Review of regional sustainable development https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung <p><strong>Institute of Regional Sustainable Development, Vietnam Academy of Social Sciences</strong></p> vi-VN Review of regional sustainable development 3093-3951 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP TẠI CẦN THƠ: TIẾP CẬN THEO HƯỚNG KINH TẾ TUẦN HOÀN https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127057 <p>Chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn hiện đang là xu hướng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Riêng ở thành phố Cần Thơ, xu hướng chuyển đổi các hoạt động kinh tế theo hướng giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường cũng dần được định hình nhưng chưa thực sự rõ nét. Một trong những lý do là ở việc chưa có cái nhìn tổng quan về chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn tại địa phương. Bài viết phân tích thực trạng phát triển kinh tế tuần hoàn tại Cần Thơ trên cơ sở phân tích các yếu tố nội tại của doanh nghiệp và các yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài. Bài viết chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội và thách thức đối với việc phát triển kinh tế tuần hoàn trên địa bàn thành phố đối với các doanh nghiệp. Từ các số liệu sơ cấp và thứ cấp kết hợp với kỹ thuật phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT), nhóm tác giả đề xuất các nhóm giải pháp trên cơ sở tiếp cận theo hướng kinh tế tuần hoàn được xây dựng cho các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Cần Thơ.</p> Nguyễn Thanh Liêm Đặng Hoàng Minh Tất Duyên Thư Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 VI NHỰA: CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127058 <p>Các kết quả nghiên cứu một số đặc tính của vi nhựa cho phép đi đến một số nhận định rằng, vi nhựa có nguồn gốc từ quá trình khai thác dầu khí, sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm. Các yếu tố tự nhiên như phong hóa, nhiệt độ, sóng, gió, quang học, sinh học góp phần làm biến đổi vi nhựa về kích thước và bản chất. Vi nhựa được vận chuyển trong các môi trường, đồng thời gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sinh vật (động vật, thực vật) và con người. Vi nhựa hiện nay được xác định bởi các phương pháp, kĩ thuật như tách, soi kính, phân tích phổ… Theo nhận định, số lượng các công trình nghiên cứu được thực hiện về việc đánh giá các đặc điểm như nguồn phát sinh (từ các sản phẩm tẩy rửa, mỹ phẩm, hoạt động giặt là, dệt may, giao thông...) và thực trạng, mức độ tác động-ảnh hưởng của vi nhựa trong môi trường (đất, nước, không khí) trên lãnh thổ Việt Nam còn chưa nhiều. Việt Nam là nước đứng thứ 3 Đông Nam Á về sản lượng nhựa tiêu thụ nên nghiên cứu về vi nhựa là một nhiệm vụ quan trọng để phòng chống những ảnh hưởng tiêu cực của vi nhựa tới môi trường.</p> Hoàng Văn Hiệp Vũ Văn Tích Đào Sỹ Đức Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH GẮN VỚI BẢO VỆ AN NINH TRÊN BIỂN Ở VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127059 <p>Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế - xã hội (KT-XH) với quốc phòng - an ninh (QP-AN) luôn là nội dung quan trọng, được quan tâm và trở thành vấn đề cấp thiết hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Cùng với đó, nhiệm vụ trọng tâm là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển kinh tế du lịch (KTDL) gắn với bảo vệ an ninh nói chung, an ninh trên biển nói riêng để nước ta luôn trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫn của đông đảo du khách quốc tế, nhất là giữa bối cảnh khó khăn của đại dịch Covid-19. Bài viết đề cập những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế du lịch với bảo vệ an ninh trên biển, từ đó tiếp tục đề xuất những khuyến nghị nhằm gắn kết chặt chẽ hơn nữa hai lĩnh vực này, hướng tới mục tiêu đẩy mạnh phát triển KTDL biển ở nước ta bền vững trong thời gian tới.