Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - B
https://vjol.info.vn/most
<p><strong>Tạp chí của Bộ Khoa học và Công nghệ</strong></p>vi-VNTạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - B1859-4794Ảnh hưởng của chất trợ tương hợp glycidyl methacrylate và khoáng sét montmorillonite đến tính chất và cấu trúc của blend PBAT/PLA
https://vjol.info.vn/most/article/view/141853
<p>Polymer blend trên cơ sở polybutylene adipate terephthalate (PBAT) kết hợp với polylactic acid (PLA) với tính chất cơ lý được cải thiện đã được chế tạo thành công trên máy đùn trục vít, sử dụng chất trợ tương hợp glycidyl methacrylate (GMA) và chất gia cường khoáng sét montmorillonite (MMT). Các tính chất của blend được đánh giá bằng các phương pháp: kỹ thuật phản xạ toàn phần suy giảm - phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (ATR-FTIR), phân tích nhiệt trọng lượng (TGA), kính hiển vi điện tử quét (SEM) và thử nghiệm cơ học. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ PBAT/PLA 40/60 cho các tính chất cơ học tối ưu, chất trợ tương hợp trên cơ sở GMA làm tăng tính tương hợp trong blend PBAT/PLA thông qua phản ứng giữa nhóm epoxy với các nhóm COOH và OH cuối mạch polymer. Việc sử dụng GMA kết hợp với clay đã cải thiện độ bền cơ học, độ bền nhiệt, độ ổn định cấu trúc của vật liệu. Blend PBAT/PLA/chất trợ tương hợp/clay với tỷ lệ khối lượng 40/60/10/20 cho độ bền kéo 30,06 MPa, độ dãn dài khi đứt 70,38%, module kéo 1568 MPa. Kết quả cho thấy, vật liệu có tiềm năng trong sản xuất bao bì và đồ đựng thực phẩm dùng một lần thân thiện với môi trường.</p>Tưởng Thị Nguyệt Ánh*, Hoàng Thị Hương, Đoàn Hoàng Linh, Nguyễn Tiến Đạt, Nghiêm Thị Thảo, Nguyễn Ngọc Diệp, Đặng Thảo Yến Linh, Đoàn Văn Hưởng, Chu Xuân Quang
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B11Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trong nuôi cấy tế bào gốc và ngân hàng tế bào gốc
https://vjol.info.vn/most/article/view/141875
<p>Việc thiết lập các tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng trong các phòng nuôi cấy tế bào gốc và ngân hàng lưu trữ tế bào gốc đóng vai trò then chốt để đảm bảo an toàn, hiệu quả và khả năng ứng dụng lâm sàng của liệu pháp điều trị sử dụng tế bào gốc. Hệ thống này yêu cầu các tiêu chí nghiêm ngặt về: nguồn gốc tế bào, đặc tính sinh học, độ tinh khiết, tỷ lệ sống, khả năng biệt hóa, sự ổn định bộ gen, đánh giá chất lượng định kỳ, hồ sơ đầy đủ để truy xuất nguồn gốc. Các cơ sở nuôi cấy và ngân hàng tế bào gốc cần tuân thủ quy trình thực hành sản xuất tốt (GMP) và Thực hành mô tốt (GTP) để kiểm soát tối đa nguy cơ nhiễm bẩn và duy trì điều kiện nuôi cấy tối ưu. Bên cạnh đó, các vấn đề về đạo đức y sinh, quy trình sàng lọc người hiến tặng và việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế (FDA, EMA) là những yếu tố không thể thiếu nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm tế bào gốc. Trong bài báo này, các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng trong nuôi cấy tế bào gốc và ngân hàng tế bào gốc được trình bày cụ thể. Đặc biệt, các tiêu chuẩn cơ bản về cơ sở vật chất, nhận diện tế bào, đếm tế bào và đánh giá tỷ lệ sống, đánh giá an toàn vi sinh được mô tả cụ thể.</p>Phạm Xuân Đà*Hoàng Thành ChíNguyễn Thị Hồng HạnhNguyễn Phước Vinh, Bùi Thị Kim Lý, Vũ Văn KiênBùi Thị Kim LýVũ Văn Kiên
