Tạp chí Phát triển và Hội nhập https://vjol.info.vn/kttc <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Kinh tế-Tài chính Tp. Hồ Chí Minh</strong></p> vi-VN phuongntb@uef.edu.vn (Ngô Thị Bích Phương) lehoa70@vista.gov.vn (ThS Lê Thị Hoa) Mon, 16 Mar 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.1.2.4 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Tác động của người có sức ảnh hưởng đến ý định mua hàng thời trang tại Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132461 <p>Nghiên cứu này phân tích cơ chế tác động của người có sức ảnh hưởng (influencer) đến ý định mua hàng thời trang của giới trẻ tại TP.HCM sử dụng mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB). Thông qua khảo sát 256 người, nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp PLS-SEM để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng Chuẩn chủ quan, Độ tin cậy và Nhận thức chuyên môn đều có ảnh hưởng tích cực đến Thái độ đối với người có sức ảnh hưởng. Hơn nữa, Thái độ đối với người có sức ảnh hưởng và Thái độ thương hiệu cũng có tác động tích cực đến Ý định mua hàng. Cuối cùng, Thái độ đối với người có sức ảnh hưởng ảnh hưởng tích cực đến Thái độ thương hiệu. Nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của influencer trong hành vi tiêu dùng thời trang của giới trẻ Việt Nam.</p> Nguyễn Khắc Hiếu, Đỗ Minh An, Phạm Thị Vân Anh, Khổng Thị Thanh Lam, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Ngọc Phương Uyên Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132461 Wed, 25 Feb 2026 03:11:20 +0700 Mô hình các đặc tính ảnh hưởng đến quá trình phát triển tín chỉ carbon tại Việt Nam https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132466 <p>Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu và tìm ra mô hình phù hợp chứng minh sự ảnh hưởng và khả năng thành công của các đặc tính đến quá trình phát triển tín chỉ carbon tại Việt Nam. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi với 330 nhân viên văn phòng có hiểu biết về tín chỉ carbon hiện đang sinh sống tại Việt Nam. Tiếp theo, dữ liệu đạt điều kiện được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương nhỏ nhất một phần (PLS-SEM) trong phần mềm SmartPLS 3.0 và phân tích điều kiện cần thiết (NCA) trong phần mềm Rstudio. Kết quả cho thấy, nhu cầu doanh nghiệp, công nghệ và lãnh đạo chuyển đổi là các nhân tố có ảnh hưởng tích cực và đáng kể, trong đó, nhu cầu doanh nghiệp có nhân tố có tác động mạnh nhất đến nâng cao nhận thức về carbon. Việc khuyến khích doanh nghiệp tham gia thị trường carbon là giải pháp thiết thực để nâng cao nhận thức cộng đồng. Đề tài nghiên cứu nhằm đề ra những khuyến nghị phù hợp góp phần vào việc nâng cao sự hiểu biết về thị trường carbon đối với người dân tại Việt Nam, mở rộng sự ảnh hưởng và khuyến khích áp dụng tín chỉ carbon tại các doanh nghiệp ở thị trường Việt Nam.</p> Nguyễn Lê Hoàng Long, Phạm Trọng Nhân, Trần Phương Thảo, Lê Hoàng Uyên, Phan Huy Lộc Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132466 Wed, 25 Feb 2026 03:19:42 +0700 Đóng góp của vốn con người và các yếu tố sản xuất vào tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132470 <p>Bài viết nghiên cứu về mức độ đóng góp của vốn con người và các yếu tố sản xuất (vốn đầu tư và năng suất các yếu tố tổng hợp) đối với tăng trưởng kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) giai đoạn từ năm 2011 đến 2023, sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng. Kết quả cho thấy, đóng góp trung bình của vốn đầu tư vào tăng trưởng GRDP đạt 67,10%; của lao động (đại diện cho vốn con người) chiếm 18,27% trong tăng trưởng GRDP, đồng thời năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) bình quân vẫn đạt 14,63%, trở thành “đệm giảm chấn” quan trọng trong giai đoạn khủng hoảng bất định. Đặc biệt, TFP biến động mạnh, phản ánh vai trò của tri thức và đổi mới trong khủng hoảng. Để duy trì tăng trưởng kinh tế, TP. HCM cần nâng cao chất lượng lao động; tích hợp chính sách phát triển nguồn nhân lực với chiến lược thu hút đầu tư; thúc đẩy nghiên cứu và phát triển vườn ươm doanh nghiệp; lồng ghép đồng bộ chính sách xã hội và kinh tế; và chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng lực đổi mới.