Đánh giá các mô hình học sâu cho bài toán dự đoán lỗi phần mềm trên bộ dữ liệu BugHunter

Các tác giả

  • Dang Thi Kim Ngan Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt – Hàn, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam
  • Dao Khanh Duy Hiện đang theo học chương trình Cử nhân Kỹ thuật (Bachelor of Engineering) tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt – Hàn, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam.
  • Ha Thi Minh Phuong Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt – Hàn, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam
  • Nguyen Thanh Binh Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Việt – Hàn, Đại học Đà Nẵng, Việt Nam

Từ khóa

dự đoán lỗi phần mềm, học máy, tập dữ liệu BugHunter

DOI:

https://doi.org/10.32913/mic-ict-research-vn.v2025.n1.1374

Tóm tắt

Dự đoán lỗi phần mềm (SFP) quá trình xác định các mô-đun có khả năng chứa lỗi trước giai đoạn kiểm thử trong vòng đời phát triển phần mềm. Việc dự đoán lỗi sớm trong quá trình phát triển cho phép các nhà phát triển phần mềm tập trung nguồn lực vào các thành phần tiềm ẩn lỗi, từ đó nâng cao chất lượng và độ tin cậy tổng thể của phần
mềm. Các kỹ thuật học máy và học sâu đã được áp dụng rộng rãi để huấn luyện các mô hình SFP. Tuy nhiên, những phương pháp này vẫn đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự tồn tại của các đặc trưng không liên quan hoặc dư thừa, sự mất cân bằng dữ liệu, hiện tượng quá khớp (overfitting), và cấu trúc mô hình phức tạp. Trong số các bộ dữ liệu được sử dụng cho nhiệm vụ dự đoán lỗi, bộ dữ liệu NASA từ kho PROMISE là bộ phổ biến nhất. Gần đây, bộ dữ liệu BugHunter với số lượng mẫu lớn hơn đáng kể đã được khai thác nhằm huấn luyện các mô hình SFP. Nghiên cứu này trình bày một phân tích so sánh giữa ba mô hình học sâu gồm Mạng Nơ-ron Tích chập (CNN), Mạng Nơ-ron Hồi tiếp (RNN), và Bộ nhớ dài-ngắn hạn (LSTM), cùng với bốn mô hình học máy bao gồm K-Nearest Neighbors (KNN), Multilayer Perceptron (MLP), Adaptive Boosting (AdaBoost), và Extreme Gradient Boosting (XGB) nhằm đánh giá hiệu năng của các mô hình SFP trên bộ dữ liệu BugHunter. Phương pháp Lasso được sử dụng để lựa chọn đặc trưng, trong khi kỹ thuật Synthetic Minority Oversampling Technique (SMOTE) được áp dụng nhằm giải quyết vấn đề mất cân bằng dữ liệu, với mục tiêu cải thiện độ chính xác của mô hình. Kết quả thực nghiệm cho thấy, CNN và RNN vượt trội hơn các mô hình học máy còn lại và đạt được hiệu suất tổng thể tốt nhất.

Lượt tải

Chưa có dữ liệu tải xuống.

Tiểu sử tác giả

  • {affiliation}

    Dang Thi Kim Ngan obtained a Bachelor degree in Information Management at the University of Danang-University of Economics in 2011. She got an MSc degree of at the Chinese Culture University, Tai wan in 2014. She is currently serving as a lecturer at the University of Danang Vietnam-Korea University of Information and Communication Technology. Her research focuses on software engineering.

  • {affiliation}

    Dao Khanh Duy is currently pursuing a Bachelor of Engineering at the University of Danang- Vietnam-Korea University of Information and Communication Technology. He has been gaining valuable hands on experience in research and development through internships at the King Mongkut’s University of Technology North Bangkok and MGM technology partners. His current research focuses on software testing and software effort estimation.

  • {affiliation}

    Ha Thi Minh Phuong received a Bachelor degree in Information Technology from the University of Danang-University of Science and Technology in 2010. She earned M.Sc. degree in Computer Science at Yuan Ze University, Taiwan in 2013. She is a lecturer at the University of Danang Vietnam-Korea University of Information and Communication Technology. She is currently pursuing the Ph.D. degree in Computer Science at the University of Danang. Her current research focuses on software testing, deep learning.

  • {affiliation}

    Nguyen Thanh Binh graduated in Information Technology from the University of Danang- University of Science and Technology in 1997. He received a PhD. degree in Information Technology at Grenoble Institute of Technology, France in 2004. He
    has been qualified as Associate Professor since 2013. He is currently working at the University of Danang- Vietnam-Korea University of Information and Communication Technology. His research interests include software engineering and software quality.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2025-06-25