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B1010Nghiên cứu nhân giống loài Lan Hoàng thảo Thái Bình (Dendrobium moschatum Buch.-Ham. ex Sw.) bằng phương pháp nuôi cấy in vitro
https://vjol.info.vn/most/article/view/141885
<p>Nhằm xác định môi trường nuôi cấy tối ưu để nhân giống in vitro cây Lan Hoàng thảo Thái Bình (Dendrobium moschatum Buch.-Ham. ex Sw.), một loài lan quý hiếm đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, nghiên cứu này đã đánh giá tác động của các chất điều hòa sinh trưởng (GA3, BAP, TDZ, NAA) và than hoạt tính đến các giai đoạn sinh trưởng quan trọng như nảy mầm, tái sinh chồi và ra rễ trước khi tạo cây con hoàn chỉnh. Các thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy, môi trường Murashige & Skoog (MS), bổ sung 3% sucrose, 5 g/l agar, duy trì pH 5,8±0,1 cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất (89,67%). Ở giai đoạn tái sinh chồi, BAP 3,0 mg/l giúp gia tăng hiệu quả hình thành chồi, đạt 4,25 chồi/mẫu. Trong giai đoạn ra rễ, môi trường có bổ sung 0,2 mg/l NAA và 2,0 g/l than hoạt tính đạt hiệu suất ra rễ tốt nhất. Những kết quả này góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây Lan Hoàng thảo Thái Bình, hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen loài lan quý này.</p>Julieta Albano Tiago, Nguyễn Thị TìnhPhạm Phương Thu*, Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Phan Thị Thu Hiền, Vũ Thị Thương
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B2020Tổng hợp và nghiên cứu tính chất của composite PbO2-SnO2 trên nền thép không gỉ
https://vjol.info.vn/most/article/view/141916
<p>Composite PbO<sub>2</sub>-SnO<sub>2</sub> được tổng hợp thành công bằng phương pháp quét thế tuần hoàn (CV) trên nền thép không gỉ (SS) trong dung dịch Pb(NO<sub>3</sub>)<sub>2</sub> 0,5 M; HNO<sub>3</sub> 0,1 M; Cu(NO<sub>3</sub>)<sub>2</sub> 0,05 M; C<sub>2</sub>H<sub>6</sub>O<sub>2</sub> 0,1 M và SnO<sub>2</sub> với hàm lượng từ 500 đến 2500 mg/l. Khi hàm lượng SnO<sub>2</sub> trong dung dịch là 1500 mg/l, vật liệu composite có tính chất điện hóa tốt nhất. Cấu trúc hình thái học bề mặt và thành phần các nguyên tố có trong composite được nghiên cứu thông qua các<br>phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM), nhiễu xạ tia X (XRD) và tán xạ năng lượng tia X (EDX). Đặc tính điện hóa của điện cực SS/PbO<sub>2</sub>-SnO<sub>2</sub> được nghiên cứu trong dung dịch H<sub>2</sub>SO<sub>4</sub> 0,5 M bằng phương pháp CV và phép đo đường cong phân cực I-E. Điện cực composite này được sử dụng làm anot cho quá trình xử lý metyl da cam (MO) ở điều kiện phù hợp với thời gian xử lý khác nhau. Hiệu suất của quá trình xử lý MO cao, đạt trên 90% sau 30 phút. Động học của quá trình xử lý MO tuân theo mô hình động học của phản ứng bậc 1 với độ tuyến tính R2=0,9736.</p>Phạm Thị TốtPhan Thị Bình, Mai Thị Thanh Thùy*
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B2727Chế tạo vật liệu tổ hợp TiO2/HAP bằng phương pháp thủy nhiệt và ứng dụng quang xúc tác phân hủy phẩm màu dệt nhuộm
https://vjol.info.vn/most/article/view/141919