</p> Lê Hữu Phương Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 CHI TIÊU VÀ TIẾT KIỆM CỦA CÔNG NHÂN TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127060 <p class="Tmtt">Chi tiêu của công nhân có rất nhiều hạng mục khác nhau nhưng thường gồm 2 nhóm chính: chi cho bản thân và gửi tiền về nhà, bất kể họ đã có gia đình hay chưa có gia đình riêng. Đáng chú ý, ngay cả khi trải qua những tháng ngày giãn cách xã hội, nhiều công nhân tại các khu công nghiệp vẫn duy trì thói quen gửi tiền về quê. Các khoản tiền gửi về nhà thậm chí chiếm tỷ trọng cao thứ hai, chỉ sau chi lương thực, thực phẩm, vốn là khoản chi không thể thiếu với bất kỳ ai. Điều đó cho thấy, các khu công nghiệp không chỉ mang lại lợi ích cho các địa phương có khu công nghiệp mà còn hỗ trợ cho sự phát triển tại nhiều vùng quê xa xôi trên khắp Việt Nam. Nếu công nhân được hỗ trợ tốt hơn về điều kiện sinh sống, nhất là về nhà ở, gánh nặng chi tiêu với họ sẽ được giảm bớt đáng kể, qua đó tiền tích lũy, tiền gửi về nhà sẽ được cải thiện. Quan trọng hơn, điều này sẽ giúp công nhân gắn bó hơn với công việc ở các khu công nghiệp. Sau rất nhiều năm đặt ra và thực thi, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân của Việt Nam hiện vẫn đang chưa thực sự hiệu quả.</p> Đỗ Tá Khánh Nguyễn Văn Thục Đặng Thái Bình Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 CƠ CẤU LẠI KINH TẾ CÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127061 <p>Cơ cấu lại kinh tế công nghiệp là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Bài viết tiếp cận quá trình cơ cấu lại kinh tế công nghiệp dưới góc độ kinh tế chính trị, gồm các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong công nghiệp. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với thống kê, so sánh, bài viết đã chỉ ra quan niệm, tiêu chí đánh giá, từ đó làm rõ những thành tựu, hạn chế của quá trình cơ cấu lại kinh tế công nghiệp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2016-2020; phân tích nguyên nhân của những hạn chế; đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại kinh tế công nghiệp tỉnh Hải Dương theo hướng phát triển bền vững trong thời gian tới.</p> Phùng Quang Phát Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THEO ĐÁNH GIÁ TỪ DOANH NGHIỆP: NGHIÊN CỨU DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI ĐÔNG NAM BỘ https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127062 <p>Đông Nam Bộ được coi là động lực phát triển kinh tế của đất nước, tuy nhiên, đã và đang chịu nhiều tác động tiêu cực của đại dịch Covid - 19. Bài viết sử dụng dữ liệu khảo sát tại 202 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) năm 2021 để tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp SME tại vùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưới góc độ đánh giá của đại diện doanh nghiệp, các hỗ trợ chính sách từ Chính phủ và cơ chế khuyến khích khen thưởng trong doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp; những nhân tố như chất lượng nguồn nhân lực, chế độ đào tạo bồi dưỡng không có mối tương quan với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng đề ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tại Đông Nam Bộ trong bối cảnh đại dịch.</p> Nguyễn Văn Chiến Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 CHUỖI GIÁ TRỊ THANH LONG VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH LONG AN VÀ TIỀN GIANG https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127068 <p class="Tmtt">Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng thanh long đứng thứ hai cả nước. Thanh long trồng tại vùng này có lợi thế cạnh tranh về chất lượng do khác biệt về điều kiện tự nhiên so với các vùng khác trong cả nước. Tuy nhiên, sản xuất và tiêu thụ thanh long vẫn còn nhiều vấn đề như thông tin thị trường thiếu, giá bán chưa ổn định, lệ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc; nông dân còn sản xuất nhỏ lẻ, hợp tác sản xuất còn yếu, sản xuất theo GAP còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng và chất lượng, giá thấp vào vụ thuận, sâu bệnh nhiều do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, thiếu hậu cần sơ chế và chế biến để nâng cao giá trị gia tăng của thanh long. Nghiên cứu này dựa vào lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky &amp; Morris (2001) và phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ Eschborn (2007), sử dụng bộ công cụ phân tích chuỗi giá trị của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2013) và sự tham gia của các tác nhân tham gia chuỗi. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm (1) đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ thanh long vùng Đồng bằng sông Cửu Long, (2) phân tích chuỗi giá trị thanh long và (3) đề xuất các giải pháp chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị. Các kết quả phân tích sẽ là cơ sở xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp hơn để tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững chuỗi ngành hàng thanh long.</p> Nguyễn Thị Hằng Nga Nguyễn Tri Khiêm Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 CHẤT LƯỢNG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ SẢN XUẤT VÀ NHÀ PHÂN PHỐI TRONG CHUỖI CUNG ỨNG GẠCH KHÔNG NUNG TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127069 <p class="Tmtt">Mục tiêu của bài viết chất lượng mối quan hệ (CLMQH) giữa nhà sản xuất (NSX) và nhà phân phối (NPP) trong chuỗi cung ứng gạch không nung (GKN) là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH; thành phần của CLMQH và kết quả của mối quan hệ trong chuỗi cung ứng GKN tại Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL). Các tác giả thực hiện nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn chuyên gia; nghiên cứu định lượng chính thức với 250 NSX và NPP GKN tại ĐBSCL. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 03 yếu tố cấu thành nên CLMQH là Lòng tin, Cam kết và Sự hài lòng. Có 05 nhân tố ảnh hưởng đến CLMQH là Chất lượng sản phẩm, Chất lượng giao hàng, Thông tin thị trường, Tương tác công việc và Sự hợp tác. Ngoài ra, bài viết cũng cho thấy kết quả của mối quan hệ làm gia tăng hiệu quả kinh doanh cho NSX và NPP.</p> Hà Thị Thanh Tuyền Đặng Thanh Sơn Nguyễn Ngọc Minh Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TỪ NGUỒN VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127073 <p class="Tmtt">Bài viết này nghiên cứu chính sách tín dụng của Nhà nước đối với các hợp tác xã nông nghiệp từ năm 2010 trở lại đây và việc triển khai chính sách này trong hệ thống ngân hàng thông qua 10 ngân hàng có dư nợ tín dụng nông nghiệp lớn nhất Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp thời gian qua vẫn còn hạn chế, mà nguyên nhân bắt nguồn từ cả các ngân hàng, các hợp tác xã cũng như đặc trưng của sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp mở rộng quy mô cho vay của hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các hợp tác xã nông nghiệp trong giai đoạn tiếp theo.</p> Nguyễn Cảnh Hiệp Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG HẤP THỤ CO2 TRONG LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP VÀ THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127075 <p class="Tmtt">Biến đổi khí hậu với biểu hiện chính là nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng đã thực sự là một trong các thách thức lớn nhất đối với nhân loại. Thỏa thuận Paris được thông qua tại Hội nghị lần thứ 21 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đưa ra mục tiêu hạn chế nhiệt độ toàn cầu không tăng quá 2°C vào cuối thế kỷ này và nỗ lực ở mức 1,5°C. Để đạt được mục tiêu đó, thế giới cần đưa phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Vấn đề giảm phát thải khí nhà kính từ năm 2021 đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam không còn mang tính chất tự nguyện mà đã trở thành bắt buộc. Tại Việt Nam, kết quả kiểm kê quốc gia khí nhà kính (KNK) qua các năm cho thấy lĩnh vực lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất là lĩnh vực có lượng hấp thụ KNK và sẽ đóng góp vào việc đạt được mục tiêu giảm phát thải KNK của Việt Nam. Bài viết này sẽ đánh giá khả năng hấp thụ KNK (CO<sub><span style="font-family: 'Times New Roman Italic','serif';">2</span></sub>) trong thời gian vừa qua, tiềm năng hấp thụ CO<sub><span style="font-family: 'Times New Roman Italic','serif';">2</span></sub> trong thời gian tới và đề xuất một số biện pháp tăng hấp thụ CO<sub><span style="font-family: 'Times New Roman Italic','serif';">2 </span></sub>trong lĩnh vực lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất nhằm đóng góp vào mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK quốc gia.