyện nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025: quy hoạch; giao thông; thủy lợi và phòng, chống thiên tai; điện; y tế - văn hóa - giáo dục; kinh tế, môi trường; chất lượng môi trường sống; an ninh, trật tự - hành chính công. Kết quả thực hiện các tiêu chí nông thôn mới nâng cao của huyện Phú Bình đều đạt chỉ tiêu, đây là cơ sở để định hướng địa phương hoàn thành xây dựng nông thôn mới nâng cao trong thời gian tới.</p> Nguyễn Thị Hồng, Chu Thị Hồng Huyền, Nguyễn Thu Huyền Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115888 Fri, 28 Mar 2025 00:00:00 +0700 TINH THẦN “BA SẴN SÀNG” TRONG NHỮNG LÁ THƯ THỜI CHIẾN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115889 <p>Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước gian khổ mà hào hùng, những lá thư thời chiến không chỉ mang đến nguồn thông tin và tư liệu quý về hiện thực cuộc sống chiến đấu mà còn thể hiện lý tưởng cao cả của các thế hệ thanh niên xung phong trong thế kỷ XX, trong đó có tinh thần “Ba sẵn sàng”. Vậy, tinh thần “Ba sẵn sàng” được thể hiện như thế nào trong những lá thư thời chiến? Với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, bài báo tập trung nghiên cứu về lịch sử phong trào và biểu hiện cụ thể của tinh thần “Ba sẵn sàng” qua nội dung những lá thư thời chiến. Cụ thể hơn, bài viết làm rõ tinh thần sẵn sàng nhập ngũ; tinh thần sẵn sàng chiến đấu, lạc quan trên chiến trường; tinh thần sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nhiệm vụ gì của thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.</p> Phạm Thùy Trang, Nguyễn Thị Hòa Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115889 Fri, 28 Mar 2025 00:00:00 +0700 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HÀNH VI KẾ HOẠCH (TPB) ĐỂ KHÁM PHÁ Ý ĐỊNH LỰA CHỌN VỊ TRÍ VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN NGÀNH DU LỊCH https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115890 <p>Nghiên cứu này sử dụng Lý thuyết Hành vi Kế hoạch để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn công việc của sinh viên ngành du lịch. Mục tiêu là đánh giá tác động của thái độ công việc, chuẩn mực chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận, công nghệ số và yếu tố cá nhân lên quyết định nghề nghiệp. Phương pháp PLS-SEM được áp dụng trên dữ liệu từ sinh viên ngành du lịch để đo lường mức độ ảnh hưởng qua hệ số đường dẫn và R². Kết quả chỉ ra rằng thái độ tích cực với nghề, cảm giác kiểm soát hành vi và yếu tố cá nhân có tác động mạnh đến ý định nghề nghiệp, với R² = 0,637, mô hình giải thích 63,6% phương sai. Ngược lại, chuẩn mực chủ quan và công nghệ số không có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu cho thấy sinh viên ngành du lịch quyết định nghề nghiệp chủ yếu dựa vào động lực và đánh giá cá nhân, ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố xã hội hay công nghệ. Các nhà giáo dục nên tập trung vào phát triển kỹ năng tự chủ và khai thác động lực cá nhân của sinh viên, đồng thời xem công nghệ như công cụ hỗ trợ nghề nghiệp. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng mẫu khảo sát, bổ sung yếu tố bối cảnh và kết hợp phương pháp định tính để làm phong phú kết quả và khắc phục hạn chế của dữ liệu tự báo cáo.</p> Nguyễn Xuân Vinh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115890 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA HOA KỲ ĐỐI VỚI PHÁP TRONG VIỆC BẢO VỆ HOẠT ĐỘNG BUÔN BÁN TRÊN BIỂN (1796 – 1800) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115893 <p>Hiện nay, nghiên cứu những vấn đề nổi bật của nền ngoại giao Hoa Kỳ khi quốc gia này vừa mới hình thành vẫn còn là khoảng trống nhận thức trong giới học thuật trong nước. Chính sách về thương mại biển là một trong những vấn đề như vậy. Với tư cách chủ thể độc lập, nền ngoại giao Hoa Kỳ (hay còn gọi là Mỹ) thường xuyên phải đối mặt với những rào cản, kiềm toả từ bên ngoài. Điều này buộc giới lãnh đạo đất nước phải tiến hành các cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc trên phạm vi quốc tế. Dựa vào các nguồn tư liệu từ phía Mỹ, bài báo phân tích cuộc đấu tranh của nước Mỹ đối với nước Pháp trong việc bảo vệ buôn bán trên biển. Để tái hiện vấn đề đặt ra, những phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như: lịch sử và logic được tác giả bài báo vận dụng trong quá trình xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan. Bài báo tập trung vào những nội dung sau đây: (i) chính sách thương mại biển của nước Mỹ trong buổi đầu lập quốc; (ii) những hoạt động cản trở buôn bán trên biển từ phía Pháp; (iii) đấu tranh bảo vệ hoạt động buôn bán trên biển của nước Mỹ. Từ việc phân tích đó, bài báo góp phần làm rõ tư tưởng tự do hàng hải của nước Mỹ lúc vừa mới ra đời. Quá trình đấu tranh ngoại giao để hiện thực hoá mục tiêu tự do buôn bán trên biển trong quan hệ quốc tế. Sự thừa nhận nguyên tắc bình đẳng trong buôn bán trên đại dương dành cho tàu bè nước Mỹ từ phía nước Pháp.</p> Lê Thành Nam, Trần Quỳnh Hương, Trần Thị Đông Thi Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115893 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 TÁC ĐỘNG CỦA KHÔNG GIAN XANH ĐẾN SỨC KHỎE TÂM LÝ CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRONG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂN TRÀO https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115894 <p>Bài báo này nghiên cứu ảnh hưởng của không gian xanh đối với sức khỏe tâm lý tại Trường Đại học Tân Trào, tập trung vào việc giảm áp lực tâm lý, cải thiện tập trung và cảm giác hạnh phúc, đồng thời đưa ra các biện pháp cải thiện không gian xanh. Nghiên cứu dựa trên khảo sát 712 người, bao gồm 87 giảng viên và 625 sinh viên, cùng với việc phân tích lý thuyết và tài liệu liên quan. Kết quả cho thấy 85,7% số người được khảo sát có tiếp cận không gian xanh, trong đó 78,6% cảm nhận không gian xanh nâng cao hạnh phúc, và 82,9% thấy không gian xanh giúp giảm căng thẳng. Tuy nhiên không gian xanh tại trường vẫn có giới hạn về phân bố, mật độ và thiết kế. Nghiên cứu đề xuất mở rộng quy mô không gian xanh, cải thiện thiết kế, tăng cường nhận thức và xây dựng cơ chế quản lý hiệu quả để tối ưu hóa lợi ích mà không gian xanh mang lại đối với sức khỏe và chất lượng giáo dục.</p> Đỗ Công Ba Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115894 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 VAI TRÒ CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI (CSR), SỰ GẮN KẾT NHÂN VIÊN (EN) VÀ ĐỔI MỚI XANH (GI) TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG (OP) TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115896 <p>Dựa trên kết quả khảo sát từ 526 cá nhân là cán bộ công nhân viên của các ngân hàng thương mại tại thành phố Đà Nẵng, nghiên cứu này đã áp dụng các lý thuyết cơ bản và các nghiên cứu trước đó để thực hiện mục tiêu nghiên cứu về vai trò của trách nhiệm xã hội trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu này thực hiện bằng cách kết hợp các phương pháp phân tích cơ bản như thống kê, độ tin cậy Cronbach's alpha, phân tích nhân tố khám phá, mô hình đo lường và mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM từ phần mềm SPSS và SMART-PLS, nghiên cứu đã đưa ra những kết quả đáng chú ý, cụ thể: (1) Trách nhiệm xã hội tác động tích cực đến Sự gắn kết nhân viên, Đổi mới xanh, Hiệu quả hoạt động và (2) Sự gắn kết nhân viên, Đổi mới xanh&nbsp; tác động tích cực đến Hiệu quả hoạt động. Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của trách nhiệm xã hội sự gắn kết nhân viên và đổi mới xanh trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu theo sau có thể gia tang cỡ mẫu và mở rộng phạm vi nghiên cứu trên nhiều tỉnh, thành để mức độ ứng dụng nghiên cứu rộng hơn.</p> Ngô Đức Chiến Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115896 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH TỪ GÓC NHÌN CỔ MẪU https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115897 <p>Đối với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, nhà văn Bảo Ninh đã viết về chiến tranh bằng cách thể hiện kí ức của nhân vật về cuộc chiến đã qua và những trải nghiệm của nhân vật sau chiến tranh. Với tình yêu đất nước, tình yêu cuộc sống và lòng hướng thiện, nhân vật đã vượt qua những gian khổ của cuộc chiến tranh và những chấn thương do chiến tranh để lại. Bài báo này sử dụng phương pháp nghiên cứu phê bình cổ mẫu, các thao tác nghiên cứu phân tích, tổng hợp để tìm hiểu hình thái và ý nghĩa của các cổ mẫu tiêu biểu trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các cổ mẫu tiêu biểu trong tiểu thuyết này bao gồm các cổ mẫu tự nhiên như rừng, nước, bóng đêm và các cổ mẫu xã hội như cái chết, người nữ, mộng. Các biểu tượng nguyên sơ này vừa mang những nét nghĩa gốc trong huyền thoại vừa mang những nét nghĩa mới của thời hiện đại. Các cổ mẫu này đã góp phần giúp tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” không chỉ thể hiện một góc nhìn về cuộc chiến tranh của dân tộc Việt Nam mà còn thể hiện những vấn đề nhân bản của loài người, tình thương vô hạn dành cho con người và khơi gợi sự đồng cảm lớn lao trong lòng người đọc. Kết quả của bài báo đóng góp tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam sau 1975 về đề tài hậu chiến.</p> Hoàng Thị Thùy Dương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115897 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM (TRƯỜNG HỢP VĂN HOÁ VẬT CHẤT CỦA CÁC TỘC NGƯỜI TÀY, NÙNG Ở CHÂU BẮC SƠN TỈNH LẠNG SƠN) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115903 <p>Hội nhập văn hóa vật chất của người Tày và Nùng tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đang đối mặt với nguy cơ mai một dưới tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa ngoại lai. Nghiên cứu này nhằm làm rõ những giá trị đặc sắc của văn hóa vật chất, bao gồm kiến trúc nhà ở, trang phục, ẩm thực và nghề thủ công, đồng thời nhận diện những thách thức và đề xuất giải pháp bảo tồn phù hợp. Sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học, phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã thu thập được các dữ liệu quan trọng về sự thích ứng của các dân tộc với điều kiện tự nhiên và những biến đổi văn hóa qua thời gian. Kết quả cho thấy kiến trúc nhà ở của người Tày và Nùng phản ánh sự gắn kết với thiên nhiên, trong khi trang phục và ẩm thực truyền thống vẫn giữ được giá trị bản sắc dù chịu ảnh hưởng từ sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, sự suy giảm nghề thủ công, thay đổi lối sống và áp lực từ hội nhập đặt ra thách thức lớn đối với việc bảo tồn văn hóa vật chất.