<p>Trong nghiên cứu này, vật liệu hấp phụ và quang xúc tác trên cơ sở HAP (từ tiền chất Ca(NO<sub>3</sub>)<sub>2</sub>, NH<sub>4</sub>H<sub>2</sub>PO<sub>4</sub> và HAP cố định oxit titan (từ TiCl<sub>3</sub> - TiO<sub>2</sub>/HAP) được chế tạo bằng phương pháp tổng hợp thủy nhiệt. Vật liệu chế tạo được đặc trưng tính chất: nhiễu xạ tia X, hiển vi điện tử quét kết hợp phân tích thành phần nguyên tố (SEM/EDX), xác định điện thế bề mặt - thế Zeta. Khả năng hấp phụ và quang xúc tác của vật liệu được đánh giá thông qua thí nghiệm phân hủy màu methylen xanh (MB), alizarin vàng G (AYG), xanh hồ thủy (XHT) là phẩm màu dệt nhuộm thu thập từ hộ gia đình làng nghề, phẩm màu trước và sau xử lý được xác định qua phép đo quang phổ UV-Vis. Kết quả đặc trưng tính chất cho thấy, oxit titan đã được cố định và phân tán đồng đều cùng vật liệu HAP; các hạt có khả năng ổn định tốt trong môi trường phân tán. Khả năng quang xúc tác oxy hóa và phân hủy của vật liệu TiO2/HAP đối với các phẩm màu đều đạt trên 90% sau 3 giờ chiếu sáng UV. Qua đó cho thấy tiềm năng ứng dụng của vật liệu tổ hợp TiO<sub>2</sub>/HAP trong xử lý quang xúc tác các chất màu ô nhiễm.</p>Trần Minh Hiếu, Lê Đình NamLương Hoàng Minh, Phạm Thị Hằng, Nguyễn Xuân Hoàn*
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B3333Cảm biến điện hóa với điện cực làm việc biến tính bằng hạt nano siêu thuận từ Fe3O4 để phát hiện dư lượng chloramphenicol trong mẫu sữa
https://vjol.info.vn/most/article/view/141920
<p>Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, đặc biệt trong các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản, đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng cần đưa ra giải pháp hữu hiệu tại Việt Nam. Nguyên nhân của hiện tượng này là việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi, không chỉ gây ra các hệ lụy đến sức khỏe cộng đồng mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín và giá trị thương mại của các sản phẩm xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, cảm biến điện hóa là một giải pháp tiềm năng nhờ các ưu điểm vượt trội về độ nhạy, chi phí thấp, thao tác đơn giản và khả năng sử dụng linh hoạt tại hiện trường. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hạt nano Fe3O4 có tính chất siêu thuận từ, độ truyền dẫn điện tử cao, độc tính thấp, tương thích sinh học tốt, có khả năng hấp phụ các chất hữu cơ như thuốc kháng sinh, để biến tính điện cực làm việc của các cảm biến điện hoá thương mại C110 (Metrohm, Thuỵ Sỹ) nhằm nâng cao tín hiệu điện hóa và cải thiện độ nhạy của cảm biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm biến điện hóa phát hiện nồng độ kháng sinh chloramphenicol (CAP) trong dung dịch đệm phosphat (phosphate buffer solution - PBS) có giới hạn phát hiện thấp LOD=0,06 μM, độ lệch chuẩn RSD<5%, độ thu hồi 94,77%. Cảm biến đã được sử dụng để xác định nhanh dư lượng chất kháng sinh CAP trong mẫu sữa tại nồng độ CCAP=1 μM, có độ thu hồi đạt 95-109% và độ lệch chuẩn 2,14%. Các kết quả khả quan này là tiền đề cho việc phát triển cảm biến điện hoá - kỹ thuật phân tích không đánh dấu, hiện trường di động, ứng dụng trong việc kiểm soát an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Việt Nam.</p>Trần Văn Đình, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Trường An, Lê Doãn Phúc, Nguyễn Thị Minh Hồng*Phạm Tiến ThànhNguyễn Đức ThiệuPhạm Thế TânHoàng Thị Bích Thủy
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B4040Đánh giá tỷ lệ di căn hạch cổ trong ung thư amidan tại Bệnh viện Chợ Rẫy (2019-2024)
https://vjol.info.vn/most/article/view/141922