</p> Nguyễn Vân Anh Trần Thu Huyền Đinh Việt Hưng Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NHÃN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127077 <p class="Tmtt">Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nhãn trên địa bàn tỉnh Sơn La. Dựa trên nguồn số liệu thứ cấp, kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn hộ nông dân sản xuất nhãn, nghiên cứu cho thấy diện tích và sản lượng nhãn tăng nhanh trong giai đoạn 2015-2020 và nhãn trở thành cây ăn quả có diện tích lớn nhất của tỉnh Sơn La. Mặc dù vậy, phát triển sản xuất nhãn trên địa bàn tỉnh Sơn La vẫn gặp nhiều khó khăn do địa hình chia cắt, hệ thống cơ sở hạ tầng chưa phát triển, trình độ kỹ thuật và kiến thức thị trường của nông dân còn hạn chế, quan hệ liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu <span style="background: white;">như phát triển các vùng sản xuất nhãn tập trung, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nhãn… để thúc đẩy phát triển sản xuất nhãn bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La trong thời gian tới.</span></p> Nguyễn Mậu Dũng Lê Thị Lan Anh Vũ Thị Kim Mão Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CAO TUỔI NEO ĐƠN VIỆT NAM QUA PHÂN TÍCH SỐ LIỆU ĐIỀU TRA MỨC SỐNG HỘ GIA ĐÌNH 2012 - 2018 https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127080 <p class="Tmtt"><span style="letter-spacing: .2pt;">Kết quả phân tích bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2012 và năm 2018 cho thấy, người cao tuổi neo đơn chủ yếu là nữ giới, sống ở khu vực nông thôn, trình độ học vấn thấp, một số vẫn phải tiếp tục làm việc nhưng mức thu nhập thấp, tỷ lệ có thẻ bảo hiểm y tế miễn phí đạt mức tối đa 100% trong năm 2018. Cùng với đó, kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, một số người cao tuổi neo đơn cảm thấy mặc cảm, tự ti, có xu hướng tâm lý tiêu cực, buồn chán. Bài viết cung cấp thực trạng về người neo đơn, giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thêm minh chứng trong đề xuất chính sách hỗ trợ người neo đơn có cuộc sống tốt hơn cả về vật chất và tinh thần</span>.</p> Trần Việt Long Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC LÀM ĐẾN VAI TRÒ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA https://vjol.info.vn/index.php/vienncptbvvung/article/view/127082 <p>Theo quan niệm truyền thống, vai trò giới trong gia đình luôn chú trọng đến vị thế của người nam giới với vai trò là trụ cột gia đình. Người phụ nữ đảm nhiệm vị trí chăm sóc và làm công việc nội trợ. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào thị trường việc làm đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể về mối quan hệ giới trong gia đình công nhân. Từ tổng quan tài liệu trên thế giới kết hợp với các dữ liệu định tính từ phương pháp phỏng vấn sâu tại hai tỉnh Vĩnh Phúc và Hưng Yên năm 2021, bài viết phân tích những ảnh hưởng của việc làm đến vai trò giới trong gia đình công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc làm đã làm thay đổi vai trò giới của phụ nữ, phụ nữ không chỉ đảm nhiệm công việc chăm sóc gia đình mà còn làm việc để đóng góp thu nhập cho gia đình. Tuy nhiên, cũng chính vì những thay đổi đó mà gánh nặng đối với người phụ nữ tăng thêm mặc dù nam giới đã dần chia sẻ gánh nặng cho phụ nữ. Phụ nữ trong gia đình công nhân ở khu công nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ vẫn phải chịu áp lực kép giữa việc làm và vai trò chăm sóc gia đình. Những áp lực này đã có những ảnh hưởng nhất định đến mối quan hệ vợ chồng và hạnh phúc gia đình.</p> Nguyễn Đức Tuyến Copyright (c) 2025-08-13 2025-08-13 11 4