</p> Hà Thị Thu Thủy, Lý Thị Hoa Hồng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115903 Fri, 04 Apr 2025 00:00:00 +0700 HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG LẬP HIẾN ĐÔNG DƯƠNG TRONG PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở NAM KỲ (1919 – 1942) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115891 <p>Đảng Lập Hiến Đông Dương được ông Bùi Quang Chiêu và các cộng sự thành lập dựa trên Đạo luật ngày 01/7/1901 của nhà nước Pháp. Từ nguồn tư liệu báo chí đương thời và sử dụng phương pháp lịch sử và logic, bài báo này tìm hiểu một số hoạt động nổi bật của Đảng Lập Hiến từ năm 1919 đến 1942. Đó là tham gia vận động phong trào tẩy chay kinh tế tư sản Hoa kiều, chống độc quyền thương cảng Sài Gòn, vận động và tranh cử vào Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mục tiêu đấu tranh của Đảng Lập Hiến không phải là giải phóng đất nước và giành độc lập cho dân tộc Việt Nam. Năm 1942 Đảng kết thúc<em> hoạt động.</em> Tuy nhiên, Đảng Lập Hiến có những đóng góp nhất định như thúc đẩy cải cách nền chính trị Nam Kỳ với các chủ trương đấu tranh đòi quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tham gia vào các cơ quan công quyền cho người Việt trong hệ thống thuộc địa Pháp; đề xuất cải cách về kinh tế và nhất là bảo vệ quyền lợi kinh tế cho tư sản Việt Nam. Hoạt động của Đảng góp phần khơi dậy tinh thần dân tộc và ý thức chính trị trong xã hội Việt Nam đương thời. Nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về bức tranh chính trị Việt Nam giai đoạn thuộc địa, đặc biệt là sự đa dạng về phương thức đấu tranh của các tầng lớp xã hội khác nhau.</p> Nguyễn Thế Hồng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115891 Fri, 18 Apr 2025 00:00:00 +0700 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘNG LỰC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - LUẬT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115905 <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá các nhân tố tác động đến động lực học tập của sinh viên thuộc khoa Kinh tế - Luật tại Trường Đại học Đồng Tháp. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 300 sinh viên, sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả để phân tích dữ liệu tổng quan, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá để xác định các nhóm nhân tố tiềm ẩn, và phân tích hồi quy đa biến nhằm đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến động lực học tập của sinh viên. Mô hình nghiên cứu ban đầu gồm bảy nhân tố với 32 biến quan sát. Kết quả phân tích chỉ ra có sáu nhân tố chính ảnh hưởng đến động lực học tập của sinh viên, bao gồm: phương pháp giảng dạy, nhận thức của sinh viên, điều kiện học tập, môi trường học tập, chất lượng giảng viên, chương trình đào tạo. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số hàm ý quản trị để nâng cao động lực học tập của sinh viên trong tương lai như cải thiện phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giảng viên, cải thiện cơ sở vật chất và điều kiện học tập, xây dựng và phát triển một môi trường học tập tích cực.</p> Hoàng Thị Doan, Nguyễn Thanh Tùng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115905 Fri, 18 Apr 2025 00:00:00 +0700 XÂY DỰNG NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH XỬ LÍ TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM TỪ LÍ THUYẾT LỊCH SỰ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115908 <p>Lí thuyết lịch sự đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm từ những năm cuối thế kỉ XX. Tuy nhiên, sử dụng lí thuyết lịch sự với tư cách là cơ sở để giải quyết những tình huống giao tiếp có bối cảnh giao tiếp điển hình vẫn còn là một khoảng trống. Bài viết này nghiên cứu về cách xử lí tình huống giao tiếp sư phạm (một bối cảnh giao tiếp đặc thù) từ lí thuyết lịch sự. Bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết, các thủ pháp miêu tả, khái quát hóa, nghiên cứu đã chỉ rõ các dấu hiệu nhận biết các tình huống sư phạm từ nguyên nhân nảy sinh tình huống (hành vi ở lời và hành vi ngoài lời). Các hành vi này tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện của nhân vật trong giao tiếp. Bài viết đã đề xuất ba nguyên tắc xử lí tình huống sư phạm: 1) xử lí đúng thẩm quyền của giáo viên, 2) giải quyết tình huống một cách hài hòa về thể diện, 3) xử lí triệt để, giảm thiểu hậu quả tiêu cực. Quy trình xử lí bao gồm phân tích bối cảnh tình huống (bước 1), xác định, phân loại tình huống (bước 2, 3), xác định mức độ đe doạ thể diện, sự thay đổi thể diện (bước 4); xử lí theo hướng tiếp cận, điều chỉnh lại sự hài hòa về thể diện giữa các bên (bước 5). Kết quả nghiên cứu này có thể là gợi ý mở rộng vận dụng trong mọi tình huống giao tiếp.</p> Nguyễn Diệu Thương, Ngô Thị Mỹ Hà Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115908 Wed, 28 May 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ELITECH TẠI ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VỀ NHỮNG HỖ TRỢ CỦA HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG VỚI VIỆC HỌC NÓI TIẾNG ANH https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115910 <p>Nghiên cứu này khảo sát vai trò của các hoạt động khởi động trong việc hỗ trợ sinh viên chương trình Elitech tại Đại học Bách Khoa Hà Nội học nói hội thoại ngắn bằng tiếng Anh. Vấn đề đặt ra là kỹ năng giao tiếp tiếng Anh thường bị xem nhẹ trong chương trình đào tạo kỹ thuật, khiến sinh viên thiếu cơ hội luyện tập giao tiếp thông thường. Để tìm hiểu cách các hoạt động khởi động có thể cải thiện kỹ năng này, nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn nhóm với bảy sinh viên và phỏng vấn sâu với bốn sinh viên đang theo học học phần IELTS Speaking 1. Dữ liệu được phân tích theo phương pháp mã hóa chủ đề nhằm khám phá các lớp suy nghĩ và trải nghiệm của người học. Kết quả cho thấy các hoạt động khởi động giúp tạo môi trường học tập tích cực, giảm căng thẳng, tăng sự gắn kết và tương tác xã hội. Các yếu tố như tính thực tiễn, tính tương tác nhóm và yếu tố giải trí góp phần nâng cao sự tự tin và mức độ tham gia của sinh viên. Việc tích hợp các hoạt động này vào giảng dạy tiếng Anh có thể nâng cao đáng kể kỹ năng hội thoại ngắn và năng lực giao tiếp nói chung, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng giáo dục ngoại ngữ trong các chương trình đào tạo kỹ thuật và các bối cảnh giáo dục rộng hơn.</p> Nguyễn Hạnh Đào, Nguyễn Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Trần Thu Trang Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115910 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG GIAI ĐOẠN 2018 - 2022 https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115911 <p>Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, các dòng đầu tư từ các nước phát triển sang nước đang phát triển ngày càng nhiều. Đây là điều kiện thuận lợi cho các nước đang phát triển phát huy tốt các lợi thế, tranh thủ cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển trong khu vực có nền kinh tế năng động trên thế giới, việc thu hút đầu tư nước ngoài có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các địa phương. Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng quan tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu thống kê, bài báo tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thu hút nguồn vốn đầu tư và sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2018-2022; từ đó đánh giá tổng thể, toàn diện những tác động tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của bài báo cho thấy, vốn đầu tư và các doanh nghiệp FDI có tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của địa phương; song cũng tồn tại những hạn chế nhất định trước những tác động và thách thức của quá trình hội nhập. Nội dung và kết quả nghiên cứu của bài báo có ý nghĩa quan trọng trong việc chỉ ra một cách tổng thể tác động của đầu tư nước ngoài. Đây là cơ sở đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư, tạo sự bứt phá trong quá trình phát triển, đồng thời hoạch định những chính sách phù hợp để thu hút và kiểm soát dòng vốn một cách bền vững.</p> Nghiêm Văn Long Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115911 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 DẠY HỌC NGÔN NGỮ THEO NHIỆM VỤ Ở CÁC LỚP KỸ NĂNG NÓI CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115912 <p>Các phương pháp giảng dạy ngôn ngữ đang thay đổi không ngừng để bắt kịp xu thế phát triển của thời đại. Phương pháp giảng dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ phần nào đã thể hiện được tính ưu việt trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng phương pháp giảng dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ ở các lớp học kỹ năng nói của sinh viên chuyên ngữ, trường Đại học Nha Trang. Bài báo sử dụng phương pháp định tính để thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát 04 giảng viên dạy kỹ năng nói và 232 sinh viên chuyên ngữ tại trường Đại học Nha Trang. Từ đó, tác giả phân tích, diễn giải các số liệu và báo cáo kết quả. Kết quả cho thấy phương pháp giảng dạy ngôn ngữ theo nhiệm vụ được tất cả các giảng viên giảng dạy học phần nói sử dụng. Hầu hết những người tham gia khảo sát đều đồng ý rằng phương pháp này hữu ích trong việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên chuyên ngữ tại nhà trường. Tuy nhiên, hiệu quả của các thể loại nhiệm vụ khác nhau được đánh giá ở các mức độ khác nhau. Các thể loại nhiệm vụ được đánh giá cao về mặt hiệu quả là giải quyết vấn đề, chia sẻ trải nghiệm các nhân, dự án và các nhiệm vụ sáng tạo. Nghiên cứu này là cầu nối giữa lý thuyết dạy học ngôn ngữ theo nhiệm vụ và thực tế ứng dụng vào môn nói ở trường đại học.