Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa <p><strong>Tạp chí Khoa học của Học viện Phụ nữ Việt Nam</strong></p> vi-VN nhungdn@vwa.edu.vn (Đỗ Ngọc Nhung) lehoa70@vista.gov.vn (ThS Lê Thị Hoa) Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẢM NHẬN HẠNH PHÚC CỦA NỮ SINH VIÊN VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127636 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này khảo sát mức độ cảm nhận hạnh phúc và các yếu tố ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh phúc của nữ sinh viên Việt Nam, thông qua dữ liệu thu thập từ 532 người tham gia. Sử dụng thang đo WHO-5, kết quả cho thấy điểm trung bình cảm nhận hạnh phúc là 13,31 (SD = 6, 16), nằm ở mức trung bình thấp so với tiêu chuẩn quốc tế. Dù một số sinh viên vẫn duy trì cảm xúc tích cực như vui vẻ hay thư giãn, nhiều người cho thấy dấu hiệu mệt mỏi, thiếu động lực và sự hứng thú trong cuộc sống thường ngày. Phân tích ANOVA và kiểm định hậu nghiệm (Tukey HSD) được sử dụng để kiểm tra sự khác biệt về điểm hạnh phúc theo các biến số nhân khẩu học. Kết quả cho thấy địa bàn sinh sống và ngành học có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến mức độ hạnh phúc. Cụ thể, sinh viên từ miền núi có mức điểm thấp hơn đáng kể so với nhóm từ thành phố/thị xã. Sinh viên ngành Sư phạm ghi nhận mức hạnh phúc cao hơn so với nhóm ngành Khoa học xã hội và nhân văn. Các yếu tố như tuổi tác và điều kiện kinh tế gia đình không tạo ra sự khác biệt đáng kể, dù có sự biến thiên trong dữ liệu. Kết quả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý - xã hội phù hợp với từng nhóm đối tượng, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống tinh thần cho sinh viên.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127636 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 MỐI LIÊN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ LO ÂU XÃ HỘI VÀ HÀNH VI TÌM KIẾM DỊCH VỤ CHĂM SÓC CÁ NHÂN HÓA: NGHIÊN CỨU TẠI CHUỖI SPA Ở MIỀN TRUNG https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127644 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa mức độ Lo âu xã hội (SA) và hành vi sử dụng dịch vụ chăm sóc cá nhân hóa, như spa. Giả thuyết cho rằng người có SA cao thường ưu tiên dịch vụ riêng tư, không gian yên tĩnh để tránh tiếp xúc xã hội và nguy cơ bị đánh giá. Dữ liệu từ 600 khách hàng tại 6 spa (thực hiện năm 2025) được thu thập qua bảng hỏi gồm thang đo SA và khảo sát hành vi. Phân tích thống kê cho thấy mối tương quan thuận có ý nghĩa giữa SA và tần suất sử dụng phòng riêng hoặc trị liệu chuyên sâu. Kết quả này cung cấp góc nhìn tâm lý hữu ích cho doanh nghiệp trong thiết kế dịch vụ phù hợp với nhu cầu của nhóm khách hàng nhạy cảm.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127644 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127647 <p><span class="fontstyle0">Nâng cao chất lượng giáo dục đại học, thúc đẩy đổi mới sáng tạo là yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của trường đại học trong bối cảnh chuyển đổi số, góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh, hiệu quả đào tạo và sự phát triển của cơ sở giáo dục đại học. Phụ nữ, với tỷ lệ đông đảo trong đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên và cán bộ quản lý, đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Tuy nhiên, mức độ tham gia của họ vào các hoạt động đổi mới sáng tạo vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, do chịu tác động của nhiều rào cản mang tính cấu trúc, văn hóa - xã hội và cá nhân. Bài viết tập trung phân tích sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động đổi mới sáng tạo tại trường đại học, dựa trên cơ sở lý luận về đổi mới sáng tạo và các quy định pháp lý liên quan, đồng thời khai thác dữ liệu nghiên cứu Đề tài khoa học “Sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động đổi mới sáng tạo tại Học viện Phụ nữ Việt Nam và Đại học Kiến trúc Hà Nội” do Khoa Giới và Phát triển, Học viện Phụ nữ Việt Nam thực hiện năm 2025. Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động đổi mới sáng tạo tại trường đại học, bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức, yếu tố văn hóa - xã hội, và yếu tố chính sách. Bài viết đưa ra một số khuyến nghị cho Nhà nước, trường đại học, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, xã hội, và phụ nữ.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127647 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 HOÀ NHẬP XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM DI CƯ KHÔNG CHÍNH THỨC HỒI HƯƠNG TỪ VƯƠNG QUỐC ANH https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127651 <p><span class="fontstyle0">Hoà nhập xã hội là một thách thức lớn mà người di cư phải đối mặt khi hồi hương, đặc biệt là nhóm di cư không chính thức. Bài viết này tập trung phân tích thực trạng quá trình hòa nhập xã hội của người Việt Nam trở về từ Vương Quốc Anh giai đoạn 2014-2023, dựa trên cơ sở lý thuyết tái hoà nhập bền vững của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM, 2019). Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát bảng hỏi trên 164 người di cư hồi hương từ Vương Quốc Anh và 49 phỏng vấn sâu với các bên liên quan tại ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Nghiên cứu chỉ ra những thách thức chính mà người hồi hương phải đối mặt trong tái hoà nhập xã hội, bao gồm: cảm xúc tiêu cực, sang chấn tâm lý từ hành trình di cư, và sự tự kỳ thị do không đạt được kỳ vọng kinh tế và những rào cản trong việc kết nối lại với xã hội khi trở lại cộng đồng. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phục hồi của họ, trong đó sự hỗ trợ của gia đình, cộng đồng và nỗ lực cá nhân đóng vai trò then chốt. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các khuyến nghị nhằm xây dựng các chương trình hỗ trợ tái hoà nhập phù hợp với người di cư lao động hồi hương, góp phần thúc đẩy sự ổn định bền vững cho người hồi hương tại cộng đồng.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127651 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TẢO HÔN Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127655 <p><span class="fontstyle0">Tảo hôn là một vấn đề nan giải ở các vùng dân tộc thiểu số do nhiều nguyên nhân phức tạp. Bài viết này tìm hiểu khả năng ảnh hưởng của giáo dục, các chuẩn mực giới có hại và phong tục tập quán dân tộc đối với tảo hôn ở ba vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ và nổi bật giữa yếu tố giáo dục và tình trạng tảo hôn của nam, nữ người dân tộc thiểu số. Cụ thể, trình độ học vấn càng thấp thì độ tuổi kết hôn lần đầu càng sớm, đặc biệt đối với nữ giới và là dân tộc H’mông. Kết quả nghiên cứu một lần nữa khẳng định lại vai trò quan trọng hàng đầu của giáo dục trong trì hoãn kết hôn sớm đối với trẻ em gái. Do đó, việc cải thiện cơ hội giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số sẽ nâng cao nhận thức chống tảo hôn của các em</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127655 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA PHỤ NỮ TẠI XÃ THẠNH AN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127659 <p><span class="fontstyle0">Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động du lịch cộng đồng tại xã đảo Thạnh An, Thành phố Hồ Chí Minh, một cộng đồng ven biển đang chuyển dịch sinh kế trong bối cảnh phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, bao gồm khảo sát định lượng 77 hộ gia đình, 208 phụ nữ và 200 du khách, kết hợp với phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và quan sát thực địa. Kết quả nhận diện hai nhóm yếu tố tác động: nhóm thúc đẩy, gồm lợi ích kinh tế từ sinh kế, sự hỗ trợ chính sách và vốn xã hội; và nhóm cản trở, bao gồm định kiến giới, gánh nặng kép, hạn chế vốn, cơ sở vật chất chưa đáp ứng và thiếu hụt kỹ năng nghề du lịch. Phụ nữ giữ vai trò nòng cốt trong cung ứng dịch vụ nhưng mức độ tham gia vẫn chủ yếu ở các khâu lao động trực tiếp, chưa mở rộng sang quyền ra quyết định hay kiểm soát nguồn lực. Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự tham gia thực chất của phụ nữ, bao gồm tăng cường thể chế - chính sách, nâng cao năng lực, cải thiện hạ tầng và phát huy vốn xã hội.