https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/issue/feed Tạp chí Công nghiệp Mỏ 2026-02-10T05:09:27+07:00 Tạ Ngọc Hải djemore20@gmail.com Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Hội Khoa học và Công nghệ Mỏ Việt Nam</strong></p> https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131652 Nghiên cứu đề xuất phương pháp xác định nguồn xuất lộ nước vào lò chợ 11-1.10 mức -175/-180 khu III vỉa 11 Công ty cổ phần than Hà Lầm - Vinacomin 2026-02-09T02:49:56+07:00 Lê Văn Hậu tccongnghiepmo@gmail.com Trần Đức Dậu tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Khu mỏ than Hà Lầm, Công ty Cổ phần Than Hà Lầm - Vinacomin được khai thác bằng phương pháp hầm lò và </em><em>lộ</em><em> thiên. Hiện tại, các khai trường lộ thiên đã kết thúc khai thác và cơ bản đã được đổ thải, san lấp với cốt cao bề mặt bãi thải lớn hơn hoặc bằng mức thông thủy khu vực. Công tác khai thác hầm lò phía dưới bãi thải vẫn đang diễn ra, quá trình khai thác lò chợ 11-1.10 mức -175/-180 khu III vỉa 11 dưới bãi thải vỉa 14 cánh Tây đã xảy ra sự cố xuất lộ nước vào lò chợ, làm ảnh hưởng đến sản xuất. Bài viết này trình bày phương pháp xác định nguồn xuất lộ nước vào lò chợ, làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao mức độ an toàn khi khai thác phần trữ lượng còn lại.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131660 Nghiên cứu lựa chọn phương pháp và các thông số khoan nổ mìn hợp lý cho các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh của TKV 2026-02-09T02:59:24+07:00 Lê Đức Phương tccongnghiepmo@gmail.com Lê Việt Phương tccongnghiepmo@gmail.com Phí Trung Kiên tccongnghiepmo@gmail.com Nguyễn Ngọc Dũng tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Bài báo trình bày quá trình n</em><em>ghiên cứu lựa chọn phương pháp và các thông số khoan nổ mìn hợp lý cho các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh của TKV, và </em><em>k</em><em>ết quả nổ mìn thử nghiệm trên mỏ than Cao Sơn</em><em>. Kết quả nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy, mặc dù chỉ tiêu thuốc nổ tăng từ 7,5÷21,1 % so với định mức hiện hành tùy theo từng loại dung tích gàu của máy xúc và tính chất cơ lý của đất đá, nhưng năng suất của tổ hợp xúc bốc vận tải được cải thiện rõ rệt, thời gian chu kỳ xúc của máy xúc giảm trung bình khoảng 19,74 %, năng suất của máy xúc tăng trung bình khoảng 21,86 %; năng suất của ô tô tăng từ 5÷8,33 % so với định mức; giảm khối lượng khoan nổ lần 2. Kết quả tính toán trong điều kiện mỏ Cao Sơn cho thấy giá thành bóc đất đá bình quân sẽ giảm 542 đồng/m<sup>3</sup> khi áp dụng các thông số khoan nổ mìn đề xuất.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131937 Đổi mới mô hình quản trị và tổ chức sản xuất bằng ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đối với các mỏ khai thác than hầm lò vùng Quảng Ninh 2026-02-10T02:41:56+07:00 Phạm Đức Thang tccongnghiepmo@gmail.com Nguyễn Ngọc Minh tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển như một công nghệ có khả năng giải quyết những thách thức mang tính hệ thống của các ngành, các lĩnh vực trong đó có ngành khai thác khoáng sản, bao gồm tối ưu hóa vận hành, giảm chi phí sản xuất, tăng cường an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Mặc dù tiềm năng đã được khẳng định, mức độ ứng dụng AI trong khai thác than hầm lò vẫn còn hạn chế do rào cản về chi phí đầu tư, thiếu khung chính sách hỗ trợ và tâm lý thận trọng trong đổi mới công nghệ. Để khắc phục, cần sự phối hợp đồng bộ giữa doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, qua đó hình thành nguồn nhân lực có năng lực số và thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo.</em></p> <p><em>Trong bối cảnh các mỏ than hầm lò tại Quảng Ninh, khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản lượng than cả nước còn đang chịu sự ảnh hưởng và chi phối của mô hình quản trị truyền thống, quy trình vận hành thủ công và hạn chế về tự động hóa, nghiên cứu này tập trung phân tích thực trạng quản trị và tổ chức sản xuất. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình ứng dụng AI nhằm đổi mới phương thức quản trị và tổ chức khai thác than hầm lò, hướng tới tăng năng suất, đảm bảo an toàn lao động và phát triển bền vững. Từ đó làm cơ sở nghiên cứu xây dựng lộ trình triển khai AI phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp khai thác than hầm lò tại vùng Quảng Ninh.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131938 Nghiên cứu sử dụng bùn thải của Nhà máy tuyển đồng Tả Phời thay thế cát tự nhiên trong chế tạo bê tông xanh không xi măng 2026-02-10T02:53:53+07:00 Phạm Mạnh Hà tccongnghiepmo@gmail.com Nguyễn Quý Nam tccongnghiepmo@gmail.com Nguyễn Tam Tính tccongnghiepmo@gmail.com Tăng Văn Lâm tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về khả năng sử dụng bùn thải của Nhà máy tuyển đồng Tả Phời làm cốt liệu nhỏ thay thế cát tự nhiên trong chế tạo bê tông xanh không xi măng. Mỗi tháng, nhà máy phát sinh khoảng 60.000 m³ bùn thải và quặng đuôi – lượng chất thải lớn này gây áp lực lên hệ thống hồ chứa và tiềm ẩn rủi ro môi trường. Nghiên cứu sử dụng các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành để đánh giá tính công tác và cường độ nén của bê tông xanh sử dụng bùn thải với hàm lượng thay thế từ 0÷30%. Hỗn hợp bê tông thu được có độ sụt từ 14,5 đến 20,0 cm, khối lượng thể tích dao động nhẹ, cường độ nén ở tuổi 28 ngày đều đạt trên 40 MPa. Thành phần tối ưu với 10% bùn thải cho kết quả cường độ cao nhất (55,5 MPa). Kết quả cho thấy, bùn thải có thể đóng vai trò như cát mịn nhân tạo, góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu chất thải rắn và thúc đẩy phát triển ngành vật liệu xây dựng bền vững.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131946 Tính toán kiểm tra bền vỏ cầu dao chân không phòng nổ THCDPN-660(1140) dùng trong mỏ than hầm lò 2026-02-10T03:04:02+07:00 Đỗ Đức Trọng tccongnghiepmo@gmail.com Phạm Tất Thế tccongnghiepmo@gmail.com Lê Văn Phúc tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Khi thiết kế các thiết bị điện sử dụng trong các môi trường có khí và bụi nổ trong các mỏ than hầm lò, vỏ của thiết bị có vai trò quan trọng. Vỏ của thiết bị phải đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với vỏ không xuyên nổ - dạng bảo vệ "d". Do đó, thiết kế đòi hỏi phải đáp ứng&nbsp; các yêu cầu đối với vỏ, kết hợp và phải tính toán kiểm tra bền khi thiết kế. Bài báo đưa ra yêu cầu đối với vỏ cầu dao chân không và phương pháp, kết quả tính toán kiểm tra bền khi thiết kế. Các phương pháp nghiên cứu, trình tự thiết kế và kết quả được đề cập cụ thể trong bài viết có thể áp dụng khi thiết kế vỏ cho thiết bị điện phòng nổ dùng trong mỏ than hầm lò nói chung.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131980 Đánh giá khả năng áp dụng ô tô tải lai pin nhiêu liệu và pin điện phục vụ khai thác mỏ lộ thiên 2026-02-10T04:33:23+07:00 Nguyễn Đăng Tấn tccongnghiepmo@gmail.com Tạ Ngọc Hải tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Khi ngành công nghiệp khai khoáng tìm cách phát triển bền vững hơn, các tập đoàn khai khoáng mong muốn tìm nguồn năng lượng phát thải cacbon thấp cho các xe tải vận chuyển khoáng sản.</em> <em>T</em><em>hay thế động cơ diesel xe tải mỏ bằng pin điện hoặc bằng pin nhiên liệu đã được nghiên cứu áp dụng. Mỗi hệ thống có những ưu, nhược điểm riêng. Gần đây, trên thế giới đã có những nghiên cứu áp dụng hệ thống động lực lai giữa pin nhiên liệu và pin điện dùng cho ô tô tải mỏ</em><em>.</em><em> Pin nhiên liệu kết hợp hydro và oxy để tạo ra điện, pin điện lưu trữ điện năng để sử dụng khi cần tăng công suất đột ngột</em><em> và tái tạo năng lượng khi phanh. Khi thay thế động cơ diesel, thách thức đặt ra là phải cải tiến xe tải được thiết kế ban đầu dùng động cơ diesel thành xe tải sử dụng pin nhiên liệu đồng thời với pin điện. Bài báo này đưa ra những đánh giá ban đầu một số chỉ tiêu ô tô mỏ công suất lớn dùng động cơ diesel, cải tạo sang sử dụng hệ thống động lực lai giữa pin nhiêu liệu và pin điện, làm cơ sở cho việc lựa chọn hệ thống động lực ô tô tải mỏ thân thiện với môi trường.