</p> Lê Thị Thu Nga Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115912 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 RƯỢU TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115913 <p>Rượu là đồ uống có cồn được lên men từ tinh bột, đường hoặc pha chế từ cồn thực phẩm, xuất hiện phổ biến trong văn học dân gian người Việt. Bài viết sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích và liên ngành để làm rõ vai trò quan trọng của rượu trong phong tục, nghi lễ và giao tiếp của người Việt, đặc biệt là trong các nghi lễ truyền thống như cúng tế, cưới hỏi, hội hè. Trong hôn nhân, rượu không chỉ là sính lễ mà còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sự gắn kết và hòa hợp giữa hai bên gia đình và đôi vợ chồng. Dân gian ca ngợi lối uống rượu thanh tao của bậc hiền nhân, đồng thời phê phán mạnh mẽ thói nghiện rượu và hành vi sa đà vào tửu sắc, thông qua các truyện cười, ca dao trào phúng. Không chỉ thường dân, nhiều nhân vật có địa vị như quan chức, sư sãi cũng bị chỉ trích khi vi phạm chuẩn mực đạo đức do rượu gây ra. Rượu còn gắn với các làng nghề truyền thống nổi tiếng như Kẻ Mơ, làng Vân, Bàu Đá, Gò Đen, được xem là niềm tự hào địa phương và một phần bản sắc văn hóa ẩm thực Việt Nam. Dưới thời Pháp thuộc, rượu trở thành vấn đề chính trị – kinh tế khi chính quyền thực dân kiểm soát rượu gạo và đàn áp các hình thức sản xuất rượu truyền thống. Thông qua ca dao, tục ngữ và truyện cười, bài viết góp phần làm rõ quan niệm của dân gian về rượu, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về truyền thống, ứng xử và quan niệm sống của người Việt.</p> Đặng Quốc Minh Dương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115913 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 CHÍNH SÁCH HÀNH ĐỘNG HƯỚNG ĐÔNG CỦA ẤN ĐỘ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115914 <p>Chính sách <strong>Hành động hướng Đông</strong> (Act East Policy) của Ấn Độ, được triển khai từ năm 2014, đánh dấu bước chuyển từ chính sách “Hướng Đông” sang một cách tiếp cận chủ động hơn nhằm mở rộng quan hệ với Đông Nam Á trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương gia tăng. Bài nghiên cứu này phân tích động cơ, nội dung và tác động của Chính sách Hành động hướng Đông đến quan hệ quốc tế, đồng thời đánh giá ảnh hưởng đối với Việt Nam – một đối tác quan trọng của Ấn Độ trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thông qua phương pháp <strong>phân tích chính sách</strong> và<strong> nghiên cứu tình huống, </strong>bài báo chỉ ra rằng Chính sách Hành động hướng Đông giúp Ấn Độ gia tăng ảnh hưởng tại Đông Nam Á thông qua hợp tác thương mại, đầu tư, quốc phòng và kết nối hạ tầng. Đối với Việt Nam, Chính sách Hành động hướng Đông mở ra cơ hội mở rộng hợp tác kinh tế, chuyển giao công nghệ quốc phòng và tăng cường an ninh hàng hải, song cũng đặt ra thách thức trong việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại giữa bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc. Kết luận, Chính sách Hành động hướng Đông không chỉ củng cố vị thế của Ấn Độ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà còn tạo động lực thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ. Để tận dụng tối đa lợi ích từ chính sách này, Việt Nam cần có chiến lược linh hoạt, đẩy mạnh hợp tác thực chất, đồng thời điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với cục diện khu vực đang biến động.</p> Nguyễn Thu Trang Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115914 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KHUNG TRÌNH ĐỘ QUỐC GIA VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115915 <p>Khung trình độ của mỗi quốc gia có mục đích thúc đẩy hợp tác giáo dục và việc làm giữa các quốc gia trên cơ sở công nhận văn bằng, chứng chỉ của nhau và khuyến khích học tập suốt đời. Bài viết này phân tích thực trạng thực hiện khung trình độ quốc gia Việt Nam. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phương pháp khảo sát thực tế và phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy khung trình độ quốc gia Việt Nam đã giúp triển khai có hiệu quả hệ thống giáo dục quốc dân theo các mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; đa dạng hóa phương thức đào tạo dựa theo mô hình giáo dục mở. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy triển khai khung trình độ quốc gia Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục đại học Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, thách thức để tạo đột phá về chất lượng đào tạo, vươn tầm hội nhập quốc tế. Ngoài ra, bài viết cũng cho thấy mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa khung trình độ quốc gia với chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp thực hiện khung trình độ quốc gia giúp các cơ sở giáo dục đại học đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với chuẩn đầu ra, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và cung cấp nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.</p> Nguyễn Danh Nam Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115915 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 ĐẢNG LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP BẢO VỆ, CHĂM SÓC SỨC KHOẺ NHÂN DÂN TỪ NĂM 2016 ĐẾN NĂM 2023 https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115916 <p>Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là mục tiêu nhân văn, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, mà còn là yếu tố then chốt để bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực, sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Giai đoạn 2016 - 2023 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự tập trung cao độ của Đảng và Nhà nước trong việc kiện toàn hệ thống y tế, ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính đột phá nhằm nâng cao toàn diện sức khỏe của người dân. Bằng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với các phương pháp như: tổng hợp, thống kê, so sánh, bài viết làm nổi bật chủ trương và kết quả đạt được trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đồng thời, bài viết đúc rút một số kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân trong thời gian tới.</p> Nguyễn Đức Thăng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115916 Wed, 11 Jun 2025 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG CỦA KHUYẾN NGHỊ XÃ HỘI VÀ NHẬN THỨC CHÍNH SÁCH TỚI Ý ĐỊNH SỬ DỤNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN ĐIỆN TỬ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG KHU VỰC MIỀN NÚI https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115918 <p>Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh tại Việt Nam, thanh toán điện tử đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện và hiện đại hóa tiêu dùng, đặc biệt tại các khu vực miền núi. Bài báo này nhằm phân tích tác động của khuyến nghị xã hội và nhận thức chính sách tới ý định sử dụng thanh toán điện tử của người tiêu dùng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ khảo sát 860 người dân tại hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng, kết hợp phương pháp hồi quy logistic thứ tự và phân tích định tính từ các ý kiến phản hồi mở. Kết quả cho thấy cả hai yếu tố khuyến nghị xã hội và nhận thức chính sách đều có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến ý định tiếp tục sử dụng thanh toán điện tử. Ngoài ra, các đặc điểm cá nhân như trình độ học vấn, thu nhập và độ tuổi cũng có tác động đáng kể. Phân tích định tính bổ sung làm rõ các đề xuất thực tế từ người dân, nhấn mạnh nhu cầu nâng cấp hạ tầng, đơn giản hóa thao tác, và tăng cường ưu đãi. Nghiên cứu cung cấp hàm ý chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển tài chính số và thu hẹp khoảng cách số tại các vùng miền núi.</p> Trương Tuấn Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115918 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XX TỚI SỰ LỰA CHỌN MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115917 <p>Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình kinh này này góp phần phát huy được những tiềm năng, thế mạnh của quốc gia, các thành phần kinh tế của mỗi cá nhân và các vùng miền Tổ quốc. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm làm rõ những tác động của bối cảnh thế giới và trong nước tới sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm đánh giá, phân tích tình hình thế giới cũng như Việt Nam nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy bối cảnh thế giới và trong nước những năm cuối thế kỷ XX đặt ra yêu cầu đối với Việt Nam cần phải đổi mới để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội cũng như hội nhập sâu rộng với thế giới. Việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng khẳng định việc lựa chọn mô hình kinh tế này là đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, thực tiễn của Việt Nam.</p> Nguyễn Văn Đức Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115917 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỚI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG VÀ ĐÃI NGỘ TRÍ THỨC https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115919 <p>Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức phục vụ cho mục tiêu đẩy mạnh phát triển đất nước luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Rất nhiều chủ trương, chính sách của Đảng liên quan đến trí thức đã được đề ra trong suốt những năm qua và được các địa phương quán triệt, vận dụng một cách hiệu quả. Với việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu kết hợp với phương pháp so sánh và tổng hợp, nghiên cứu này nhằm làm rõ chủ trương, chính sách của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã không ngừng phát triển, hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ trí thức, nhằm phát huy tối đa sức đóng góp của đội ngũ đối với quá trình phát triển thành phố và cả nước. Nghiên cứu góp phần quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành thành phố văn minh, hiện đại, cùng cả nước thực hiện thành công mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại, sánh ngang với các nước trong khu vực và trên thế giới.</p> Lưu Mai Hoa Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115919 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VĂN HÓA CHẤT LƯỢNG TẠI TRƯỜNG DU LỊCH – ĐẠI HỌC HUẾ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115920 <p>Xây dựng và phát triển văn hóa chất lượng tại các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến toàn bộ hệ thống đảm bảo chất lượng của mỗi đơn vị. Văn hoá chất lượng thực chất là các chuẩn mực, các giá trị, các niềm tin, được sự đồng thuận và thống nhất cao của mọi thành viên trong tổ chức nhằm đạt được chất lượng. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá thực trạng xây dựng văn hoá chất lượng tại Trường Du lịch – Đại học Huế, xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành văn hoá chất lượng tại nhà trường thông qua việc thu thập ý kiến đánh giá của 101 cán bộ viên chức và người lao động. Kết quả phân tích nhân tố khám phá và mô hình hồi quy đã xác định 4 yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hoá chất lượng được sắp xếp theo thứ tự giảm dần bao gồm: i. Giá trị học thuật; ii. Giá trị nhân văn; iii. Giá trị văn hóa; iv. Giá trị cảnh quan và cơ sở vật chất. Từ kết quả đó, các tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng hoàn thiện và nâng cao văn hoá chất lượng của nhà trường trong thời gian tới.</p> Bạch Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Sương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115920 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 Y HỌC VÀ CHỦ NGHĨA THỰC DÂN: VAI TRÒ CỦA VIỆN PASTEUR SÀI GÒN TRONG HOẠT ĐỘNG Y TẾ Ở NAM KỲ DƯỚI CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA PHÁP (1891-1945) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115922 <p>Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, y học không chỉ đóng vai trò cải thiện sức khỏe cộng đồng mà còn trở thành một công cụ phục vụ cho mục tiêu cai trị thuộc địa. Nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò của Viện Pasteur Sài Gòn đối với hoạt động y tế tại Nam Kỳ (1891-1945), nhằm làm rõ mối quan hệ giữa khoa học với chính sách y tế công cộng và quyền lực thực dân. Dựa trên phương pháp lịch sử, phương pháp logic cùng hướng tiếp cận liên ngành lịch sử - xã hội học, bài báo đã phân tích tài liệu lưu trữ, báo cáo y tế thuộc địa và các công trình nghiên cứu đương đại để làm sáng tỏ cách Viện Pasteur Sài Gòn hoạt động như một mắt xích quan trọng trong mạng lưới y tế thực dân. Đồng thời, bài báo góp phần xây dựng hình ảnh của chính quyền Pháp như một lực lương “khai hóa” nhân danh khoa học. Trong đó, Viện Pasteur không chỉ sản xuất các loại vắc-xin phòng bệnh, mà còn tham gia kiểm soát dịch bệnh, phục vụ quân đội và bảo vệ lợi ích của chính quyền thực dân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đằng sau các nỗ lực y tế mang tính nhân đạo là một hệ thống kiểm soát sinh học – xã hội, trong đó vắc-xin và y học hiện đại trở thành phương tiện duy trì trật tự thuộc địa. Bằng cách tiếp cận lịch sử y học dưới lăng kính quyền lực và chính trị, nghiên cứu góp phần tái hiện vai trò kép của Viện Pasteur Sài Gòn: vừa là trung tâm khoa học tiên phong, vừa là công cụ phục vụ cho dự án thuộc địa hóa Đông Dương của Pháp.</p> Nguyễn Thị Trang, Dương Cẩm Nhung, Tạ Khánh Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115922 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU TÍNH BỀN VỮNG CÁC LOẠI HÌNH SINH KẾ NÔNG HỘ XÃ PHÚ ĐÔ, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115923 <p>Bài báo tập trung đánh giá tính bền vững của các loại hình sinh kế nông hộ tại xã Phú Đô, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nơi sinh kế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Dựa trên khung lý thuyết về sinh kế bền vững và phân tích 5 nguồn vốn (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn vật chất và vốn tài chính), nghiên cứu này khảo sát 180 hộ dân ở 5 xóm tiêu biểu của xã Phú Đô. Kết quả phân tích cho thấy các loại hình sinh kế đều đạt mức <strong>tương đối bền vững</strong>, trong đó trồng chè đạt chỉ số cao nhất (0,5935), theo sau là mô hình chè - lúa (0,5916) và thấp nhất là trồng lúa (0,5421). Nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế như trình độ lao động thấp, khả năng tiếp cận nguồn tín dụng và sự phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao tính bền vững bao gồm: nâng cao trình độ nguồn lao động, quản lý hiệu quả tài nguyên đất và nước, cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường hỗ trợ vốn và trang thiết bị sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, phát triển các mô hình sinh kế và chuỗi sản phẩm nông nghiệp có giá trị. Kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp các nhà quản lý đưa ra những chính sách phát triển sinh kế phù hợp cho các nông hộ tại địa phương.</p> Trần Thị Ngọc Hà, Kiều Quốc Lập Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115923 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TRẢI NGHIỆM DU LỊCH HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐÀ NẴNG TẠI HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115926 <p>Nghiên cứu về chất lượng trải nghiệm đã được triển khai trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng vẫn được coi là khá mới trong lĩnh vực trải nghiệm du lịch giáo dục. Bài báo này tập trung phân tích các yếu tố tác động đến chất lượng trải nghiệm của sinh viên Đà Nẵng trong các chuyến du lịch học tập tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Bằng cách kết hợp phương pháp định tính qua phỏng vấn chuyên gia và nghiên cứu thực địa với phương pháp định lượng qua khảo sát sử dụng lấy mẫu có chủ đích, bài báo xác định năm yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng trải nghiệm du lịch học tập, bao gồm: (1) nội dung trải nghiệm du lịch học tập, (2) tổ chức và dịch vụ hỗ trợ, (3) đặc điểm chung của sinh viên, (4) yếu tố văn hóa địa phương và (5) chương trình đào tạo. Kết quả nghiên cứu cung cấp góc nhìn toàn diện về các yếu tố quyết định đến chất lượng trải nghiệm của sinh viên trong các chương trình du lịch học tập, từ đó đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở giáo dục và phát triển các hoạt động du lịch học tập tại địa phương.</p> Tô Văn Hạnh, Trần Đức Thanh, Phạm Thị Chi Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115926 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 GÓC NHÌN CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN VỀ VIỆC LỒNG GHÉP KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP VÀO GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115928 <p>Bài báo nghiên cứu việc tích hợp kỹ năng nghề nghiệp vào giảng dạy học phần tại Trường Đại học Nha Trang, tìm hiểu cách giảng viên lồng ghép hoạt động phát triển kỹ năng vào bài giảng cũng như trải nghiệm, và nhận thức của sinh viên. Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp phỏng vấn 18 giảng viên và khảo sát 470 sinh viên. Phân tích theo chủ đề được sử dụng cho dữ liệu định tính; dữ liệu định lượng được xử lý bằng thống kê mô tả, suy luận, gồm kiểm định ANOVA để so sánh nhận thức sinh viên giữa các năm học. Kết quả cho thấy 93,8% sinh viên tham gia làm việc nhóm, 85,7% thuyết trình, phản ánh việc triển khai học tập tích cực. Tuy nhiên, chỉ 64,1% cho rằng hoạt động học tập giúp phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và 77,1% đạt tư duy phản biện, cho thấy khoảng trống trong phát triển kỹ năng bậc cao. Kiểm định ANOVA cho thấy không có khác biệt đáng kể về nhận thức phát triển kỹ năng giữa sinh viên các năm (p &gt; 0,05), ngoại trừ tiêu chí tính sẵn sàng cho nghề nghiệp, trong đó sinh viên năm cuối tự tin hơn đáng kể so với sinh viên năm hai (p = 0,049). Điều này cho thấy nhận thức về kỹ năng nghề nghiệp tăng theo thời gian, nhấn mạnh sự cần thiết của việc lồng ghép các hoạt động phát triển kỹ năng sớm hơn trong chương trình đào tạo.</p> Phạm Thị Hoa, Đinh Đồng Lưỡng, Nguyễn Mạnh Cương, Nguyễn Thị Nhật Thảo Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115928 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH NÔNG NGHIỆP TỈNH THÁI NGUYÊN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115932 <p>Nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch nông nghiệp tại tỉnh Thái Nguyên, nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên nông nghiệp và văn hóa bản địa. Tác giả sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng, khảo sát ý kiến của hợp tác xã và cộng đồng địa phương kinh doanh du lịch nông nghiệp. Mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 nhân tố độc lập và 01 nhân tố phụ thuộc với 30 biến quan sát, sau khi kiểm định thông qua SPSS 26.0, cho thấy các nhân tố độc lập ảnh hưởng đến hoạt động du lịch nông nghiệp còn 4 nhân tố, bao gồm: (1) Sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch, (2) Chính sách phát triển du lịch, (3) Môi trường xã hội và trải nghiệm du lịch, và (4) Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tài nguyên du lịch có tác động mạnh nhất, trong khi cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch có tác động yếu nhất nhưng vẫn có ý nghĩa tích cực. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp chính quyền địa phương xây dựng chính sách, giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch nông nghiệp Thái Nguyên.</p> Đỗ Huyền Trang Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115932 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 PHIM ĐIỆN ẢNH TRUYỆN KIỀU DƯỚI GÓC NHÌN CẢI BIÊN VÀ LƯU TRUYỀN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115933 <p>Phim cải biên được coi là thể loại điện ảnh tiêu biểu cho điểm gặp gỡ của văn học và điện ảnh. Trên thực tế, ngày nay cải biên điện ảnh là một xu thế phổ biến trong việc lưu truyền, tiếp nhận văn học. Trên cơ sở lí thuyết cải biên, liên văn bản và lí thuyết tiếp nhận, bài viết chủ yếu sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, hệ thống, thống kê, so sánh. Từ 6 phương diện cơ bản: hướng cải biên và tiếp nhận, chủ thể cải biên và đối tượng tiếp nhận, nội dung và hình thức cải biên, cách thức cải biên trong mối quan hệ đa chiều giữa&nbsp;nguyên tác – cải biên – lưu truyền – tiếp nhận, bài viết phân tích tình hình cải biên, lưu truyền và tiếp nhận phim cải biên <em>Truyện Kiều</em>, khó khăn của cải biên và lưu truyền phim cải biên <em>Truyện Kiều</em>, sự chuyển hướng thẩm mĩ trong bối cảnh đương đại. Bài viết khẳng định phim cải biên <em>Truyện Kiều</em> là một trải nghiệm hoàn toàn khác biệt và đầy thách thức, so với bản gốc, thành công thực sự của phim cải biên vẫn còn phía trước.</p> Phạm Văn Hóa Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115933 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 MÔ TÍP HUYỀN THOẠI TRONG VĂN XUÔI HƯ CẤU HIỆN ĐẠI VIỆT NAM (KHẢO SÁT CÁC TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115936 <p>Chương trình Ngữ văn 2018 có sự góp mặt của ba bộ sách giáo khoa: <em>Cánh diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức với cuộc sống</em>. Các bộ sách Ngữ văn này sử dụng nhiều tác phẩm văn xuôi hư cấu hiện đại Việt Nam. Một số tác phẩm này sử dụng các mô típ huyền thoại. Bài báo hướng đến mục đích làm rõ vai trò của các mô típ huyền thoại trong văn xuôi hư cấu hiện đại Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cách giảng dạy và tiếp nhận văn học trong chương trình Ngữ văn 2018. Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu tiêu biểu là phê bình huyền thoại, phê bình thi pháp học; thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh. Nội dung nghiên cứu của bài báo là đặc điểm của các mô típ huyền thoại trong các tác phẩm văn xuôi hư cấu hiện đại Việt Nam của chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể bao gồm mô típ giấc mộng, mô típ sự biến hóa, mô típ cái chết. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tái hiện các mô típ này trong văn xuôi hư cấu hiện đại Việt Nam là sự thừa kế từ trong văn học dân gian. Bên cạnh đó, các mô típ này trong văn xuôi hư cấu hiện đại Việt Nam đã được biến đổi để phù hợp với việc phản ánh cuộc sống và con người Việt Nam hiện đại. Các mô típ huyền thoại như một cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, đòi hỏi sự giải mã của người đọc và người học.</p> Hoàng Thị Thùy Dương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115936 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁI CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH AN GIANG (2015-2020): CHỦ TRƯƠNG VÀ KẾT QUẢ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115940 <p>Phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn là chủ trương xuyên suốt và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng, các địa phương đã triển khai thực hiện với nhiều hình thức, cách làm sáng tạo dựa trên lợi thế và đạt được những kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2015-2020, tỉnh An Giang đã có nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng hiện đại, trọng tâm là thực hiện đề án tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Bằng việc sử dụng các phương pháp lịch sử, lôgic, tổng hợp, thống kê, bài viết nhằm khảo cứu đường lối, chủ trương của tỉnh An Giang trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện và kết quả tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới những năm vừa qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng truởng ngành nông nghiệp tương đối ổn định, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, sản xuất nông nghiệp gắn chặt hơn với thị trường thông qua các mô hình liên kết, thu nhập của người nông dân được cải thiện, diện mạo nông thôn ngày càng phát triển. Qua đó, nghiên cứu góp phần cung cấp thêm luận cứ thực tế cho việc hoạch định chủ trương, chính sách của tỉnh trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới giai đoạn tiếp theo.</p> Võ Hoàng Đông Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115940 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 NHÂN TỐ THÚC ĐẨY KHÁCH DU LỊCH THẾ HỆ Z LỰA CHỌN CÁC ĐIỂM DU LỊCH CỘNG ĐỒNG TẠI THÀNH PHỐ HỘI AN, QUẢNG NAM: NGHIÊN CỨU DỰA TRÊN LÝ THUYẾT HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115943 <p>Du lịch cộng đồng đang trở thành loại hình du lịch phổ biến và thu hút được nhiều đối tượng khách du lịch, bao gồm khách du lịch thế hệ Z. Nghiên cứu này được thực hiện để phân tích các yếu tố thúc đẩy thế hệ Z lựa chọn các điểm du lịch cộng đồng tại Hội An dựa trên lý thuyết hành vi có kế hoạch. Thông qua khảo sát, nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 364 khách du lịch thế hệ Z và thực hiện kiểm định các giả thuyết bằng mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả cho thấy tất cả các yếu tố của lý thuyết hành vi có kế hoạch, bao gồm thái độ hướng tới hành vi, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đều ảnh hưởng tích cực tới ý định du lịch, đồng thời nhận thức kiểm soát hành vi và ý định hành vi ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi lựa chọn các điểm du lịch cộng đồng tại Hội An của nhóm khách này. Những phát hiện của nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan và góp phần giúp các nhà quản lý và cộng đồng địa phương hiểu được hành vi du lịch của khách thế hệ Z, từ đó đề xuất các chiến lược phát triển nhằm thu hút khách du lịch Z trong tương lai.</p> Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Thị Hồng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115943 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 CUỘC VẬN ĐỘNG NGƯỜI VIỆT PHÁT TRIỂN KINH DOANH TRONG PHONG TRÀO TẨY CHAY KHÁCH TRÚ Ở NAM KỲ NĂM 1919 https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115946 <p>Phong trào Tẩy chay Khách trú bùng nổ ở Nam Kỳ năm 1919, sau đó lan rộng ra cả nước. Trong phong trào này, bên cạnh việc kêu gọi người Việt tẩy chay hàng hóa, dịch vụ của thương nhân Hoa kiều (Khách trú), những người khởi xướng phong trào còn kêu gọi người Việt ở Nam Kỳ đầu tư phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh để cạnh tranh, thay thế cho vai trò của thương nhân Hoa kiều trong các hoạt động kinh tế và đã vận động được một bộ phận đông đảo người Việt Nam tham gia. Bài báo này sẽ phục dựng lại cuộc vận động người Việt phát triển kinh doanh trong phong trào Tẩy chay Khách trú ở Nam Kỳ năm 1919 bằng các phương pháp: phân tích, phê bình và tổng hợp các nguồn tư liệu lịch sử, trong đó chủ yếu là các tư liệu đã đăng trên diễn đàn báo chí đương thời. Trên cơ sở đó, bài báo phân tích nguồn gốc, sự tiếp tục của cuộc vận động này trong giai đoạn sau, qua đó làm rõ những đóng góp, ý nghĩa lịch sử của phong trào này đối với quá trình hình thành của giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc và những đóng góp của phong trào đối với tiến trình lịch sử Việt Nam.</p> Phạm Phúc Vĩnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115946 Thu, 19 Jun 2025 00:00:00 +0700 VẤN ĐỀ CĂN TÍNH GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT MARIO VARGAS LLOSA TỪ GÓC NHÌN CỦA THUYẾT LỆCH PHA https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115949 <p>Diễn ngôn tính dục là một đặc trưng quan trọng, góp phần làm nổi bật bản sắc riêng của văn học Mỹ Latinh trên bản đồ văn học thế giới. Với phương pháp nghiên cứu chính là tiếp cận vấn đề tính dục từ thuyết lệch pha kết hợp với phương pháp lịch sử - văn hóa và phê bình diễn ngôn, bài viết phân tích vấn đề căn tính giới trong tiểu thuyết của Mario Vargas Llosa. Nghiên cứu cho thấy các tiểu thuyết của ông đã khắc họa các nhân vật có bản dạng phân mảnh với rất nhiều biểu hiện của tính dục lệch chuẩn, sống trong mâu thuẫn giữa áp lực xã hội và bản năng cá nhân. Thông qua đó, Llosa đã tái định nghĩa, chất vấn và làm mờ ranh giới của các chuẩn mực truyền thống về giới tính, tính dục và bản dạng nhằm làm nổi bật sự phi chuẩn, đa dạng và linh hoạt của căn tính giới. Ngoài ra, với việc nhấn mạnh căn tính giới còn chịu ảnh hưởng của quyền lực và văn hóa, tiểu thuyết của Llosa đồng thời cũng là tiếng nói phê phán các hệ thống quyền lực áp đặt chuẩn mực giới tính và tính dục trong xã hội Peru.</p> Nguyễn Thị Thu Giang Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115949 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 SỰ HÀI LÒNG CỦA CÁN BỘ NHÂN VIÊN Y TẾ VỚI CÔNG VIỆC TẠI CÁC TRUNG TÂM Y TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2024: TỔNG QUAN HỆ THỐNG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115951 <p>Trong bối cảnh các trung tâm y tế tại Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức về nguồn nhân lực và chất lượng dịch vụ, mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên y tế trở thành một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà quản lý và nghiên cứu. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng hợp các bằng chứng về mức độ hài lòng trong công việc của nhân viên y tế tại các trung tâm y tế ở Việt Nam trong giai đoạn 2015–2024. Quá trình tổng quan hệ thống được thực hiện trên hai cơ sở dữ liệu PubMed và Google Scholar tuân theo hướng dẫn PRISMA. Chất lượng nghiên cứu được đánh giá bằng bảng kiểm STROBE nhằm đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả phân tích. Sáu nghiên cứu đáp ứng tiêu chí lựa chọn được đưa vào phân tích, với quy mô mẫu từ 151 đến 343 nhân viên y tế. Các yếu tố được đánh giá bao gồm môi trường làm việc, mối quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp, lương/ phúc lợi, cơ hội học tập và sự hài lòng tổng thể. Kết quả cho thấy mức độ hài lòng cao nhất thường liên quan đến mối quan hệ đồng nghiệp và lãnh đạo, trong khi lương và điều kiện làm việc có mức độ hài lòng thấp nhất. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện các yếu tố liên quan đến điều kiện làm việc và đãi ngộ để nâng cao sự hài lòng và hiệu quả công việc của cán bộ nhân viên y tế tại các trung tâm y tế ở Việt Nam trong tương lai.</p> Trần Thị Thu Trang, Lê Minh Đức Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115951 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 THIẾT KẾ TƯ LIỆU PHỤC VỤ TRUYỀN THÔNG QUẢNG BÁ ĐIỂM DU LỊCH SÓC BOM BO https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115953 <p>Nhằm thu hút thêm nhiều du khách đến sóc Bom Bo, nơi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch bền vững, bài báo này tập trung vào việc xây dựng nguồn tư liệu chân thực, kết nối chặt chẽ với cộng đồng địa phương phục vụ công tác truyền thông, quảng bá điểm du lịch. Phương pháp nghiên cứu chính trong bài báo là thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp và sơ cấp nhằm (1) khảo sát và tổng hợp ý kiến của du khách, cán bộ quản lý du lịch, hướng dẫn viên, đại diện công ty lữ hành về nhu cầu và nội dung tư liệu truyền thông, (2) chọn lựa nội dung thể hiện được dặc trưng của điểm du lịch Bom Bo để thiết kế tư liệu. Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu cao về hai nguồn tư liệu là Sổ tay du lịch sóc Bom Bo và kênh truyền thông trực tuyến. Nhóm tác giả đã thiết kế sổ tay và trang Tiktok du lịch sóc Bom Bo phục vụ công tác truyền thông nhằm thu hút du khách đến với sóc Bom Bo nhiều hơn, góp phần phát triển du lịch và nâng cao đời sống của người dân địa phương.</p> Phạm Thị Bình, Trần Thị Thủy Tiên, Nguyễn Hoài Trúc Ngân, Trần Trương Khánh An, Nguyễn Thị Việt Trinh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115953 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 PHẠM TRÙ “CHÍ” TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115956 <p>Văn học trung đại Việt Nam vẫn thường đề cao “chí” của người quân tử, bậc nam nhi. Mượn thơ để nói chí là một hình thức bày tỏ nỗi lòng, bộc lộ tâm sự, thể hiện hoài bão của mỗi thi nhân. Đối với Nguyễn Trãi, cách thể hiện “chí” của ông cũng rất khác biệt. Vậy sự khác biệt đó được thể hiện như thế nào trong sáng tác thơ Nôm của ông? Thông qua khảo sát ban đầu Quốc âm thi tập, đặc biệt là 21 bài thơ có nhan đề Ngôn chí, kết quả thu được đã cho thấy phần nào chí hướng của một nhà nho yêu nước. Trong thơ Nguyễn Trãi, “chí” là yêu nước, là khát vọng xây dựng đất nước phát triển trong hòa bình. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng cho thấy “chí” là cảm xúc cá nhân, là lý tưởng của mỗi cá nhân đối với cộng đồng. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa tư tưởng và văn chương. Mối quan hệ này không chỉ thấy ở riêng Nguyễn Trãi mà còn gặp ở nhiều tác giả khác trong văn học trung đại Việt Nam.</p> Nguyễn Văn Trung Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115956 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU: PHÂN TÍCH DỰA TRÊN CHỈ SỐ THƯƠNG MẠI https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115957 <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá cấu trúc thương mại giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu từ đó phân tích mức độ tận dụng hiệp định và tiềm năng mở rộng hợp tác thương mại song phương. Dữ liệu thống kê từ “Hệ thống dữ liệu thương mại quốc tế” - Trade Map của Trung tâm Thương mại Quốc tế giai đoạn 2004-2023 được xử lý và phân tích định lượng bằng các chỉ số thương mại phổ biến như chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu, chỉ số cường độ thương mại, chỉ số bổ sung thương mại. Kết quả cho thấy Việt Nam có lợi thế so sánh ổn định với 18 nhóm hàng xuất khẩu (HS-2), nổi bật là dệt may, thủy sản, linh kiện điện tử và gỗ. Tuy nhiên, chỉ số cường độ thương mại giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu chỉ dao động quanh mức 0,45–0,55 trong toàn bộ giai đoạn, thấp hơn nhiều so với chỉ số cường độ thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ (trên 1,4) và Trung Quốc (trên 1,2), cho thấy mức độ hội nhập thực chất với thị trường Liên minh châu Âu còn hạn chế. Chỉ số bổ sung thương mại giữa hai bên cũng phản ánh cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam chỉ ở mức tương đối phù hợp với nhu cầu nhập khẩu của Liên minh châu Âu. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc tận dụng hiệu quả Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đòi hỏi không chỉ cải thiện chất lượng sản phẩm, mà còn cần điều chỉnh cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng phù hợp hơn với nhu cầu thị trường nhập khẩu.</p> Nguyễn Thế Hải Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115957 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO NAM KỲ DƯỚI THỜI VUA MINH MẠNG (1820 - 1841) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115960 <p>Những hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở vùng biển phía Nam của vua Minh Mạng (1820 – 1841) đã góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh hàng hải và chủ quyền biển, đảo Nam Kỳ. Mục đích của bài báo này là phân tích các nhân tố về vị trí chiến lược của vùng đất Nam Kỳ, bối cảnh Đông Nam Á đã tác động đến chính sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo Nam Kỳ và tiếp tục làm rõ những đóng góp của triều Nguyễn trong hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo Nam Kỳ dưới thời vua Minh Mạng. Thông qua việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic kết hợp phân tích các nguồn tài liệu lưu trữ, kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề sau: (1) sự tác động từ vị trí chiến lược của biển, đảo Nam Kỳ và bối cảnh khu vực trong nửa đầu thế kỷ XIX đến việc tổ chức bảo vệ chủ quyền biển, đảo Nam Kỳ của Đại Nam; (2) các hoạt động bảo vệ chủ quyền diễn ra thường xuyên và được quy định nghiêm ngặt thông qua các chỉ dụ của vua Minh Mạng. Kết quả nghiên cứu của bài báo góp phần ghi nhận lại quá trình bảo vệ chủ quyền của các bậc tiền nhân, phát huy giá trị tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay.</p> Nguyễn Hoàng Minh, Hoàng Quốc Việt Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115960 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁC PHẨM "NHỮNG TRÍCH ĐOẠN CỦA CÁC ANH" CỦA PHAN THÚY HÀ NHÌN TỪ LÍ THUYẾT CHẤN THƯƠNG https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115975 <p>Chấn thương tâm lí của các cựu chiến binh hậu chiến là vấn đề quan trọng nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ trong văn học. Khi nghiên cứu tác phẩm <em>Những trích đoạn của các anh</em> của Phan Thúy Hà, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: chấn thương tâm lí ảnh hưởng như thế nào đến hành vi, cảm xúc và các mối quan hệ xã hội của các cựu chiến binh? Thể loại phi hư cấu của tác phẩm có lợi thế như thế nào so với thể loại hư cấu? Để làm rõ vấn đề, chúng tôi tiếp cận qua lí thuyết chấn thương và sử dụng phương pháp liên ngành, kết hợp giữa văn học và tâm lí học, cùng các phương pháp phân tích nội dung và phân tích tâm lí. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích ảnh hưởng của kí ức chiến tranh lên tâm lí và hành vi của các nhân vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân vật thường xuyên bị ám ảnh bởi kí ức chiến tranh, khiến họ mắc kẹt trong quá khứ, dẫn đến những tổn hại về hành vi, cảm xúc và quan hệ xã hội. Thể loại phi hư cấu giúp tác phẩm nổi bật tính chân thực và làm rõ quá trình đối diện với quá khứ để chữa lành. Nghiên cứu khẳng định vai trò của lí thuyết chấn thương trong việc tiếp cận văn học thời hậu chiến.</p> Tạ Anh Thư Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115975 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO Ở TỈNH THÁI NGUYÊN - MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TIỄN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115976 <p>Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện nay được xem là yếu tố then chốt, giữ vai trò quyết định trong việc tạo dựng năng lực cạnh tranh và sức mạnh nội sinh cho sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Thái Nguyên, qua đó góp phần khẳng định vị thế của tỉnh đối với đất nước. Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, lôgic, nghiên cứu trường hợp, phân tích tư liệu... bài viết tập trung làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; đồng thời khảo sát việc vận dụng tư tưởng đó trong thực tiễn phát triển tại tỉnh Thái Nguyên thời gian qua. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những thành tựu nổi bật, đồng thời nhận diện các vấn đề đang đặt ra trong thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh.</p> Nguyễn Thị Khương, Thái Hữu Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115976 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 LAO ĐỘNG BỊ KẾT ÁN: MỘT NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở NHÀ TÙ CÔN ĐẢO THỜI KÌ VIỆT NAM THUỘC PHÁP https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115977 <p>Bài viết phân tích quá trình tổ chức và sử dụng lao động bị kết án tại nhà tù Côn Đảo – một trong những nhà tù được thành lập sớm nhất và có số lượng tù nhân đông đảo nhất dưới thời Pháp thuộc. Dựa trên phương pháp lịch sử, kết hợp tư liệu lưu trữ và văn bản hành chính, bài viết làm rõ cách chính quyền thực dân thiết lập mạng lưới lao động bị kết án nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế – kiểm soát. Đồng thời, bài viết cho thấy các tù nhân bị phân bổ làm các công việc như đập đá, khuân vác vật liệu, xây dựng công trình, mở đường, trồng trọt khai hoang, đánh bắt thủy sản hay lao động phục vụ đời sống cho bộ máy cai trị nhà tù. Đáng chú ý, các tù nhân làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, chế độ đãi ngộ thấp và không có các biện pháp bảo hộ an toàn lao động tối thiểu, do đó họ đã đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi cho mình. Nghiên cứu này góp phần nhận diện vai trò của lao động hình sự như một cấu phần trong bộ máy vận hành của nhà nước thực dân, đồng thời chỉ ra những phản ứng xã hội từ phía người tù trước tình trạng lao động áp bức tại Côn Đảo.</p> Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thu Trang, Trần Minh Đức Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115977 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 VƯỜN ƯƠM TRONG KHỞI NGHIỆP VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115978 <p>Vườn ươm doanh nghiệp (incubator) là một mô hình hỗ trợ doanh nghiệp toàn diện được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi sự và mới được thành lập phát triển thông qua cung cấp các dịch vụ dùng chung, đào tạo, hỗ trợ tài chính, trang thiết bị và nhà xưởng. Tất cả các nguồn lực này với mục đích giúp các doanh nghiệp phát triển và thành công. Nghiên cứu này đi sâu tìm hiểu các xu hướng nghiên cứu toàn cầu về vườn ươm doanh nghiệp thông qua việc phân tích các tài liệu xuất bản của 144 công trình được công bố từ năm 2015 đến 2024 và được sắp xếp trong cơ sở dữ liệu Web of Science. Sử dụng phần mềm CiteSpace, nghiên cứu xác định các quốc gia dẫn đầu, các lĩnh vực nghiên cứu chính và các cụm chủ đề mới nổi. Kết quả cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với nghiên cứu về vườn ươm, với Hoa Kỳ nổi lên như là một trung tâm và quản lý, và kinh doanh là các ngành thống trị. Các chủ đề chính trong nghiên cứu bao gồm hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới và vườn ươm đại học. Những phát hiện của nghiên cứu cung cấp những hiểu biết có giá trị cho các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách, giúp định hình các chiến lược ươm tạo tốt hơn và hỗ trợ tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Việc tăng cường các chiến lược này sẽ cho phép các vườn ươm cung cấp hỗ trợ hiệu quả hơn cho các công ty khởi nghiệp, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trên quy mô toàn cầu.</p> Ngô Anh Tín Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115978 Wed, 25 Jun 2025 00:00:00 +0700 SẮC MÀU ẨM THỰC TRONG BỘ ĐÔI TÙY BÚT TÔI ĐÃ ĂN CẢ CÁNH ĐỒNG HOA VÀ NỬA VÒNG TRÁI ĐẤT UỐNG MỘT LY TRÀ CỦA DI LI https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115979 <p><em>Tôi đã ăn cả cánh đồng hoa và Nửa vòng trái đất uống một ly trà</em>&nbsp;của Di Li là những cuốn sách du ký về đề tài ẩm thực đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc bởi màu sắc đậm chất văn hóa. Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề chưa được nghiên cứu tìm hiểu thấu đáo, vì vậy mục đích nghiên cứu của bài báo sẽ hướng tới làm rõ màu sắc văn hóa được thể hiện qua hai tác phẩm này. Qua khảo sát, thống kê, phân tích, so sánh để tìm hiểu về hai tác phẩm<em>,</em>chúng tôi bước đầu nhận thấy: Tác phẩm là những trải nghiệm hấp dẫn và lôi cuốn độc giả của Di Li về những màu sắc ẩm thực của Việt Nam và thế giới với những nét truyền thống và hiện đại được cảm nhận sâu sắc bằng tất cả giác quan đem lại những trải nghiệm thú vị về phong cảnh của vùng đất và con người đã tạo nên nó. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thấy rõ giá trị văn hóa và nhân sinh sâu sắc qua các tùy bút và khẳng định được tài năng, đóng góp của tác giả trong nền văn học đương đạiViệt Nam.</p> Nghiêm Thị Hồ Thu, PhạmThị Hằng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115979 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 QUAN NIỆM CỦA MILAN KUNDERA VỀ CẤU TRÚC TỰ SỰ TIỂU THUYẾT https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115980 <p>Tiểu luận là bộ phận đặc sắc trong di sản Milan Kundera. Các tiểu luận của ông cho thấy sáng tạo tiểu thuyết không chỉ là một hoạt động cảm tính mà còn rất lý tính. Thông qua hệ thống tiểu luận, Kundera thể hiện quan điểm về nhiều phương diện nghệ thuật tiểu thuyết. Đặc biệt, cấu trúc tự sự tiểu thuyết là một trong những điểm được ông đề cập xuyên suốt. Bài báo này đặt những phát biểu của Kundera bên cạnh sự vận động lý thuyết tự sự nói chung, sử dụng phương pháp tiểu sử và thao tác so sánh để tìm hiểu sự độc đáo trong quan niệm của ông. Kundera hình dung cấu trúc tự sự tiểu thuyết bao gồm bốn tầng bậc: chất liệu thô, hoạt động bếp núc của nhà văn, văn bản hoàn chỉnh và nghĩa nảy sinh từ quá trình tiếp nhận. Kundera cũng đề xuất những phương thức nghệ thuật riêng để kiến tạo cấu trúc tiểu thuyết; trong đó, lối “đối âm” tiểu thuyết - một nghệ thuật “đối âm” khác với lý thuyết đối âm nổi tiếng của Mikhail Bakhtin - là sáng tạo đặc biệt. Quan điểm về phân tầng cấu trúc tự sự tiểu thuyết như trên cho thấy tư duy hiện đại, gần gũi với lý thuyết tự sự học hậu kinh điển. Kết quả nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ tính đặc thù trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn dưới góc độ tự sự học, đồng thời cung cấp một hệ hình tự sự tiểu thuyết có khả năng ứng dụng để phân tích nhiều tiểu thuyết hiện đại và hậu hiện đại.</p> Dương Bảo Linh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115980 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ VỀ NĂNG LỰC SỐ VÀ SỰ TINH GỌN CỦA KHU VỰC CÔNG: TRƯỜNG HỢP CỦA HỘI PHỤ NỮ VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115981 <p>Nghiên cứu này phân tích năng lực số của đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và cải cách khu vực công, nhằm nhận diện khoảng cách năng lực, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất khung năng lực số phù hợp theo từng cấp độ. Với phương pháp tiếp cận hỗn hợp, nghiên cứu đã khảo sát 390 cán bộ thuộc cấp trung ương, tỉnh và cơ sở, đồng thời thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tại ba tỉnh: Lào Cai, Đắk Lắk và Bến Tre, với sự tham gia của 20 cá nhân và 6 nhóm cộng đồng. Kết quả cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về kỹ năng theo độ tuổi, vùng miền và cấp hành chính, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý dữ liệu, an ninh mạng và hợp tác trực tuyến, bị ảnh hưởng bởi hạn chế về hạ tầng và thiếu hụt chương trình đào tạo. Nghiên cứu đề xuất khung năng lực số có cấu trúc rõ ràng, lộ trình đào tạo theo từng tầng cấp, cơ chế giám sát tích hợp và tăng cường đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin – truyền thông.</p> Bùi Xuân Chung Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115981 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 NHỮNG THÁCH THỨC MÀ GIẢNG VIÊN TIẾNG ANH GẶP PHẢI TRONG VIỆC DẠY KỸ NĂNG NÓI: ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115983 <p>Nghiên cứu này nhằm khảo sát những thách thức mà giảng viên tiếng Anh gặp phải khi dạy kỹ năng nói cho sinh viên không chuyên tiếng Anh và đề xuất một chương trình hỗ trợ khắc phục các vấn đề cụ thể của họ. Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, nghiên cứu này đã thực hiện quan sát lớp học trong suốt một học kỳ, khảo sát 62 sinh viên năm thứ nhất và phỏng vấn 5 giảng viên tiếng Anh của Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Phân tích dữ liệu đã chỉ ra một số thách thức chính mà sinh viên và giảng viên gặp phải, bao gồm từ vựng hạn chế, thiếu tự tin, kỹ năng phát âm chưa đủ tốt và thái độ học thụ động của sinh viên, cùng với những khó khăn trong quản lý lớp học, thu hút sự chú ý của sinh viên và cung cấp cơ hội thực hành nói trong lớp học đông học sinh đối với giảng viên. Dữ liệu định lượng từ khảo sát sinh viên cho thấy hơn 70% sinh viên cảm thấy lo lắng khi nói tiếng Anh, trong khi 65% cho biết họ cần sự hỗ trợ có cấu trúc hơn để cải thiện khả năng nói của mình. Dựa trên những phát hiện này, một chương trình hỗ trợ được thiết kế riêng đã được đề xuất, bao gồm các hoạt động giao tiếp, học dựa trên nhiệm vụ và đào tạo phát âm. Nghiên cứu kết luận rằng với việc triển khai các chiến lược sư phạm phù hợp, bao gồm việc tích hợp công cụ AI, giảng viên có thể cải thiện đáng kể hiệu quả nói của sinh viên và tăng cường sự tự tin của họ trong giao tiếp tiếng Anh. Phản hồi và các hoạt động mô phỏng dựa trên AI dự kiến sẽ nâng cao cơ hội nói của sinh viên và giảm bớt lo âu. Các phát hiện từ nghiên cứu này được kỳ vọng sẽ đóng góp vào sự phát triển các phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn trong các bối cảnh tiếng Anh như một ngoại ngữ tương tự.</p> Vũ Kiều Hạnh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115983 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC ÂM VỊ HỌC TẠI BẬC ĐẠI HỌC https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115982 <p>Nghiên cứu này tìm hiểu về những khó khăn mà sinh viên chuyên ngành tiếng Anh gặp phải trong việc học âm vị học ở bậc đại học. Bằng cách kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu khảo sát từ 157 sinh viên thông qua bảng hỏi Likert 5 mức độ và phỏng vấn bán cấu trúc với 11 sinh viên đạt kết quả cao trong học phần âm vị. Kết quả nghiên cứu cho thấy có hai yếu tố chính mà sinh viên cho rằng ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức âm vị học: bản chất của môn học và kiến thức nền tảng. Thêm vào đó, sinh viên đã đề xuất một số giải pháp khả thi để giải quyết những khó khăn này, bao gồm tăng cường thực hành âm vị học, học nhóm, đa dạng hóa nguồn tài liệu học tập và thay đổi quan điểm về môn học. Những kết quả này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải tiến phương pháp sư phạm với định hướng mục tiêu rõ ràng để nâng cao hiệu quả của việc học môn âm vị học trong chương trình cho sinh viên chuyên ngữ. Đồng thời nghiên cứu cũng khuyến khích tính chủ động của sinh viên, và gợi mở các hướng nghiên cứu sâu hơn cho các nghiên cứu sau này trong cùng lĩnh vực.</p> Nguyễn Tiến Đạt, Trần Thị Mai Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115982 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 TÁC ĐỘNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI ĐẾN HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LOGISTICS VIỆT NAM: VAI TRÒ TRUNG GIAN CỦA LÃNH ĐẠO XANH TOÀN DIỆN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115985 <p>Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một vấn đề quan trọng để hướng tới sự phát triển bền vững, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu trước đã được thực hiện để tìm hiểu tác động của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến kết quả hoạt động tài chính hoặc kết quả của tổ chức, tuy nhiên khía cạnh về môi trường chưa được chú trọng nhiều. Kết hợp lý thuyết dựa trên nguồn lực và lý thuyết dựa trên nguồn lực tự nhiên, nghiên cứu này đề xuất và xem xét tác động trung gian của lãnh đạo xanh toàn diện trong mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và kết quả hoạt động môi trường bằng việc kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương tối thiểu từng phần. Kết quả phân tích từ 193 nhà quản lý doanh nghiệp logistics tại Việt Nam cho thấy tác động trực tiếp của trách nhiệm xã hội đến kết quả hoạt động môi trường và tác động gián tiếp thông qua lãnh đạo xanh toàn diện trong bối cảnh các doanh nghiệp logistics Việt Nam. Một số hàm ý và kết luận được đưa ra cho các nhà quản trị doanh nghiệp, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu quả của trách nhiệm xã hội và hoạt động của doanh nghiệp đối với môi trường thông qua vai trò của lãnh đạo xanh toàn diện.</p> Nguyễn Văn Quân, Phạm Kiên Trung Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115985 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 ẢNH HƯỞNG YẾU TỐ CHIA SẺ KIẾN THỨC, NĂNG LỰC HỌC TẬP CỦA TỔ CHỨC, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO MỞ VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115984 <p>Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của chia sẻ kiến thức và năng lực học tập tổ chức đến đổi mới sáng tạo mở thông qua hệ thống Lý thuyết Quản lý tri thức, Lý thuyết về đổi mới mở, Lý thuyết học tập tổ chức bằng cách kiểm định một mô hình tích hợp nghiên cứu ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát trực tuyến với 257 mẫu hợp lệ từ các nhà quản lý doanh nghiệp. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng SPSS và AMOS thông qua các bước kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá, khẳng định và mô hình cấu trúc tuyến tính. Kết quả chỉ ra rằng chia sẻ kiến thức có ảnh hưởng cùng chiều đến năng lực học tập của tổ chức và đổi mới sáng tạo mở; đồng thời, năng lực học tập của tổ chức cũng thúc đẩy đổi mới sáng tạo mở. Đặc biệt, đổi mới sáng tạo mở có tác động cùng chiều và có ý nghĩa về mặt thống kê đến kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, không tìm thấy mối quan hệ trực tiếp cùng chiều giữa chia sẻ kiến thức hay năng lực học tập của tổ chức với kết quả kinh doanh. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường chia sẻ kiến thức và đổi mới sáng tạo mở như là những yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ cải thiện kết quả và phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh.