https://vjol.info.vn/isscr/issue/feedTạp chí Khoa học xã hội miền Trung2026-04-14T04:51:39+07:00Open Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p>https://vjol.info.vn/isscr/article/view/139001Tinh thần tự cường dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh2026-04-14T04:50:49+07:00Sen Văn Ngọcvovandung@ukh.edu.vnDũng Võ Vănvovandung@ukh.edu.vn<p>Mục tiêu của bài viết là phân tích cơ sở hình thành và giá trị của tinh thần tự cường dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh. Giả thuyết nghiên cứu đặt ra là liệu việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo có thể trở thành động lực quan trọng để thúc đẩy đất nước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình hay không? Để đạt được mục tiêu và giả thuyết đặt ra, bài viết sẽ tập trung làm rõ các nội dung như: cơ sở lý thuyết, cơ sở hình thành; các biểu hiện của tinh thần tự cường dân tộc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh; rút ra các giá trị.</p>2026-04-06T12:03:51+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139004Hệ thống chính trị xã Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp: Kết quả và một số giải pháp hoàn thiện2026-04-14T04:50:53+07:00Đính Lê Vănlevandinhhvkv3@gmail.comĐức Trần Minhtranminhducdanang@gmail.com<p>Xã Buôn Đôn (trước đây là xã Krông Na, thuộc huyện Buôn Đôn) tỉnh Đắk Lắk có diện tích khoảng 1.113,79 km², trở thành xã rộng nhất Việt Nam sau các đợt sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025. Sau sáp nhập đơn vị hành chính, hệ thống tổ chức, các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của xã được tổ chức lại đồng bộ, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tuy nhiên, đây là xã biên giới, có diện tích rất lớn và có vị trí quan trọng về quốc phòng-an ninh, do vậy, trong thời gian đầu vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến năng lực, trình độ của cán bộ cấp cơ sở, điều kiện hạ tầng trang thiết bị, trụ sở... Bài viết bàn về những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và đề xuất một số giải pháp để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị xã Buôn Đôn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng an ninh trong bối cảnh mới.</p>2026-04-06T12:04:49+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139009Vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở đối với việc xây dựng hương ước thôn/buôn trong xây dựng nông thôn mới (Nghiên cứu tại tỉnh Đắk Nông cũ)2026-04-14T04:50:58+07:00Anh Cao Thị Lanlananhswddaklak@gmail.comNam Phan Đứclananhswddaklak@gmail.com<p>Dựa trên tiếp cận xã hội học thông qua phỏng vấn sâu 45 người kết hợp khảo sát định lượng 730 hộ dân tại địa bàn 06 xã trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ (nay là tỉnh Lâm Đồng) vào tháng 3-4/2024 và trên cơ sở biến số đo lường giá trị liên kết, đoàn kết và tự quản trong xây dựng nông thôn mới vùng dân tộc thiểu số trên khía cạnh xây dựng hương ước, bài viết này phân tích vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở đối với việc xây dựng hương ước thôn/buôn trong xây dựng nông thôn mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống chính quyền cơ sở ở tỉnh Đắk Nông có vai trò trong việc tham gia xây dựng hương ước, tổ chức thực hiện hương ước và góp phần nâng cao tác động tích cực và ý nghĩa của hương ước vào thực tiễn đời sống cộng đồng gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương.</p>2026-04-06T12:06:05+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139011Tư tưởng của Cesare Beccaria về tội phạm và hình phạt2026-04-14T04:51:02+07:00Hậu Nguyễn Duyduyhau1082003@gmail.com<p>Bài viết này phân tích những tư tưởng triết học nền tảng của Cesare Beccaria trong tác phẩm kinh điển "<em>Bàn về tội phạm và hình phạt</em>". Dựa trên các nguyên tắc của Khế ước xã hội, chủ nghĩa vị lợi và lý trí thời kỳ Khai sáng, Beccaria đã đưa ra một cuộc cách mạng trong tư duy pháp luật hình sự. Ông lập luận rằng mục đích của hình phạt không phải là để trả thù hay hành hạ mà là để ngăn ngừa tội