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127659 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ NGƯỜI DÂN VÀ CỘNG ĐỒNG BỊ THIÊN TAI https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127662 <p><span class="fontstyle0">Sau thiên tai, người dân và cộng đồng chịu nhiều tổn thất về tính mạng, tài sản và sinh kế, đồng thời đối mặt với khó khăn trong ổn định đời sống. Nhu cầu trợ giúp chủ yếu gồm bảo đảm an toàn, chăm sóc y tế, hỗ trợ tâm lý, cung cấp lương thực, nước sạch, chỗ ở tạm, vệ sinh môi trường và tái thiết nhà cửa, phục hồi sản xuất. Các hoạt động hỗ trợ thường bao gồm tìm kiếm cứu nạn, sơ tán, cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ y tế, tham vấn tâm lý, phục hồi sinh kế và môi trường sống. Công tác xã hội giữ vai trò then chốt trong quá trình này thông qua việc khảo sát thực tiễn, đánh giá nhu cầu, huy động và kết nối nguồn lực, hỗ trợ phục hồi tinh thần, tái thiết cuộc sống và vận động chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro, tăng cường khả năng ứng phó của cộng đồng.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127662 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ DI CƯ LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG VIỆT NAM https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127664 <p><span class="fontstyle0">Di cư lao động quốc tế ngày càng trở thành lựa chọn quan trọng của người lao động trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ. Việt Nam là quốc gia năng động tham gia vào quá trình này, với lực lượng lao động di cư quốc tế ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Quá trình di cư mang đến cả cơ hội phát triển con người lẫn nguy cơ rủi ro cho lao động Việt Nam. Tổng quan tài liệu cho thấy hầu hết các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào đóng góp tài chính, rủi ro khi làm việc, trong khi các cơ hội phát triển con người ít được khai thác. Kết quả nghiên cứu góp phần định hướng cho những nghiên cứu liên ngành sâu hơn và là cơ sở xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển cho lao động Việt Nam di cư quốc tế.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127664 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 ĐẾN 4 TUỔI TẠI T NH ĐIÊN BIÊN https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127666 <p><span class="fontstyle0">Vốn từ là hệ thống từ vựng trong một ngôn ngữ. Phát triển vốn từ cho trẻ em vừa làm tăng số lượng đơn vị từ vựng vừa tăng sự đa dạng của từ vựng ở phương diện hiểu (tiếp nhận) và diễn đạt (biểu đạt). Phát triển vốn từ được chú trọng từ rất sớm, thậm chí ngay cả trước khi trẻ biết nói. Trong đó, phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ lại càng cần được chú trọng. Một phương pháp được nhân viên Công tác xã hội sử dụng là thông qua hoạt động công tác xã hội nhóm. Điện Biên là một tỉnh miền núi nghèo. Ngoài những khó khăn về điều kiện kinh tế, địa lý và giáo dục của một tỉnh miền núi, Điện Biên cũng có số lượng lớn trẻ em tự kỷ cần được hỗ trợ của công tác xã hội. Bài viết khái quát thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ 3 đến 4 tuổi và những gợi mở nhằm nâng cao hiệu quả việc phát triển vốn từ cho trẻ tự kỷ 3 đến 4 tuổi của Điện Biên.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127666 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 MÔ HÌNH HÓA CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG XE ĐẠP CHIA SẺ CỦA SINH VIÊN: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127669 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này tổng quan và lược khảo các lý thuyết liên quan đến đến ý định sử dụng hệ thống xe đạp chia sẻ (bike-sharing system) của sinh viên, đồng thời phân tích và tổng hợp các mô hình này nhằm xây dựng khung lý thuyết hoàn thiện hơn. Dựa trên các lý thuyết từ mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB), mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và các yếu tố bổ sung, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu ý định sử dụng hệ thống xe đạp chia sẻ của sinh viên với 10 giả thuyết nghiên cứu. Mô hình này được kì vọng là nền tảng cho các nghiên cứu sau này liên quan đến hệ thống xe đạp chia sẻ, đồng thời góp phần xây dựng định hướng phát triển hệ thống xe đạp chia sẻ nói riêng và hệ thống giao thông đô thị ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa và nhu di chuyển xanh ngày càng gia tăng</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127669 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127671 <p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, với 234 mẫu khảo sát thu thập bằng bảng hỏi Google Form thông qua các nền tảng facebook và zalo để tiếp cận đối tượng phù hợp. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp EFA và mô hình SEM. Kết quả nghiên cứu cho thấy năm yếu tố có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: (1) nhận thức về sự hữu ích, (2) nhận thức về rủi ro, (3) nhận thức về chi phí, (4) nhận thức về nợ và (5) khả năng đáp ứng của ngân hàng. Trong đó, nhận thức về sự hữu ích và khả năng đáp ứng của ngân hàng có tác động tích cực, trong khi nhận thức về rủi ro, chi phí và nợ có tác động tiêu cực đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm hỗ trợ các ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả thu hút và duy trì khách hàng thông qua quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127671 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 TƯ DUY PHÁP LÝ: LÝ LUẬN VÀ ỨNG DỤNG https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127674 <p><span class="fontstyle0">Pháp luật không chỉ được thể hiện trong các nguồn luật được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, mà còn trong các biểu hiện tổng hợp của tư duy pháp lý, ý thức pháp lý và văn hóa pháp lý. Tư duy pháp lý </span><span class="fontstyle0">là một loại tư duy nghề nghiệp đặc biệt đã thẩm thấu vào các hoạt động và ứng dụng pháp lý trong thực tiễn, </span><span class="fontstyle0">đóng vai trò là một cơ chế quan trọng cho việc hình thành nhà nước pháp quyền. Bài viết đề cập đến tư duy pháp lý và việc ứng dụng tư duy pháp lý của của nghề luật trong thực tiễn như </span><span class="fontstyle0">trong </span><span class="fontstyle0">hoạt động lập pháp, tư duy pháp lý của các nhà làm luật có liên quan trực tiếp đến chất lượng của các văn bản luật. </span><span class="fontstyle0">Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nhà nước pháp quyền, các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống, cũng như nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình khoa học pháp lý đã công bố có liên quan, bài viết tập trung nghiên cứu chuyên sâu về tư duy pháp lý, về lý luận và ứng dụng trong trong nghề luật.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127674 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700 SỰ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT TÀI SẢN TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127676 <p><span class="fontstyle0">Hệ thống pháp luật Việt Nam được tổ chức theo mô hình dân luật, tương đồng với các quốc gia tiêu biểu trong hệ thống này như Pháp, Đức và Nhật Bản. Trong đó, pháp luật về tài sản được coi là một trong những trụ cột cơ bản, thường được pháp điển hóa trong Bộ luật Dân sự. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Việt Nam đã ban hành Bộ luật Dân sự đầu tiên vào năm 1995. Tiếp đó, Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành để thay thế cho Bộ luật năm 1995. Nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội, Việt Nam đã tiếp tục ban hành Bộ luật Dân sự năm 2015, thay thế bộ luật trước đó và hiện vẫn đang có hiệu lực thi hành. Bài viết tập trung phân tích quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về tài sản, qua đó làm rõ sự chuyển biến trong nhận thức lập pháp cũng như những yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này. Đặc biệt, bài viết tiến hành phân tích chuyên sâu nhằm chứng minh rằng pháp luật về tài sản của Việt Nam cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững- một đòi hỏi tất yếu đối với mọi quốc gia trong bối cảnh hiện nay. Bài viết sử dụng các phương pháp lịch sử, so sánh và phân tích nhằm làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.</span> </p> Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Khoa học Học viện Phụ nữ Việt Nam https://vjol.info.vn/index.php/vwa/article/view/127676 Mon, 22 Dec 2025 00:00:00 +0700