</p> Thành Ngọc Mỹ Duyên Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115984 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN QUA ĐIỂM CHUYÊN CẦN, GIỮA KỲ, ĐIỂM THI VÀ TỔNG KẾT CUỐI KỲ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LỚP HỌC TIẾNG ANH TẠI VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115988 <p>Nghiên cứu này nhằm phân tích mô hình kết quả học tập của sinh viên qua bốn thành phần đánh giá chính của các điểm: chuyên cần, kiểm tra giữa kỳ, kiểm tra cuối kỳ và tổng kết học phần trong lớp học tiếng Anh như một ngoại ngữ tại một trường đại học ở Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu gồm 45 sinh viên năm nhất, phần lớn đến từ các khu vực nông thôn và miền núi, nơi có điều kiện tiếp cận nguồn học liệu tiếng Anh còn hạn chế. Bằng cách kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính, nghiên cứu tìm hiểu&nbsp; mối quan hệ giữa chuyên cần, đánh giá liên tục và kết quả kiểm tra của sinh viên. Kết quả cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa tỷ lệ chuyên cần cao và kết quả kiểm tra cuối kỳ thấp, cho thấy rằng chuyên cần không phải là yếu tố dự báo chắc chắn cho thành công học tập. Kiểm tra cuối kỳ được xác định là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến điểm tổng kết học phần và cũng là phần thi mà sinh viên gặp nhiều khó khăn nhất. Những phát hiện này chỉ ra sự thiếu đồng bộ giữa phương pháp giảng dạy, thiết kế đánh giá và quá trình học tập của sinh viên. Từ đó, nghiên cứu đề xuất cần điều chỉnh hình thức kiểm tra, áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.</p> Nông Thị Hiền Hương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115988 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 ĐÁNH GIÁ NỀN TẢNG OXFORD ENGLISH HUB: NHỮNG GÓC NHÌN TỪ GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TIẾNG ANH TẠI VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115989 <p>Nền tảng Oxford English Hub đi kèm bộ sách Q: Skills for Success là một nền tảng số được phát triển bởi Nhà xuất bản Đại học Oxford nhằm nâng cao hiệu quả của bộ sách cùng tên. Tại Trường Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên, nền tảng này gần đây đã được áp dụng như một công cụ thực hành bài tập về nhà. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào xem xét mức độ hữu ích của nền tảng này đối với giảng viên và sinh viên cũng như những hạn chế có thể bộc lộ trong quá trình sử dụng tại nhà trường. Do đó, nghiên cứu theo phương pháp hỗn hợp đã được thực hiện nhằm đánh giá nền tảng thực hành trực tuyến của bộ sách Q: Skills for Success tại Trường Ngoại ngữ – Đại học Thái Nguyên xét trên cả phương diện lợi ích và hạn chế. Thông qua khảo sát 559 sinh viên và phỏng vấn 9 giảng viên của Khoa Tiếng Anh trong học kỳ II năm học 2024–2025, nghiên cứu đã xác định được những điểm mạnh và hạn chế cụ thể của nền tảng thực hành trực tuyến. Kết quả phân tích định lượng bằng thống kê mô tả và phân tích định tính theo chủ đề từ bản ghi phỏng vấn cho thấy phần lớn người tham gia đồng ý rằng Oxford English Hub có nhiều điểm mạnh hơn so với hạn chế, như giao diện thân thiện, dễ sử dụng, nội dung phù hợp, nhất quán và đa dạng về loại hình bài tập luyện kỹ năng ngôn ngữ. Do đó, đa số người tham gia thể hiện mức độ hài lòng cao đối với nền tảng này. Các khuyến nghị sâu hơn từ các cuộc phỏng vấn cũng có thể cung cấp gợi ý cho nhà xuất bản trong việc cải tiến hệ thống thực hành trực tuyến cũng như giúp giáo viên điều chỉnh việc sử dụng nền tảng sao cho phù hợp với bối cảnh giáo dục cụ thể.</p> Nguyễn Dương Hà Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115989 Fri, 27 Jun 2025 00:00:00 +0700 PHÂN TÍCH LỖI KHI SỬ DỤNG ĐỘNG TỪ LI HỢP TRONG TIẾNG HÁN CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT NGÀNH NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC TẠI TRƯỜNG NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115990 <p>Động từ li hợp trong tiếng Hán là hiện tượng ngữ pháp đặc trưng,&nbsp; được sử dụng rộng rãi, tần suất xuất hiện nhiều trong giao tiếp thường nhật. Vì vậy, người học khi học tập và sử dụng hiện tượng ngữ pháp này khó tránh khỏi việc mắc lỗi và trở thành điểm ngữ pháp khó. Bài viết trên cơ sở lý luận về lỗi của các nhà nghiên cứu đi trước, kết hợp với nguồn ngữ liệu là kết quả khảo sát của 200 sinh viên năm thứ nhất ngành ngôn ngữ Trung Quốc tại Trường Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên, tiến hành thống kê, phân loại, phân tích lỗi, tìm ra nguyên nhân gây lỗi và đề xuất giải pháp khắc phục. Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên năm thứ nhất ngành ngôn ngữ Trung Quốc thường mắc bốn loại hình lỗi sai khi sử dụng động từ li hợp tiếng Hán, bao gồm lỗi dùng thừa, lỗi dùng thiếu, lỗi dùng sai vị trí và lỗi dùng nhầm. Nguyên nhân gây lỗi chủ yếu do ảnh hưởng gây nhiễu của ngôn ngữ mẹ đẻ, độ khó của ngôn ngữ đích và chiến lược học tập. Qua đó, chúng tôi đề xuất những giải pháp khắc phục thiết thực và phù hợp với trình độ người học.</p> Vi Thị Hoa, Thẩm Minh Tú, Nguyễn Thị Hải Yến Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115990 Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700 THỰC TRẠNG NỘI DUNG GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115992 <p>Nội dung bài báo tập trung phân tích mức độ thực hiện và nội dung thực hiện giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên với phương pháp chính là điều tra bằng bảng hỏi, nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phỏng vấn sâu. Khách thể khảo sát là 27 giảng viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên và thời gian khảo sát là năm học 2024 – 2025. Kết quả khảo sát cho thấy các nội dung giáo dục được nhà trường thường xuyên thực hiện và đạt mức tốt và khá. Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ và kết quả thực hiện ở các nội dung giáo dục. Trong các nội dung giáo dục thì nội dung được đánh giá thấp hơn là giáo dục bối cảnh, tình hình chính trị trên thế giới. Kết quả khảo sát thực tế sẽ là căn cứ để tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.</p> Nguyễn Hữu Toàn, Nguyễn Thị Út Sáu, Trần Thị Lan, Hoàng Thu Thủy Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115992 Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP HỌC PHẦN THUYẾT TRÌNH TIẾNG TRUNG QUỐC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115991 <p>Nghiên cứu này nhằm làm rõ thực trạng giảng dạy và học tập học phần Thuyết trình tiếng Trung Quốc tại Trường Ngoại ngữ – Đại học Thái Nguyên, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học đối với học phần này. Với phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, nhóm tác giả đã khảo sát 200 sinh viên và 6 giảng viên thông qua bảng hỏi định lượng và phỏng vấn bán cấu trúc. Kết quả cho thấy 70% sinh viên đánh giá học phần rất quan trọng; tuy nhiên, chỉ 6,6% cảm thấy rất tự tin và 13,5% tương đối tự tin khi thực hiện thuyết trình. Các khó khăn nổi bật bao gồm: tổ chức nội dung bài thuyết trình (36%), sử dụng từ vựng và ngữ pháp (24%), và phản xạ ngôn ngữ trong trình bày (46,5%). Ngoài ra, giảng viên gặp khó khăn về thời lượng giảng dạy, tài liệu chưa phù hợp và thiếu công cụ đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở kết quả khảo sát, bài viết đề xuất các giải pháp như: đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phản xạ – thực hành, xây dựng giáo trình chuyên biệt, tích hợp công nghệ và áp dụng đánh giá tiến trình. Nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá học phần, hướng đến nâng cao chất lượng dạy và học của học phần này.</p> Nguyễn Thị Hải Yến, Phạm Minh Tâm Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115991 Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700 ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2023 https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115994 <p>Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở quán triệt chủ trương của Đảng, căn cứ vào đặc điểm của địa phương, đã đề ra các chủ trương nhằm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Để thực hiện mục tiêu đó, một trong những giải pháp được Đảng bộ tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện là phát triển nguồn nhân lực du lịch. Bài báo này sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, để làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với phát triển nguồn nhân lực du lịch từ năm 2010 đến năm 2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong hơn 10 năm (2010 – 2023), Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra các chủ trương phù hợp, chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Nhờ đó, nhân lực du lịch của tỉnh đã từng bước được tăng lên về số lượng, nâng cao về chất lượng, góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của tỉnh, thúc đẩy du lịch Tuyên Quang ngày càng phát triển.&nbsp;</p> Nguyễn Minh Tuấn, Mai Thị Hồng Vĩnh, Đỗ Hằng Nga Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115994 Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700 SỰ PHÁT TRIỂN, TRIỂN KHAI VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA SINH VIÊN VỀ MỘT KHÓA HỌC TIẾNG ANH THEO HÌNH THỨC E-LEARNING DÀNH CHO SINH VIÊN CÓ NĂNG LỰC TIẾNG ANH HẠN CHẾ https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115995 <p>Bài báo này nghiên cứu quá trình phát triển, triển khai một khóa học tiếng Anh theo mô hình đào tạo trực tuyến (e-learning) và đánh giá khóa học này từ quan điểm của sinh viên qua ba bình diện chính, bao gồm thiết kế khóa học, kiểm tra và đánh giá, và yếu tố công nghệ. Nghiên cứu sử dụng các tài liệu chính thức liên quan làm nguồn dữ liệu để mô tả quá trình phát triển và triển khai khóa học, đồng thời sử dụng một bảng câu hỏi điều tra và thực hiện điều tra đối với 287 sinh viên năm nhất không chuyên tiếng Anh để thu thập dữ liệu cho việc đánh giá khóa học. Phương pháp phân tích tài liệu và phân tích thống kê mô tả được sử dụng. Các kết quả làm sáng tỏ sự phát triển và triển khai một khóa học tiếng Anh trực tuyến và chỉ ra rằng sinh viên đánh giá cao khóa học. Nghiên cứu này có thể là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, giáo viên và các nhà phát triển công nghệ giáo dục có bối cảnh dạy và học tương tự. Đồng thời, nghiên cứu nêu ra những hạn chế còn tồn tại của nghiên cứu và đưa ra các gợi ý cho các nghiên cứu trong tương lai.</p> Trần Minh Thành Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/index.php/tnu/article/view/115995 Mon, 30 Jun 2025 00:00:00 +0700