phạm, đảm bảo an ninh xã hội với cái giá là sự hy sinh phần tự do cá nhân nhỏ nhất có thể. Bài viết sẽ làm rõ các nguyên tắc cốt lõi mà Beccaria đề xuất, bao gồm nguyên tắc pháp quyền, tính tương xứng giữa tội phạm và hình phạt, tính nhanh chóng và chắc chắn của việc trừng phạt. Đồng thời, bài viết cũng tập trung vào sự phê phán mạnh mẽ của ông đối với án tử hình, việc tra tấn, và các thủ tục tố tụng bí mật, tàn bạo. Qua đó, khẳng định giá trị tiên phong và ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Beccaria đối với việc xây dựng các hệ thống tư pháp hình sự nhân đạo và hợp lý ngày nay.</p>2026-04-06T12:06:56+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139016Chính sách tài khóa xanh và vai trò trong thúc đẩy tăng trưởng bền vững tại Việt Nam2026-04-14T04:51:07+07:00Hiền Đàm Thịhiendt@apd.edu.vn<p>Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và cam kết phát triển bền vững, tại Việt Nam, chính sách tài khóa xanh ngày càng được quan tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong giai đoạn 2020-2024 dao động ở mức 6-7% mỗi năm, nhưng đồng thời phát thải khí nhà kính tiếp tục gia tăng đáng kể. Các chính sách thuế môi trường và trợ cấp năng lượng sạch hiện tại của Việt Nam mới ở mức khởi đầu: thuế bảo vệ môi trường vẫn thấp so với tiềm năng, chưa có thuế carbon, trong khi các cơ chế chi tiêu xanh còn hạn chế. Mặc dù đã có một số sáng kiến như phát hành trái phiếu xanh và phát triển tín dụng xanh, hệ thống pháp lý và khuôn khổ chính sách vẫn thiếu tính đồng bộ và toàn diện. Bài viết đề xuất tăng cường các công cụ tài khóa xanh và gắn kết tài khóa xanh vào quy trình lập ngân sách thúc đẩy tăng trưởng bền vững tại Việt Nam.</p>2026-04-06T12:07:44+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139021Thực hành tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị ở Hàn Quốc: Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam2026-04-14T04:51:11+07:00Trâm Võ Thị Bíchbtram88@gmail.com<p>Bộ tiêu chuẩn về Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) đã trở thành một khái niệm phổ biến và rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trên toàn cầu. Tại Hàn Quốc, tiêu chuẩn ESG đã được thể chế hoá thành chính sách quốc gia tiêu biểu như việc ban hành Đạo Luật tăng trưởng xanh và trung hoà carbon, triển khai hệ thống phân loại xanh K-Taxonomy và áp dụng Bộ hướng dẫn K-ESG. Các chính sách này đã và đang được triển khai, bước đầu ghi nhận những kết quả tích cực trong việc định hướng phát triển bền vững hệ thống doanh nghiệp. Tại Việt Nam, việc thực hành ESG vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức do thiếu hệ thống tiêu chuẩn, thiếu dữ liệu, và chưa có khung pháp lý đồng bộ trong triển khai. Từ thực tiễn đó, bài viết phân tích kinh nghiệm thực hiện ESG tại Hàn Quốc và rút ra một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy áp dụng ESG gắn với thực tiễn phát triển của doanh nghiệp ở Việt Nam.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139028Tác động của các chính sách phát triển kinh tế vùng đối với sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại miền Trung2026-04-14T04:51:14+07:00Thanh Lê Chíthanhlc@thanhdong.edu.vn<p>Dựa trên tổng quan hệ thống và so sánh chính sách liên vùng, bài viết này phân tích các cơ chế mà một chính sách tổng hợp bao gồm tài chính, đổi mới sáng tạo, số hóa, xanh hóa và tạo thuận lợi thương mại tác động đến phát triển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), đồng thời rút ra hàm ý cho khu vực miền Trung Việt Nam. Nghiên cứu kết hợp: (i) tổng quan giai đoạn 2014-2025 về các khung chính sách DNNVV trong ASEAN; (ii) đối sách các công cụ can thiệp chủ chốt như ưu đãi hải quan-logistic (ví dụ: cơ chế kho ngoại quan và thủ tục tinh gọn), các chương trình sinh thái xanh và hỗ trợ số hóa, và (iii) tổng hợp bằng chứng tại Việt Nam về vai trò của tri thức và công nghệ đối với năng suất và khả năng tồn tại của DNNVV. Kết quả cho thấy: (1) củng cố năng lực tri thức và năng lực số của doanh nghiệp giúp khuếch