<p>Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ di căn hạch cổ trong ung thư amidan từ năm 2019 đến 2024 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định ung thư amidan bằng giải phẫu bệnh lý và được điều trị tại Khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2024. Kết quả và bàn luận: Bệnh nhân tập trung chủ yếu trong độ tuổi từ 40 đến 60 (chiếm 70,8%). Tỷ lệ nam/nữ là 3,8/1. Triệu chứng đau tại u là triệu chứng cơ năng gặp nhiều nhất, chiếm 66,7%; tiếp theo là nuốt vướng và nổi hạch vùng cổ, chiếm lần lượt 50,0 và 33,3%. Vị trí khối u bên phải chiếm 54,2%, còn lại bên trái. Bệnh có liên quan đến các yếu tố nguy cơ như rượu, thuốc lá, nhai trầu. Kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tế bào gai amidan, thường khu trú ở một bên. Về hạch di căn, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân có hạch di căn là 70,8%, bệnh nhân không có hạch là 29,2%. Kết luận: U gặp chủ yếu ở T1 và T2 (chiếm 87,5%). Giai đoạn T1 có di căn hạch 40%, T2 là 75%, T3 là 100%; từ đó cho thấy, khi giai đoạn càng trễ thì tỷ lệ di căn hạch càng cao.</p>Trần Anh Bích*Hà Công Chánh
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B5050Đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo “Cấp cứu sơ sinh” tại các bệnh viện của tỉnh Hà Nam
https://vjol.info.vn/most/article/view/141923
<p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo “Cấp cứu sơ sinh” tại các bệnh viện của tỉnh Hà Nam (trước sáp nhập), với trọng tâm là cải thiện kiến thức, kỹ năng thực hành của nhân viên y tế và giảm thiểu tỷ lệ bệnh tật cấp cứu, tử vong ở trẻ sơ sinh. Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau được thực hiện trên 317 trẻ sơ sinh ≤30 ngày tuổi trong tình trạng cấp cứu, điều trị tại các bệnh viện thuộc tỉnh Hà Nam từ tháng 6/2023 đến tháng 6/2024. Đồng thời, 116 nhân viên y tế (bao gồm bác sỹ, điều dưỡng và nữ hộ sinh) tham gia chương trình đào tạo và được đánh giá sau đào tạo trong cùng thời gian trên. Kết quả cho thấy, sau chương trình đào tạo, tỷ lệ trẻ sơ sinh nặng lên và tử vong đều giảm (từ 2,3 xuống 0,9% và 0,7 xuống 0,6%), đồng thời số ca chuyển tuyến đến Bệnh viện Nhi Trung ương cũng giảm (từ 16,9 xuống 8,2%). Dù kiến thức lý thuyết của nhân viên y tế được cải thiện, kỹ năng thực hành vẫn cần nâng cao thêm. Chương trình đào tạo “Cấp cứu sơ sinh” đã chứng minh tính hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc trẻ sơ sinh tại tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục các chương trình đào tạo này và giám sát liên tục để đảm bảo tính bền vững trong việc cải thiện kỹ năng thực hành của nhân viên y tế.</p>Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Phan Thị Nga, Quách Thị Hoa, Chu Lan Hương, Vương Thị Huyền Trang, Lê Thị Hồng, Nguyễn Huy PhúNguyễn Thị Quỳnh Nga*
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B5858Thực hành tuân thủ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV ở nam quan hệ tình dục đồng giới tại Thanh Hóa
https://vjol.info.vn/most/article/view/141924