</p> Nguyễn Thị Thanh Thảo, Hồ Ngọc Khương Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132470 Wed, 25 Feb 2026 03:37:50 +0700 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thay đổi công việc của nhân sự trẻ: Bằng chứng từ Việt Nam https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132473 <p>Nghiên cứu này đánh giá thực trạng thay đổi công việc của nhân sự trẻ tại Việt Nam, lực lượng lao động dự kiến chiếm gần một phần ba tổng số vào năm 2025. Trong bối cảnh thị trường lao động Việt Nam biến động tích cực từ năm 2022, sự đa dạng việc làm và cơ hội phát triển nghề nghiệp đã trở thành yếu tố then chốt thu hút lao động trẻ. Mục tiêu chính là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thay đổi công việc của họ. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, thu thập 220 mẫu thông qua khảo sát trực tuyến và trực tiếp tại hai trung tâm kinh tế lớn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng khảo sát bao gồm sinh viên và nhân viên văn phòng, kinh doanh. Dữ liệu hợp lệ được xử lý bằng SPSS 20.0 với các phân tích như giá trị trung bình, kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và hồi quy. Nghiên cứu đã xác định năm yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định thay đổi công việc của nhân sự trẻ tại Việt Nam: lương và phúc lợi, môi trường làm việc, cơ hội phát triển, lãnh đạo, và sự linh hoạt. Những kết quả này cung cấp cái nhìn sâu sắc cho các doanh nghiệp, giúp họ xây dựng chiến lược quản lý và giữ chân nhân tài hiệu quả hơn.</p> Nguyễn Quốc Uy Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132473 Wed, 25 Feb 2026 03:45:16 +0700 Tác động của bắt nạt nơi làm việc, sự suy kiệt cảm xúc và sự thỏa mãn công việc đến hiệu quả công việc https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132475 <p>Nghiên cứu này xem xét tác động của bắt nạt nơi làm việc, sự suy kiệt cảm xúc, sự thỏa mãn công việc đến hiệu quả công việc của nhân viên văn phòng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ 300 nhân viên đang làm việc toàn thời gian tại các công ty trên địa bàn thành phố. Kết quả phân tích bằng mô hình SEM cho thấy bắt nạt nơi làm việc làm tăng sự suy kiệt cảm xúc đồng thời làm giảm sự thỏa mãn công việc và hiệu quả công việc của nhân viên. Ngoài ra, sự suy kiệt cảm xúc càng cao cũng góp phần làm giảm sự thỏa mãn với trong công việc của nhân viên. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm giúp nhà quản lý và chuyên viên nhân sự nhận diện, can thiệp và hạn chế các hành vi bắt nạt trong tổ chức, góp phần nâng cao sức khỏe tinh thần và hiệu quả làm việc của người lao động.</p> Phạm Mai Bảo Ngọc, Trương Thị Hoàng Oanh Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132475 Wed, 25 Feb 2026 03:59:28 +0700 So sánh hồi quy nhị phân và hồi quy thứ bậc trong nghiên cứu giáo dục và hành vi người học https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132481 <p>Nghiên cứu so sánh hiệu quả của hồi quy nhị phân và hồi quy thứ bậc trong phân tích mức độ sẵn sàng học sau đại học của nhân viên văn phòng. Dữ liệu khảo sát giả lập bởi ChatGPT gồm 400 quan sát với các yếu tố động lực, rào cản và hỗ trợ. Hai mô hình được áp dụng: hồi quy nhị phân (gom mức 4–5 thành “sẵn sàng”, mức 1–3 thành “không sẵn sàng”) và hồi quy thứ bậc (giữ nguyên 5 mức). Kết quả cho thấy hồi quy thứ bậc phát hiện rào cản gia đình có ảnh hưởng giảm mức độ sẵn sàng (β = -0,468, OR = 0,63, p = 0,021), trong khi mô hình nhị phân không phát hiện được. Độ phù hợp của cả hai mô hình còn thấp (Pseudo R2 &lt; 3%). Kết quả chỉ ra rằng hồi quy thứ bậc giúp khai thác đầy đủ thông tin thứ bậc, trong khi hồi quy nhị phân đơn giản và trực quan hơn. Nghiên cứu cũng khuyến nghị khảo sát thực địa để kiểm định kết quả.</p> Nguyễn Ngọc Duy, Lê Phan Thanh Hòa Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132481 Wed, 25 Feb 2026 04:39:02 +0700 Cách mạng Công nghiệp 5.0: Một nghiên cứu trắc lượng thư mục https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132486 <p>Cuộc Cách mạng Công nghiệp 5.0 ra đời nhấn mạnh vào con người, tính bền vững và khả năng thích ứng từ việc mở rộng các nguyên tắc của Công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, nghiên cứu về lĩnh vực này vẫn còn phân tán, đòi hỏi một bức tranh tổng thể để nhận diện xu hướng phát triển. Do đó, nghiên cứu này áp dụng phân tích Bibliometric trên dữ liệu từ SCOPUS (2018–2024) nhằm hệ thống hóa tài liệu học thuật, xác định các chủ đề nghiên cứu chính và đề xuất định hướng tương lai. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm VOSviewer với các kỹ thuật như phân tích đồng trích dẫn và phân tích từ khóa. Kết quả cho thấy nghiên cứu về Công nghiệp 5.0 đang gia tăng mạnh mẽ, tập trung vào hệ thống kết hợp giữa AI và con người, chuỗi cung ứng linh hoạt và sản xuất xanh. Nghiên cứu cũng đề xuất mở rộng phân tích tác động thực tiễn của Công nghiệp 5.0 để hiểu rõ hơn lợi ích và thách thức trong quá trình triển khai.</p> Nguyễn Thị Anh Vân, Trần Hoàng Khang, Trần Thị Kim Yến, Võ Thị Mỹ Diệu, Phạm Mỹ Liên Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132486 Wed, 25 Feb 2026 05:18:49 +0700 Vai trò của chuyển đổi số đối với hiệu quả tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132503 <p>Nghiên cứu này phân tích vai trò trung gian của Chuyển đổi số (DT) trong mối quan hệ giữa Thái độ (AT), Hiểu biết Kỹ thuật số (DL), Lãnh đạo Chuyên nghiệp (PL) và Hiệu quả Tài chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam. Sử dụng phương pháp mô hình phương trình cấu trúc bình phương tối thiểu từng phần (PLS-SEM) trên dữ liệu khảo sát từ 200 SMEs, kết quả cho thấy: (1) Thái độ vừa tác động trực tiếp, vừa tác động gián tiếp lên Hiệu quả Tài chính; (2) Hiểu biết Kỹ thuật số chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến Hiệu quả Tài chính thông qua vai trò trung gian của Chuyển đổi số; (3) Lãnh đạo Chuyên nghiệp tác động trực tiếp lên Hiệu quả Tài chính mà không thông qua vai trò trung gian. Chuyển đổi số đóng vai trò trung gian bán phần và có tác động tích cực đến Hiệu quả Tài chính. Mô hình đạt khả năng giải thích cao với R2 lần lượt là 0,435 (Chuyển đổi số) và 0,701 (Hiệu quả Tài chính). Nghiên cứu khuyến nghị các SMEs cần phát triển thái độ tích cực, nâng cao năng lực số, và tối ưu năng lực lãnh đạo để cải thiện hiệu quả tài chính. Hạn chế về phạm vi địa lý của mẫu nghiên cứu gợi ý cần mở rộng không gian khảo sát và tích hợp các biến điều tiết trong nghiên cứu tương lai.</p> Nguyễn Phú Quới Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132503 Wed, 25 Feb 2026 07:45:04 +0700 Đánh giá tính tổn thương sinh thái bằng phương pháp kết hợp phân tích thứ bậc mờ (AHP-FUZZY) và thống kê không gian Moran’s I tại Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132508 <p>Với sự mở rộng của đô thị hoá, tương tác không gian sinh thái tự nhiên giữa con người và môi trường ngày càng được chú trọng, do đó, việc đánh giá định lượng tính dễ bị tổn thương sinh thái có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo vệ và khôi phục hệ sinh thái ở các khu vực dễ bị tổn thương. Trong nghiên cứu này, mô hình AHP-PSR (Phân tích thứ bậc - áp lực - nhạy cảm - khả năng phục hồi) cùng với phân tích mờ Fuzzy đã được sử dụng để đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh thái của thành phố Hồ Chí Minh năm 2023. Mô hình PSR được sử dụng để lựa chọn 13 tham số, AHP - Fuzzy được dùng để xác định trọng số của các tham số, và công cụ GIS được áp dụng để đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh thái. Kết quả cho thấy mức độ dễ bị tổn thương sinh thái cao với diện tích 15.746,66 ha, phân bố tập trung ở các quận trung tâm, nơi có mật độ xây dựng cao; trái lại mức độ tổn thương thấp phân bố tại những nơi duy trì mảng xanh như huyện Cần Giờ và Củ Chi... với diện tích hơn 33.000 ha. Sự khác biệt giữa kết quả đánh giá độ dễ bị tổn thương sinh thái cho thấy vai trò của con người trong việclàm thay đổi môi trường tự nhiên. Con người có thể cải thiện môi trường sinh thái vốn đã dễ bị tổn thương thông qua các hoạt động tích cực.</p> Hà Tuấn Cường Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132508 Wed, 25 Feb 2026 07:58:20 +0700 Các yếu tố quyết định đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132511 <p>Nghiên cứu này điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (VSI) của 200 người dân tại huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đã được sử dụng để xác định các động lực chính của việc tham gia VSI. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong bảy yếu tố gồm thái độ, hành vi, tuyên truyền, ảnh hưởng của gia đình, nhận thức rủi ro, quy trình tham gia và trách nhiệm đạo đức, sự đơn giản về quy trình và ảnh hưởng của gia đình tác động mạnh nhất đến ý định tham gia VSI của người dân. Các phát hiện nêu bật tầm quan trọng của việc phổ biến thông tin, đơn giản hóa các quy trình hành chính và tăng cường trách nhiệm của cá nhân trong việc mở rộng phạm vi bao phủ VSI. Hơn nữa, kết quả là bằng chứng thực nghiệm trong việc hỗ trợ việc thúc đẩy VSI như một cơ chế hiệu quả để tăng cường an sinh xã hội cho người lao động, có ý nghĩa đối với việc hoạch định chính sách ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác.</p> Ngô Anh Tín Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132511 Wed, 25 Feb 2026 08:03:32 +0700 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển xuất khẩu bền vững dịch vụ logistics của Việt Nam sang các quốc gia có ký kết hiệp định thương mại tự do https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132512 <p>Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động và mức độ tác động của chúng đến phát triển xuất khẩu bền vững dịch vụ logistics của Việt Nam sang các quốc gia có ký kết hiệp định thương mại tự do bằng việc sử dụng phương pháp mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần kiểm định dữ liệu gồm 218 công ty dịch vụ logistics ở Đông Nam Bộ. Kết quả cho thấy yếu tố chính sách hỗ trợ của chính phủ tác động mạnh nhất, tiếp theo là các quy định về phát triển xuất khẩu dịch vụ logistics bền vững, cam kết bền vững trong hiệp định thương mại tự do, nguồn lực tài chính. Các yếu tố trách nhiệm xã hội, nguồn nhân lực, cải tiến công nghệ không ảnh hưởng. Qua đó, đề xuất một số hàm ý chính sách và quản trị nhằm thúc đẩy phát triển xuất khẩu bền vững dịch vụ logistics.</p> Nguyễn Thanh Hùng Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132512 Wed, 25 Feb 2026 08:08:46 +0700 Mức độ sẵn sàng triển khai mục tiêu Net Zero tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132518 <p>Bài báo trình bày kết quả đánh giá mức độ sẵn sàng hướng tới mục tiêu Net Zero tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP) trong bối cảnh chuyển đổi kép (số và xanh). Dựa trên khảo sát định lượng và phân tích định tính, nghiên cứu khẳng định SHTP đã thiết lập được nền tảng theo chuẩn mực quốc tế và có tiềm năng trở thành khu công nghệ cao tiên phong đạt Net Zero. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng xác định rõ các khoảng trống đáng kể về chiến lược đồng bộ, chính sách chuyên biệt và năng lực triển khai thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất các giải pháp chiến lược và chính sách thiết thực nhằm thúc đẩy hiện thực hóa mô hình Khu Công nghệ cao đạt Net Zero, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và bền vững cho SHTP và các khu công nghiệp công nghệ cao khác.</p> Lê Thị Kim Vân, Hoàng Thị Huyền Trang, Lê Quốc Cường Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132518 Wed, 25 Feb 2026 08:24:05 +0700 Tối ưu hóa học tập tích hợp AI: Vai trò của kỹ năng cá nhân và tư duy phản biện https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132521 <p>Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm khám phá các kỹ năng cá nhân giúp người học tăng cường hiệu quả ứng dụng AI (trí tuệ nhân tạo); đồng thời xem xét vai trò của việc tư duy phản biện trong quá trình sử dụng. Dữ liệu được thu thập với đối tượng sinh viên, thông qua cuộc khảo sát bằng bảng hỏi với phương pháp lấy mẫu thuận tiện, thu được 224 phản hồi hợp lệ. Kết quả phân tích chỉ ra kiến thức chuyên môn, kỹ năng mềm, kỹ năng kỹ thuật số ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sử dụng AI của sinh viên. Đặc biệt, sự kích hoạt tư duy phản biện đóng vai trò cầu nối quan trọng giúp chuyển hóa các kỹ năng cá nhân thành hiệu quả học tập sau một thời gian ứng dụng AI. Những phát hiện này mang lại hàm ý thiết thực cho việc đề xuất các giải pháp giáo dục tích hợp AI, từ đó nâng cao năng lực thích ứng và học tập của người học trong thời đại số.</p> Lương Thái Hà, Nguyễn Hoàng Khôi, Phan Thị Mỹ Hạnh, Trần Đình Phát, Bùi Hữu Phước Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/kttc/article/view/132521 Wed, 25 Feb 2026 08:31:38 +0700