Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr <p><strong>Tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam</strong></p> vi-VN Fri, 30 Jan 2026 09:03:21 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Ngoại giao khoa học – Thực tiễn của Liên bang Nga và khuyến nghị cho Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129226 <p>Liên bang Nga sở hữu một nền khoa học phát triển, đặc biệt là sử dụng ngoại giao khoa học như một hình thức ngoại giao chuyên dụng, sách lược quan trọng trong chiến lược ngoại giao tổng thể. Từ nghiên cứu thực tiễn ngoại giao khoa học của Liên bang Nga qua các thời kỳ, nhất là các chiến lược, sách lược ngoại giao, bài viết rút ra một số khuyến nghị cho Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.</p> Nam Nguyễn Thị Hồng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129226 Fri, 30 Jan 2026 08:49:11 +0700 Tiếp nhận và tiếp biến tri thức khoa học, kỹ thuật phương Tây ở Đại Việt từ thế kỷ XVI đến XVIII: Nhận diện một quá trình giao thoa tri thức https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129229 <p>Trong giai đoạn từ thế kỷ XVI đến XVIII, Đại Việt đã trải qua một quá trình tiếp xúc và tiếp nhận các tri thức khoa học – kỹ thuật phương Tây thông qua các kênh thương mại, truyền giáo và ngoại giao, đặc biệt là từ các giáo sĩ Dòng Tên. Bài viết này tập trung phân tích các lĩnh vực then chốt như thiên văn học, y học, kỹ thuật quân sự, hàng hải và cơ khí học để làm rõ cách thức tri thức phương Tây được giới thiệu, đánh giá, tiếp nhận và nội hóa trong bối cảnh chính trị - văn hóa đặc thù của Đại Việt. Thông qua cách tiếp cận liên ngành và phân tích lịch sử - văn hóa, nghiên cứu chỉ ra rằng tri thức phương Tây không được tiếp thu một cách nguyên trạng, mà được lựa chọn có chủ đích và thích nghi theo nhu cầu bản địa. Quá trình này phản ánh một mô hình tiếp biến văn hóa tri thức mang tính chủ động, góp phần hình thành nền tảng cho tư duy khoa học hiện đại tại Việt Nam. Bài viết cung cấp một cái nhìn mới về mối quan hệ giữa truyền giáo, chuyển giao công nghệ và bản địa hóa tri thức trong khu vực Đông Á thời kỳ tiền hiện đại.</p> Phương Nguyễn Minh, Trang Lưu Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129229 Fri, 30 Jan 2026 08:50:01 +0700 Tác động bất đối xứng và theo thời gian của các yếu tố kinh tế đến phát thải CO₂ tại Việt Nam https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129236 <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), độ mở thương mại, tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa đến lượng phát thải CO₂ tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng giai đoạn 1990–2023. Để phản ánh đặc điểm phi tuyến và bất đối xứng trong mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế và phát thải, nghiên cứu áp dụng kiểm định Granger bán tham số theo phân vị và mô hình hồi quy phân vị có biến trễ (LQR). Kết quả cho thấy tác động của các biến giải thích không đồng nhất theo phân vị phát thải: FDI và đô thị hóa làm gia tăng phát thải đáng kể tại các phân vị cao; thương mại quốc tế có xu hướng góp phần giảm phát thải ở mức trung bình; trong khi tăng trưởng kinh tế không cho thấy mối liên hệ ổn định và có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu góp phần mở rộng bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam theo hướng tiếp cận động và bất đối xứng, từ đó gợi ý các chính sách giảm phát thải có trọng tâm, linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển và mức độ ô nhiễm thực tế.</p> Xuân Phan Ngọc Yến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129236 Fri, 30 Jan 2026 08:51:23 +0700 Liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26 – NQ/TW https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129238 <p>Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (gọi tắt là Nghị quyết 26), đã đặt ra yêu cầu về liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp phải được nâng lên một bước mới. Bài báo phân tích nội dung cơ bản của Nghị quyết 26, đánh giá thực trạng liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) ở vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ, làm rõ những kết quả đạt được và hạn chế, từ đó đề xuất những giải pháp đào tạo nguồn nhân lực thời gian tới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết 26.