Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị bệnh nhân rối loạn nuốt giai đoạn hồi phục sau tai biến mạch não bằng điện châm kết hợp phục hồi chức năng tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng

  • Thị Phượng Nguyễn
  • Ngọc Sơn Lê
  • Thị Thùy Lê Nguyễn
Từ khóa: Lâm sàng, cận lâm sàng, rối loạn nuốt, bài tập phục hồi chức năng nuốt, thang điểm MANN

Tóm tắt

Mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị bệnh nhân rối loạn nuốt giai đoạn phục hồi sau tai biến mạch máu não, bằng điện châm kết hợp bài tập phục hồi chức năng, tại bệnh viện Y học cổ truyền Hải Phòng. Phương pháp nghiên cứu: mô tả một loạt ca bệnh (n=30). Kết quả: nhóm nghiên cứu nằm trong độ tuổi từ 70 tuổi trở lên (53.3%), tỉ lệ nam gấp 4 lần nữ, thời gian mắc bệnh trung bình là 4.2 ± 2.0 tháng. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp là: nuốt vướng, thay đổi giọng nói, ho không hiệu quả, ho sặc, chảy nước dãi, tồn đọng miệng đều chiếm 100%. Sinh hóa máu có chỉ số triglycerid máu, cholesterol máu và glucose máu trung bình lần lượt là 3.5 ± 1.7 mmol/L, 4.9 ± 1.7 mmol/L, 6.0  ±  1.8 mmol/L. Sau 20 ngày điều trị, triệu chứng nuốt vướng (giảm 93.3%), thay đổi giọng nói (giảm 76.7%), ho không hiệu quả (giảm 63.3%), ho sặc (giảm 63.3%), chảy nước dãi (giảm 80%), tồn đọng miệng (giảm 86.7%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0.05. Mức độ rối loạn nuốt theo thang điểm MANN trước và sau điều trị khác biệt có giá trị thống kê với p< 0.05: sau 20 ngày điều trị bệnh nhân không bị rối loạn nuốt tăng 60%, bệnh nhân rối loạn nuốt mức độ nhẹ giảm 40%, bệnh nhân rối loạn nuốt mức độ trung bình giảm 20%. Bệnh nhân có kết quả điều trị tốt và khá chiếm 96.7 %. Kết luận: bệnh nhân rối loạn nuốt giai đoạn phục hồi được điều trị bằng điện châm và bài tập phục hồi chức năng có cải thiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt, giảm mức độ rối loạn nuốt.

điểm /   đánh giá
Phát hành ngày
2025-08-01
Chuyên mục
Bài viết