đại tác động chính sách lên các kết quả kinh tế, xã hội và môi trường; (2) giảm chi phí giao dịch và chi phí logistics cải thiện khả năng tiếp cận đầu vào và thị trường, đặc biệt đối với DNNVV định hướng xuất khẩu; (3) chuẩn hóa công cụ đo lường bền vững cùng với cơ chế phối hợp các bên liên quan làm tăng mức độ tuân thủ và hiệu quả thực thi. Tuy nhiên, kiến trúc báo cáo bền vững dành riêng cho DNNVV vẫn còn phân mảnh và mức độ am hiểu chính sách trong các ngành dịch vụ (ví dụ du lịch) mới ở mức trung bình. Bài viết đề xuất lộ trình cho miền Trung Việt Nam theo hướng ưu tiên các chương trình số hóa gắn liền với nâng cao năng suất ở cấp doanh nghiệp, mở rộng tạo thuận lợi hải quan và logistics liên vùng, và xây dựng bộ tiêu chí báo cáo bền vững thân thiện với DNVVN đồng bộ với các chuẩn mực khu vực.</p>2026-04-14T03:45:01+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139034Ảnh hưởng của văn hoá doanh nghiệp đến vận dụng kế toán quản trị chiến lược thông qua vai trò điều tiết mức độ cạnh tranh tại khu vực kinh tế tư nhân2026-04-14T04:51:19+07:00Nam Nguyễn Danhnamnd@thanhdong.edu.vnMinh Đỗ Thị Tuệnamnd@thanhdong.edu.vn<p>Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của văn hoá doanh nghiệp đến vận dụng kế toán quản trị chiến lược tại khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của mức độ cạnh tranh đến mối quan hệ giữa văn hoá quản trị chiến lược và việc vận dụng kế toán quản trị chiến lược. Thông qua 342 mẫu khảo sát, bằng cách phân tích định lượng trên phần mềm SPSS26 như kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và phân tích hồi quy thứ bậc, đánh giá sâu vai trò điều tiết bằng kiểm định Macro process, ết quả cho thấy các yếu tố văn hoá doanh nghiệp gồm hiệu quả trong việc ra quyết định, chấp nhận rủi ro bởi sáng tạo và cải tiến, đào tạo và phát triển, định hướng kế hoạch và giao tiếp trong tổ chức ảnh hưởng tích cực đến việc vận dụng kế toán quản trị chiến lược. Bên cạnh đó, mức độ cạnh tranh vừa có ảnh hưởng tích cực vừa đóng vai trò điều tiết quan trọng trong mối quan hệ giữa văn hoá doanh nghiệp đến vận dụng kế toán quản trị chiến lược tại khu vực kinh tế tư nhân. Dựa trên kết quả khảo sát, nghiên cứu đưa ra hàm ý giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược phát triển linh hoạt và bền vững trong thị trường kinh tế cạnh tranh.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139038Ảnh hưởng của giá trị cảm nhận về phát triển du lịch đến sự ủng hộ của cộng đồng địa phương tại Nha Trang2026-04-14T04:51:22+07:00Trân Đoàn Nguyễn Khánhtrandnk@ntu.edu.vn<p>Nghiên cứu nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của giá trị cảm nhận về phát triển du lịch đối với sự ủng hộ của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch bền vững. Dựa trên lý thuyết trao đổi xã hội và lý thuyết lan tỏa từ dưới lên, sử dụng phương pháp lấy mẫu theo hạn ngạch để thu thập dữ liệu từ 668 người tham gia, sau đó phân tích bằng phần mềm SmartPLS. Kết quả cho thấy giá trị cảm nhận về phát triển du lịch ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương. Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống được xác định là yếu tố dự báo sự ủng hộ của cộng đồng đối với phát triển du lịch. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng các chiến lược nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, tăng cường sự ủng hộ đối với việc phát triển du lịch và hướng đến phát triển du lịch bền vững tại Nha Trang, Khánh Hòa.