</p> Hà Ngô Văn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129238 Fri, 30 Jan 2026 08:52:11 +0700 Tri thức địa phương trong phát triển sinh kế của các dân tộc thiểu số rất ít người tại tỉnh Kon Tum https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129240 <p>Tỉnh Kon Tum hiện có hai dân tộc rất ít người (có số dân dưới 1.000 người) là Brâu và Rơ Măm, sinh sống tại khu vực biên giới với Lào. Trong truyền thống, mô hình sinh kế chủ yếu của họ là trồng trọt với phương thức, trình độ canh tác chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên với các tri thức canh tác được tích lũy qua thời gian. Gần đây, từ các dự án hỗ trợ sinh kế, người dân đã mở rộng sản xuất, làm ruộng nước hai vụ, phát triển cây công nghiệp và ứng dụng kỹ thuật. Tuy nhiên, việc phát triển nông nghiệp bền vững vẫn còn nhiều thách thức. Bài viết đưa ra một số tri thức địa phương được sử dụng trong canh tác nông nghiệp thông qua các mô hình sinh kế hiện nay của người Brâu và Rơ Măm, đồng thời đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sinh kế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.</p> Bích Dương Thị Ngọc, Thủy Trần Thị Thanh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129240 Fri, 30 Jan 2026 08:52:54 +0700 Giáo dục và thực hành văn hóa truyền thống cho học sinh trong trường nội trú: Nghiên cứu trường hợp học sinh người Ê Đê ở trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú Nơ Trang Lơng – tỉnh Đắk Lắk https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129331 <p>Bài viết này là một nghiên cứu trường hợp phân tích việc giáo dục và thực hành văn hoá dân tộc cho học sinh người Ê Đê trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú (THPT DTNT) Nơ Trang Lơng và ở cộng đồng nơi các em sinh ra và lớn lên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc giáo dục văn hoá truyền thống cho học sinh phải lấy học sinh là trung tâm bởi nó xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, hoàn cảnh và khả năng của chính các em. Đồng thời, việc giáo dục và thực hành văn hoá truyền thống cho học sinh trường phổ thông DTNT ngoài chủ trương, chính sách chung, cần có sự đồng hành của các chủ thể là nhà trường, gia đình và cộng đồng nơi quê nhà, để các em không chỉ có những hiểu biết về một nền “văn hoá trong bảo tàng” mà quan trọng hơn là được thực hành, trải nghiệm một “nền văn hoá sống”. Điều đó giúp cho việc chuyển giao văn hoá giữa các thế hệ diễn ra một cách tự nhiên, không khiên cưỡng.&nbsp;</p> Thái Trần Thị Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129331 Fri, 30 Jan 2026 08:53:37 +0700 Tình hình thực hiện chính sách phát triển cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129332 <p>Trong những năm qua, công tác phát triển đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên tỉnh Đắk Lắk<sup>(1)</sup> đạt được nhiều kết quả tích cực. Cấp ủy Đảng các cấp và tổ chức Đoàn chú trọng chuẩn hóa trình độ, kỹ năng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đoàn viên. Nhiều cán bộ trẻ là đoàn viên thanh niên có năng lực, phẩm chất tốt được phát hiện và đào tạo kịp thời. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ Đoàn vẫn còn thiếu hụt so với biên chế, nhất là ở các vị trí Phó Bí thư và cán bộ chuyên trách. Công tác tạo nguồn tại chỗ còn hạn chế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Việc tinh giản biên chế và hạn chế tuyển dụng cũng đã ảnh hưởng đến việc bổ sung và xây dựng lực lượng cán bộ Đoàn kế cận. Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu bài bản, chính sách đãi ngộ chưa hợp lý. Một số địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ Đoàn. Từ thực tiễn đó, bài viết gợi mở những khuyến nghị để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển cán bộ Đoàn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn mới.</p> Duy Phạm Văn, Thảo Nguyễn Thị Phương Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129332 Fri, 30 Jan 2026 08:54:19 +0700 Một số giải pháp ngăn ngừa xung đột xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thời gian đến https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129333 <p>Trong tiến trình phát triển, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa với nhiều dự án phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị hóa …đã và đang thúc đẩy sự phát mạnh mẽ kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi. Song hành cùng với sự phát triển đó, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũng đã và đang xảy ra các vấn đề xung đột xã hội. Các xung đột xã hội xảy ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ kinh tế, xã hội đến môi trường, đòi hỏi cần phải giải quyết. Dựa trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu thực tiễn và nguyên nhân các vấn đề xung đột xã hội, bài viết đề xuất một số giải pháp ngăn ngừa xung đột xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến.</p> Đi Phạm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129333 Fri, 30 Jan 2026 08:55:03 +0700 Phát triển nông nghiệp công nghệ cao - Nhân tố quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của khu vực Tây Nguyên https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129335 <p>Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động của biến đổi khí hậu, phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) được xác định là hướng đi tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tây Nguyên có tiềm năng lớn để phát triển NNCNC, tạo ra những nông sản chất lượng vượt trội và có sức cạnh tranh quốc tế. Dù nhiều địa phương đã ứng dụng công nghệ hiện đại, sự phát triển vẫn thiếu đồng bộ, chưa khai thác hết lợi thế về khí hậu, đất đai và nguồn nguyên liệu. Do đó, cần triển khai các giải pháp đột phá và bền vững nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh, tối đa hóa giá trị gia tăng và nâng tầm thương hiệu nông sản Tây Nguyên trên thị trường toàn cầu.</p> Hạnh Trương Thị Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129335 Fri, 30 Jan 2026 08:55:45 +0700 Phát triển hợp tác xã vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung trong bối cảnh mới https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129337 <p>Phát triển kinh tế hợp tác xã là chiến lược quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội ở vùng Kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung cũng như trên cả nước. Trong những năm qua, các hợp tác xã ở vùng KTTĐ miền Trung đã đạt được những kết quả nhất định. Số lượng hợp tác xã tăng, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống thành viên. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, các hợp tác xã tại vùng KTTĐ miền Trung vẫn còn đang phải đối mặt với nhiều thách thức về nguồn vốn, công nghệ, trình độ nhân lực, trình độ quản lý, định hướng phát triển, thị trường,... Bài viết phân tích thực trạng phát triển hợp tác xã tại vùng KTTĐ miền Trung và đề xuất giải pháp phát triển hiệu quả và bền vững các HTX của vùng KTTĐMT (miền Trung) trong bối cảnh hiện nay.</p> Thoa Nguyễn Thị Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129337 Fri, 30 Jan 2026 00:00:00 +0700 Ảnh hưởng của nhận thức về chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh đến sự hài lòng và ý định truyền miệng: Nghiên cứu trường hợp tại bệnh viện Vinmec Nha Trang https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129338 <p>Nghiên cứu này khảo sát 321 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế VINMEC Nha Trang thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi chi tiết, nhằm phân tích các khía cạnh của chất lượng dịch vụ y tế tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính (xây dựng và hiệu chỉnh thang đo) và định lượng (kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá và mô hình cấu trúc tuyến tính) được áp dụng. Kết quả cho thấy mức độ ảnh hưởng của các thành phần chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của bệnh nhân theo thứ tự: (1) Sự đảm bảo, (2) Độ tin cậy, (3) Phương tiện hữu hình, (4) Khả năng đáp ứng, và (5) Sự đồng cảm. Đồng thời, sự hài lòng được xác định có tác động mạnh đến ý định truyền miệng tích cực về chất lượng dịch vụ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện trải nghiệm bệnh nhân, qua đó củng cố niềm tin và sự gắn bó của khách hàng. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cung cấp dữ liệu tham khảo quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị chất lượng dịch vụ y tế tại Việt Nam.</p> Công Lê Chí, Khang Phan Nguyễn Nguyên Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129338 Fri, 30 Jan 2026 08:57:18 +0700 Chuyển đổi số và kinh doanh bền vững tại các ngân hàng thương mại: Vai trò trung gian của quản trị doanh nghiệp, hiệu suất cảm nhận và hiệu quả tài chính https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129341 <p>Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá vai trò trung gian của quản trị doanh nghiệp, hiệu suất cảm nhận và hiệu quả tài chính trong mối quan hệ giữa chuyển đổi số đối với kinh doanh bền vững của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính với kỹ thuật bình phương bé nhất riêng phần (PLS-SEM) thông qua việc tiếp cận thông tin thứ cấp từ các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 10 ngân hàng thương mại cổ phần từ năm 2022 đến năm 2024. Kết quả nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng có 2 yếu tố đó là: Quản trị doanh nghiệp và Hiệu quả tài chính đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ tác động của chuyển đổi số đến kinh doanh bền vững của các ngân hàng thương mại cổ phần. Đồng thời, kết quả cho thấy chưa có bằng chứng khẳng định vai trò trung gian của yếu tố Hiệu suất cảm nhận trong mối quan hệ giữa chuyển đổi số đối với kinh doanh bền vững tại bối cảnh này. Ngoài ra, kết quả góp phần cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam về tác động của chuyển đổi số đến việc kinh doanh bền vững, hữu ích trong việc cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại cổ phần trong bối cảnh chuyển đổi số.</p> Trí Nguyễn Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129341 Fri, 30 Jan 2026 08:57:58 +0700 Liên kết, xã hội hoá trong phát triển tuyến du lịch văn hóa Đà Nẵng - Huế https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129342 <p>Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố của liên kết và xã hội hóa để phát triển tuyến du lịch văn hóa Đà Nẵng- Huế. Văn hóa không thể đứng ngoài, mà bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với hoạt động du lịch là yêu cầu trọng tâm trong phát triển kinh tế du lịch. Bằng phương pháp thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp liên quan, phỏng vấn với các bên liên quan, khảo sát thực địa tại cung đường từ đường đèo Hải Vân, di tích Hải Vân Quan, đường sắt Hải Vân và làng Nam Ô, bài nghiên cứu nhận diện các vấn đề và đề xuất các giải pháp liên kết, xã hội hóa trong du lịch, khuyến khích sự tham gia các thành phần, chủ thế kinh tế gắn với mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác trong nước và quốc tế trong phát triển tuyến du lịch văn hóa Đà Nẵng- Huế của “Con đường di sản miền Trung”. Nghiên cứu có tính đóng góp trong cung cấp lý luận và thực tiễn về liên kết, xã hội hóa nhằm thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa, nâng cao hiệu quả hợp tác có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa du lịch hiện nay.</p> Thu Trịnh Thị, Phương Nguyễn Duy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129342 Fri, 30 Jan 2026 08:58:33 +0700 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch cộng đồng tại tỉnh Khánh Hòa https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129345 <p>Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân địa phương vào hoạt động du lịch cộng đồng tại tỉnh Khánh Hòa. Dữ liệu được thu thập từ 250 người dân địa phương thông qua bảng hỏi khảo sát với phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Kết quả cho thấy năm nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) cơ chế và chính sách của chính quyền/cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, (2) sự quan tâm đối với hoạt động du lịch cộng đồng, (3) năng lực bản thân, (4) đặc điểm gia đình, (5) nhận thức lợi ích từ việc tham gia. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách và kiến nghị nhằm khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động du lịch, qua đó góp phần phát triển du lịch địa phương theo hướng bền vững.