<p>Mục tiêu: Mô tả thực hành tuân thủ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV của nam quan hệ tình dục đồng giới (Men who have sex with men - MSM) tại tỉnh Thanh Hóa năm 2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được tiến hành với 374 nam giới từ 16 tuổi trở lên, có quan hệ tình dục đồng giới đang sử dụng dịch vụ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) từ tháng 4/2024 đến tháng 6/2024. Kết quả cho thấy, 21,2% MSM sử dụng PrEP từ 12 tháng trở lên. Trong đó, 87,2% MSM sử dụng PrEP kết hợp với việc dùng bao cao su khi quan hệ tình dục; có 2,9% MSM quên uống thuốc PrEP trong một tháng; có 81,8% MSM quên thuốc trong vòng 1 đến 7 ngày và 18,2% MSM quên thuốc trên 7 ngày. Biện pháp nhắc uống thuốc phổ biến là đặt chuông báo thức (90,9%) và lên lịch uống thuốc (72,7%). Khi gặp tác dụng phụ, 91,4% MSM đã thông báo cho nhân viên phòng khám PrEP. Kết luận: Thực hành tuân thủ điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV của MSM còn thấp. Vì vậy, cần tăng cường truyền thông để duy trì tính bền vững với MSM sử dụng PrEP.</p>Vũ Phong Túc*, Trần Thị PhươngBùi Xuân Khánh
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B6363Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng phân bón hóa học đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Hương Thanh 10 tại Thanh Hóa
https://vjol.info.vn/most/article/view/141925
<p>Nghiên cứu nhằm xác định mật độ cấy và lượng phân bón hóa học thích hợp cho giống lúa Hương Thanh 10 trồng tại tỉnh Thanh Hóa. Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2024 và được thiết kế theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (split-plot) với 3 lần nhắc lại. Nhân tố ô chính là lượng phân hóa học cho 1 ha theo tỷ lệ N:P<sub>2</sub>O<sub>5</sub>:K<sub>2</sub>O, vụ Xuân ở các mức P1: 80:70:60 kg/ha, P2: 90:80:70 kg/ha, P3: 100:90:80 kg/ha, P4: 110:100:90 kg/ha; vụ Mùa ở các mức P1: 70:60:50 kg/ha, P2: 80:70:60 kg/ha, P3: 90:80:70 kg/ha, P4: 100:90:80 kg/ha. Nhân tố ô phụ là mật độ cấy: M1: 30 khóm/m2; M2: 40 khóm/m<sup>2</sup>; M3: 50 khóm/m<sup>2</sup>. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian sinh trưởng, số nhánh tối đa, số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt đạt cao nhất ở mật độ cấy 30 khóm/m2 và lượng phân bón ở mức P3. Năng suất thực thu cao nhất ở công thức M<sub>2</sub>P<sub>3</sub> đạt 6,8 tấn/ha ở vụ Xuân và đạt 4,6 tấn/ha ở vụ Mùa, tương ứng với mật độ cấy 40 khóm/m<sup>2</sup> kết hợp bón phân cho 1 ha ở mức 100 kg N + 90 kg P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 80 kg K<sub>2</sub>O trong vụ Xuân và ở mức bón 90 kg N + 80 kg P<sub>2</sub>O<sub>5</sub> + 70 kg K<sub>2</sub>O trong vụ Mùa. </p>Tống Văn Giang*, Lê Huy Tuấn
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B6969Xây dựng hệ thống tái sinh in vitro phục vụ chuyển gen ở giống lạc L27 (Arachis hypogaea L.)
https://vjol.info.vn/most/article/view/141926
<p>Lạc (Arachis hypogaea L.) chứa nhiều giá trị dinh dưỡng tốt cho sức khỏe con người, nhưng phần lớn protein trong lạc có khả năng gây dị ứng cao, đồng thời hàm lượng các amino acid thiết yếu chứa lưu huỳnh thấp. Hơn nữa, sản lượng và giá trị dinh dưỡng ở cây lạc bị ảnh hưởng tiêu cực bởi hạn hán, nhiệt độ khắc nghiệt, độ mặn, lũ lụt và nồng độ CO<sub>2</sub>… Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xây dựng hệ thống tái sinh hiệu quả, phục vụ kỹ thuật chuyển gen qua trung gian Agrobacterium để nâng cao khả năng chống chịu và cải thiện chất lượng hạt lạc. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả khử trùng hạt lạc bằng HgCl<sub>2</sub> 0,1% là tốt nhất với tổng thời gian xử lý là 9 phút (5 phút lần 1 và 4 phút lần 2). Chồi ngọn tái sinh tốt nhất ở nồng độ 1,5 mg/l benzylaminopurine (BAP), còn nách lá mầm là 2,0 mg/l BAP. Chồi nách lá mầm cảm ứng tạo đa chồi tốt nhất ở nồng độ 2,0 mg/l BAP kết hợp với 0,7 mg/l α-naphthaleneacetic acid (α-NAA), đạt 4,43 chồi/mẫu. Ngược lại, chồi ngọn không cảm ứng tạo đa chồi. Chồi cảm ứng ra rễ tối ưu ở 0,7 mg/l α-NAA, đạt 8,32 rễ/chồi. Ngưỡng chọn lọc kanamycin hiệu quả ở giai đoạn tái sinh chồi là 75 mg/l, còn giai đoạn ra rễ là 50 mg/l.</p>Vì Thị Xuân Thủy*, Lê Sỹ Bình