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139041Phát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồn biển Vịnh Nha Trang - Quan điểm từ các bên liên quan2026-04-14T04:51:25+07:00Anh Nguyễn Thị Trâmanhntt@ntu.edu.vnTân Nguyễn Đức Minhanhntt@ntu.edu.vnTrang Nguyễn Thị Quỳnhanhntt@ntu.edu.vn<p>Với những tác động đa chiều lên kinh tế - xã hội, môi trường, văn hoá và cộng đồng địa phương, du lịch sinh thái (DLST) đòi hỏi sự tham gia hiệu quả của các bên liên quan nhằm đảm bảo phát triển bền vững. Khu bảo tồn biển (KBTB) Vịnh Nha Trang, với hệ sinh thái biển phong phú, được xem là khu vực có tiềm năng lớn để phát triển DLST. Nghiên cứu này nhằm phân tích sự tham gia của các bên liên quan trong phát triển DLST tại KBTB Vịnh Nha Trang, dựa trên dữ liệu thứ cấp 2019 - 2023 và khảo sát các bên liên quan: cộng đồng địa phương, du khách, doanh nghiệp du lịch và cán bộ quản lý. Nghiên cứu đề xuất khung tiếp cận quản lý đa bên phù hợp với phát triển DLST, đồng thời khẳng định sự tham gia của các bên liên quan không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý, mà còn thúc đẩy sự phối hợp đa chiều trong việc phát triển DLST bền vững tại KBTB Vịnh Nha Trang.</p>2026-04-14T03:56:58+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139052Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để phân tích giá trị cảm nhận của khách du lịch nội địa đối với dịch vụ biểu diễn Ca Huế trên sông Hương2026-04-14T04:51:27+07:00Hạnh Dương Thị Dungdtdhanh@hueuni.edu.vnThảo Nguyễn Thị Thanhdtdhanh@hueuni.edu.vn<p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị cảm nhận đối với dịch vụ biểu diễn Ca Huế trên sông Hương. Mô hình phương trình cấu trúc (SEM) được sử dụng để phân tích dữ liệu của 216 khách du lịch nội địa đã trải nghiệm dịch vụ này. Kết quả cho thấy chất lượng cảm nhận, phản ứng cảm xúc, tri thức mới và chi phí cảm nhận có tác động tích cực đến giá trị cảm nhận của khách du lịch về dịch vụ biểu diễn này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ biểu diễn, khơi gợi cảm xúc tích cực, cung cấp thêm thông tin và tri thức văn hóa liên quan, tối ưu hóa chính sách giá và chi phí liên quan nhằm nâng cao giá trị cảm nhận của du khách. Bài viết này góp làm phong phú thêm các nghiên cứu về khai thác các giá trị văn hóa, nghệ thuật để phục vụ hoạt động du lịch trong bối cảnh điểm đến di sản.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139067Ảnh hưởng của mạng xã hội Tiktok đến ý định đến điểm đến du lịch của thế hệ Z Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp điểm đến thành phố Huế2026-04-14T04:51:29+07:00Quỳnh Nguyễn Thị Nhưntmnghia@hueuni.edu.vnĐạt Nguyễn Thànhntmnghia@hueuni.edu.vnNghĩa Nguyễn Thị Minhntmnghia@hueuni.edu.vn<p>Mạng xã hội TikTok ngày càng có ảnh hưởng đến thế hệ Z. Nghiên cứu này dựa trên mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), lý thuyết dòng chảy và lý thuyết độ tin cậy của nguồn để khám phá các yếu tố ảnh hưởng của mạng xã hội TikTok đến ý định du lịch của thế hệ Z người Việt. Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành bằng cách thu thập dữ liệu từ 397 du khách thế hệ Z Việt Nam đến điểm đến Huế, phân tích hồi quy tuyến tính đã xác nhận các giả thuyết nghiên cứu cả bốn yếu tố Tính dễ sử dụng, Tính hữu ích, Độ tin cậy và Sự vui vẻ đều có ảnh hưởng tích cực đến ý định đến thăm điểm đến của du khách thế hệ Z người Việt. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản lý để thúc đẩy hiệu quả của TikTok trong việc quảng bá du lịch điểm đến đến thế hệ Z.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139080Ảnh hưởng của tính hững hờ tập thể đến hành vi lệch chuẩn trong nhóm: Vai trò trung gian của nhận thức sự bất công – Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh2026-04-14T04:51:31+07:00Hòa Nguyễn Đìnhvubathanh@tdtu.edu.vnThành Vũ Bávbthanh1205@gmail.comToàn Ngô Vănvbthanh1205@gmail.com<p>Nghiên cứu này nhằm khám phá mối quan hệ giữa tính hững hờ tập thể và hành vi lệch chuẩn trong nhóm, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của nhận thức sự bất công trong tổ chức trong mối quan hệ này. Dữ liệu được thu thập từ 320 nhân viên đang làm việc tại các công ty hoạt động trong lĩnh vực tổ chức sự kiện, truyền thông và quảng cáo tại TP.Hồ Chí Minh – những môi trường làm việc nhóm có tính linh hoạt và phụ thuộc cao vào sự phối hợp giữa các cá nhân. Dữ liệu được phân tích bằng phương pháp SEM với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả cho thấy tính hững hờ tập thể không chỉ tác động trực tiếp đến hành vi lệch chuẩn trong nhóm, mà còn gián tiếp thông qua nhận thức sự bất công, xác lập vai trò trung gian một phần của biến này. Kết quả này góp phần làm sáng tỏ cơ chế tâm lý – hành vi trong môi trường làm việc nhóm, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường công bằng, minh bạch và đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân nhằm hạn chế các hành vi tiêu cực trong nội nhóm. Nghiên cứu cũng đề xuất các hàm ý quản lý hữu ích cho doanh nghiệp trong việc cải thiện văn hóa tổ chức và hiệu quả nhóm.