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131989 Xác định chế độ làm việc của quạt gió chính hợp lý trong ngày mỏ không làm việc nhằm tiết kiệm điện tại mỏ than Khe Chàm I, Công ty than Hạ Long- TKV 2026-02-10T04:40:21+07:00 Trần Xuân Hà tccongnghiepmo@gmail.com Đào Văn Chi tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Theo quy định hiện hành, các mỏ than hầm lò phải được thông gió suốt ngày đêm. Có nghĩa là các quạt gió chính đặt trên mặt đất và các quạt cục bộ đặt trong mỏ phải làm việc 24/24 giờ. Tuy vậy, trong 01 năm các mỏ than hầm lò thường không làm việc vào các ngày lễ, tết, chủ nhật…Trong những ngày này, ở trong mỏ không có các hoạt động sản xuất. Vì vậy, các yếu tố gây ô nhiễm môi trường không khí, gây mối nguy hiểm về cháy nổ khí, nổ bụi giảm đi rất nhiều so với ngày mỏ làm việc. Thực tế này cho thấy các quạt gió chính không cần làm việc như ngày bình thường để đưa gió sạch vào mỏ. Song, chế độ làm việc của quạt gió chính như thế nào để góp phần vào việc giảm giá thành sản xuất than nhờ tiết kiệm điện là điều cần bàn tới. </em></p> <p><em>Bài báo giới thiệu khả năng giảm chi phí điện năng nhờ xác định chế độ làm việc hợp lý của quạt gió chính trong những ngày mỏ không làm việc.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/131994 Petrovietnam đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số 2026-02-10T04:46:57+07:00 Trần Bình Minh tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Trong bối cảnh thế giới đối mặt với những biến động sâu sắc và xu thế chuyển dịch năng lượng mạnh mẽ, việc đổi mới mô hình tăng trưởng đã trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam. Mô hình tăng trưởng truyền thống dựa vào tài nguyên đang dần bộc lộ những hạn chế. Bài báo này phân tích định hướng chuyển đổi của Tập đoàn sang một mô hình tăng trưởng mới, lấy Khoa học công nghệ (KHCN), Đổi mới sáng tạo (ĐMST) và Chuyển đổi số (CĐS) làm động lực cốt lõi, dựa trên "Chiến lược Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2050" đang được xây dựng. Bài báo tập trung trình bày các định hướng công nghệ chiến lược mà Tập đoàn dự kiến ưu tiên phát triển và ứng dụng, bao gồm: tối ưu hóa hoạt động hiện hữu bằng công nghệ số và AI; phát triển năng lượng sạch và hóa chất “xanh”; công nghệ khử carbon và kinh tế tuần hoàn; và công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến. Đồng thời, bài báo giới thiệu các giải pháp thực thi mang tính hệ thống đang được đề xuất, đặc biệt là việc xây dựng "Hệ sinh thái Đổi mới sáng tạo Petrovietnam (PIVOT)", nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi thành công, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững của Tập đoàn trong bối cảnh mới.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) https://vjol.info.vn/miningindustryjournal-vn/article/view/132001 Áp dụng phân tích EFA xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty than Mạo Khê – TKV 2026-02-10T04:54:27+07:00 Nguyễn Thị Mơ tccongnghiepmo@gmail.com Trần Thị Thanh Hương tccongnghiepmo@gmail.com Phí Thị Thanh Huyền tccongnghiepmo@gmail.com <p><em>Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế quan trọng, là nguồn thông tin hữu ích cho các quyết định quản trị cũng như các nghiên cứu khoa học</em><em>. Trên cơ sở tổng quan những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, b</em><em>ài báo sử dụng nghiên cứu định lượng để </em><em>xác định các yếu tố ảnh hưởng đến</em><em> hiệu quả sản xuất kinh doanh </em><em>tại</em><em> Công ty than Mạo Khê</em><em> - TKV. Nhìn từ</em><em> góc độ sự vận động của dòng vật chất</em><em>, hiệu quả sản xuất kinh doanh được hình thành qua các khâu chuẩn bị sản xuất, sản xuất, tiêu thụ và thuê ngoài. Nhóm tác giả sử dụng thang đo Likert 5 mức để xây dựng mẫu phiếu khảo sát thực tế, kết quả khảo sát thu về sau khi lược bỏ các mẫu bị lỗi, sẽ sử dụng kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy trên</em><em> nền tảng phần mềm SPSS 27. Kết quả phân tích thu được 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty than Mạo Khê - TKV gồm các nhân tố thuộc khâu sản xuất, tiêu thụ và thuê ngoài. Kết quả hồi quy đảm bảo ý nghĩa thống kê nhỏ hơn 0,05 và giải thích được 68,2% vấn đề nghiên cứu. Trong đó nhóm yếu tố thuộc khâu sản xuất có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất tới hiệu quả sản xuất kinh doanh với hệ số là 0,554 tiếp theo đến nhóm yếu tố thuộc khâu tiêu thụ và thuê ngoài.</em></p> 2026-02-12T00:00:00+07:00 Bản quyền (c)