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B7676Đánh giá tính bền vững của mô hình sinh thái tích hợp trong canh tác thanh long bằng phân tích emergy
https://vjol.info.vn/most/article/view/141927
<p>long. Một mô hình sinh thái khép kín theo hướng tuần hoàn vật chất và năng lượng cho các hộ dân trồng cây thanh long đã được đề xuất và triển khai, dựa trên cơ sở xử lý chất thải từ sinh khối thanh long, kết hợp với chất thải chăn nuôi tạo ra các sản phẩm mới có giá trị. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích emergy được áp dụng để đánh giá tính bền vững của mô hình sinh thái tích hợp đã triển khai cho các hộ dân. Kết quả cho thấy, hệ số năng suất năng lượng (EYR) của hệ thống là 0,99, nghĩa là không có đơn vị tài nguyên môi trường miễn phí nào có thể được khai thác khi một đơn vị đầu vào được đầu tư vào hệ thống tích hợp. Hệ số sức tải môi trường (ELR) của hệ thống là 0,35, cho thấy năng lượng tái tạo được sử dụng trong hệ thống này nhiều hơn năng lượng không tái tạo. Hơn nữa, chỉ số bền vững (EmSI) của mô hình sinh thái tích hợp đạt 2,8, cao hơn so với hệ thống nông nghiệp thông thường.</p>Hồ Thị Thiên Kim, Nguyễn Thanh Hùng, Lê Thanh Hải, Trần Thị Hiệu, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trần Trung Kiên*Đồng Thị Thu Huyền
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B8282Đặc điểm cấu trúc, sinh khối và đa dạng sinh học của một số trạng thái rừng tự nhiên trong phân khu phục hồi sinh thái tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà
https://vjol.info.vn/most/article/view/141928
<p>Phân khu phục hồi sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hòn Bà có diện tích khoảng 9.553,5 ha, gồm nhiều trạng thái rừng thường xanh núi đất đặc trưng. Bài báo sử dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn (OTC) có diện tích 1.000 m2 (33,3x30,0 m) được bố trí tạm thời và điển hình trên các trạng thái của khu vực nghiên cứu để xác định một số đặc điểm về cấu trúc rừng, sinh khối và đa dạng sinh học (ĐDSH). Kết quả cho thấy, phân bố số cây theo cấp đường kính (n/D1.3) và số cây theo cấp chiều cao (n/Hvn) có sự tương đồng giữa các trạng thái và tập trung nhiều tại cỡ đường kính và chiều cao nhỏ. Trữ lượng dao động từ 36,7 đến 221,7 m3/ha và sinh khối dao động từ 30,16 đến 247,54 tấn/ha. Các trạng thái rừng ghi nhận từ 12 đến 36 loài cây gỗ, trong đó từ 6 đến 10 loài có ý nghĩa cao về sinh thái. Khu vực nghiên cứu có sự giảm mạnh về các chỉ tiêu mật độ, trữ lượng, số lượng loài và chỉ số ĐDSH so với mặt bằng chung. Từ đó cho thấy, khu vực nghiên cứu đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phục hồi và phát triển rừng liên quan đến tốc độ phục hồi của các trạng thái rừng trong phân khu phục hồi sinh thái.</p>Nguyễn Trọng Minh*, Nguyễn Toàn ThắngHoàng Thanh Sơn, Lương Văn Dũng, Nguyễn Văn TuấnTrần Hoàng Quý
Bản quyền (c)
2026-03-252026-03-25683B9191