</p> Châu Lê Bá Quỳnh, Uyên Nguyễn Mỹ Phương Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129345 Fri, 30 Jan 2026 08:59:21 +0700 Vai trò của hạ tầng xanh trong cung cấp dịch vụ sinh thái khu vực đô thị: Nghiên cứu ý định sẵn lòng tham gia của người dân tại Thành phố Huế https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129349 <p>Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển kinh tế, các giải pháp dựa vào thiên nhiên như hạ tầng xanh (HTX) ngày càng được chú trọng để cung cấp dịch vụ sinh thái (DVST) cho đô thị. Nghiên cứu này áp dụng mô hình lý thuyết hành vi dự định mở rộng, lồng ghép phân tích các ảnh hưởng của nhận thức về sức khỏe và tác động của ngập đối với ý định sẵn lòng đóng góp tài chính cho việc xây dựng, nâng cấp HTX hoàn thiện. Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và phân tích biến trung gian, kết quả khảo sát 376 người dân tại TP Huế cho thấy thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đều tác động tích cực đến ý định đóng góp và ủng hộ phát triển hạ tầng xanh. Thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa nhận thức về ngập, lợi ích sức khỏe và ý định ủng hộ và đóng góp tài chính phát triển hạ tầng xanh. Kết quả này nhấn mạnh cần nâng cao nhận thức về tác động ngập và lợi ích sức khỏe từ phát triển HTX, đồng thời củng cố thái độ tích cực đối với các ý tưởng phát triển HTX nhằm thúc đẩy ý định ủng hộ các giải pháp HTX hướng đến thành phố sinh học và thích ứng bền vững.</p> My Nguyễn Hoàng Diễm, Hùng Phạm Xuân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129349 Fri, 30 Jan 2026 08:59:59 +0700 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch địa chất tỉnh Quảng Bình https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129350 <p>Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch địa chất tỉnh Quảng Bình, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển du lịch địa chất tỉnh Quảng Bình. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá kết hợp hồi quy tuyến tính được sử dụng để thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch địa chất tỉnh Quảng Bình bao gồm: Tài nguyên du lịch địa chất, Chính sách phát triển du lịch địa chất của địa phương, Công tác xúc tiến, quảng bá và đầu tư du lịch, Sự tham gia của cộng đồng địa phương và Nhu cầu và khả năng thanh toán của khách du lịch. Trong đó, yếu tố Chính sách phát triển du lịch địa chất của địa phương có ảnh hưởng mạnh nhất. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm phát triển du lịch địa chất tỉnh Quảng Bình.</p> Thảo Nguyễn Lan Hoàng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129350 Fri, 30 Jan 2026 09:00:46 +0700 Ứng dụng ESG trong nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch – Trường hợp Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129353 <p>Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững, ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) trở thành yếu tố chiến lược để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp du lịch. Tuy nhiên, bằng chứng định lượng tại Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu này phân tích tác động trực tiếp và gián tiếp của ESG đến năng lực cạnh tranh tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời kiểm định vai trò trung gian của Đổi mới xanh và Khả năng thích ứng tổ chức. Khảo sát 317 doanh nghiệp du lịch được phân tích bằng SEM với Cronbach’s Alpha, CFA và bootstrapping đều đạt chuẩn. Kết quả cho thấy Thực hành môi trường (β = 0,221; p = 0,003), Trách nhiệm xã hội (β = 0,245; p = 0,001) và Quản trị minh bạch (β = 0,198; p = 0,012) có tác động tích cực, bên cạnh ảnh hưởng gián tiếp qua Đổi mới xanh (β = 0,174) và Khả năng thích ứng tổ chức (β = 0,159). Mô hình giải thích 61% biến thiên năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu khẳng định ESG là nền tảng chiến lược, đóng góp cho lý thuyết quản trị hiện đại và phát triển du lịch bền vững.</p> Khoa Phạm Huỳnh Đăng, Hiền Trương Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung https://vjol.info.vn/isscr/article/view/129353 Fri, 30 Jan 2026 09:01:19 +0700