</p>2026-04-14T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139084Tác động của phát âm và ngữ điệu đến hiệu quả thuyết trình: Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Thái Bình Dương, Việt Nam2026-04-14T04:51:33+07:00Vân Hồ Thị Thùyvan.htt@tbd.edu.vn<p>Nghiên cứu này khảo sát tác động của phát âm và sử dụng ngữ điệu đến hiệu quả thuyết trình học thuật của 120 sinh viên Trường Đại học Thái Bình Dương (Việt Nam). Sử dụng phương pháp định lượng với bảng hỏi Likert 5 mức độ, dữ liệu được phân tích thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, hệ số tương quan Pearson và biểu đồ hồi quy tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sinh viên nhận thức rõ tầm quan trọng của phát âm và sử dụng ngữ điệu trong việc tăng cường sự tự tin và khả năng biểu đạt khi thuyết trình. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhu cầu được đào tạo bài bản về phát âm và sử dụng ngữ điệu trong thuyết trình học thuật của sinh viên cũng được thể hiện rõ rệt. Những phát hiện này gợi ý rằng cần tích hợp nội dung đào tạo phát âm và sử dụng ngữ điệu vào chương trình đào tạo đại học nhằm nâng cao năng lực trao đổi học thuật của sinh viên.</p>2026-04-14T04:00:01+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139085Những khó khăn trong văn hóa ứng xử gia đình của thế hệ Z: Trường hợp tỉnh Thanh Hóa2026-04-14T04:51:35+07:00Anh Nguyễn ThếNguyenvanthuy4461@gmail.com<p>Thế hệ Z, hay Gen Z, được phân loại theo nhân khẩu học là nhóm người sinh ra trong khoảng 1996 – 2012. Đây là thế hệ sinh ra và lớn lên trong thời kỳ công nghệ phát triển mạnh mẽ – đang có nhiều thay đổi trong cách giao tiếp và ứng xử, đặt ra những thách thức mới đối với gia đình và xã hội. Bằng phương pháp thống kê, phân tích số liệu, nghiên cứu này góp phần nhận diện hai khó khăn chính của giới trẻ trong ứng xử với gia đình là giao tiếp liên thế hệ, cân bằng giữa gia đình và công việc. Kết quả cho thấy thế hệ Z có nhận thức tương đối đầy đủ và tích cực về các giá trị văn hóa ứng xử truyền thống trong gia đình, thể hiện qua sự ủng hộ việc duy trì lễ nghi, tôn trọng các mối quan hệ liên thế hệ và ý thức về vai trò cá nhân trong gìn giữ văn hóa gia đình. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhận thức và hành vi vẫn tồn tại rõ nét. Những khó khăn chủ yếu bao gồm áp lực học tập và công việc, hạn chế trong việc cân bằng giữa trách nhiệm gia đình và đời sống cá nhân, cùng với rào cản giao tiếp liên thế hệ và ảnh hưởng của môi trường công nghệ.</p>2026-04-14T04:33:20+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trunghttps://vjol.info.vn/isscr/article/view/139087Dấu ấn của văn hoá truyền thống trong vấn đề tôn kính tổ tiên của giáo dân Công giáo (qua khảo cứu một số giáo xứ trên địa bàn thành phố Hà Nội)2026-04-14T04:51:37+07:00Thụ Nguyễn Hữuthunh.ussh@vnu.edu.vnThiên Nguyễn Quốcthunh.ussh@vnu.edu.vn<p>Sau gần 500 năm kể từ ngày du nhập, Công giáo đã không ngừng phát triển và dần trở thành một thành tố quan trọng tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam. Song song với quá trình đó, có rất nhiều dấu ấn của văn hoá truyền thống Việt Nam đã hiện diện trong tâm thức, quan niệm, lối sống của giáo dân Công giáo. Bài nghiên cứu này mong muốn làm rõ thêm ảnh hưởng của văn hoá truyền thống Việt Nam đến niềm tin cũng như nghi lễ tôn kính tổ tiên của những người Việt Nam theo Công giáo hiện nay dưới cách tiếp cận liên ngành, trong đó cách tiếp cận Tôn giáo học là trọng tâm.</p>2026-04-14T04:44:41+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung