https://vjol.info.vn/mtu/issue/feedTạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tây2026-03-30T02:56:19+07:00Tạp chí KH&CN Trường ĐHXD Miền Tâyeditor@mtu.edu.vnOpen Journal Systems<p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Xây dựng Miền Tây</strong></p>https://vjol.info.vn/mtu/article/view/134651Bìa2026-03-30T02:53:38+07:00Editoreditor@mtu.edu.vn<p>Bìa</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134658Mục Lục2026-03-30T02:55:49+07:00Editoreditor@mtu.edu.vn<p>Mục lục</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134660Comparing the effect of negative friction on the design bearing capacity of precast piles with different assumed embankment thicknesses2026-03-30T02:55:50+07:00Lam Nguyet Duyenlnduyen@vnkgu.edu.vnTran Duc Trunglnduyen@vnkgu.edu.vnMok Vannetlnduyen@vnkgu.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.151">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.151</a></strong></p> <p>This paper compares the negative skin friction effects of soil on the load-bearing capacity of precast squarsection reinforced concrete containers in areas 4 and 5 of the Rach Gia Kien Giang (formerly) land reclamation project, assuming different embankment layers and surface cross-sections. The depth of acoustic influence can vary depending on the height of the embankment layer (or the magnitude of the load) and the thickness of the weak soil layer. The survey results show that negative friction can occur in weak soil areas when the settlement of the soil layer is greater than the settlement of the pile. As the thickness of the load increases, the design bearing capacity of the pile decreases due to the effect of negative friction. At the same time, as the pile cross-section increases, the design bearing capacity is still affected by negative friction, but to a lesser extent. Thus, the results obtained contribute to evaluating the influence of negative friction on the bearing capacity of piles based on the thickness of the embankment layers in some areas of the Rach Gia reclaimed land.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134683Ứng dụng thuật toán tối ưu đa mục tiêu trong thiết kế kết cấu giàn thép2026-03-30T02:55:53+07:00Nguyễn Trần Hiếuhieunt2@huce.edu.vn<p><strong><span class="fontstyle0">DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.152">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.152</a></span></strong></p> <p><span class="fontstyle0">Kết cấu giàn thép được sử dụng rộng rãi trong những công trình vượt nhịp lớn do những ưu điểm như: trọng lượng nhẹ, độ cứng lớn,... Do giá thành của vật liệu thép cao hơn nhiều so với vật liệu bê tông nên bài toán tối ưu trọng lượng kết cấu thép luôn được đặt ra trong quá trình thiết kế. Tuy nhiên, thực tế thiết kế đôi khi đòi hỏi phải cân bằng hai hay nhiều mục tiêu xung đột nhau, ví dụ tối thiểu trọng lượng giàn đồng thời tối đa khả năng chịu lực hoặc độ cứng của giàn. Đối với loại bài toán này, không có một giải pháp tối ưu nhất mà có thể tồn tại nhiều giải pháp tốt ngang nhau. Những giải pháp này hợp thành một đường cong (khi tối ưu hai mục tiêu) hoặc mặt cong (khi tối ưu ba mục tiêu) được gọi là biên giới Pareto. Một trong những thuật toán phổ biến nhất để xác<br>định biên giới Pareto là thuật toán NSGA-II. Bài báo trình bày một nghiên cứu áp dụng thuật toán NSGA-II trong công tác thiết kế kết cấu giàn thép nhằm tối ưu đồng thời cả trọng lượng cũng như độ cứng của giàn. Bài báo gồm bốn phần chính. Phần một giới thiệu tổng quan và mục tiêu của nghiên cứu. Phần hai thiết lập bài toán tối ưu đa mục tiêu cho kết cấu giàn, trình bày ngắn gọn thuật toán tối ưu đa mục tiêu NSGA-II cũng như một số kỹ thuật bổ sung. Phần ba triển khai một ví dụ thực tế áp dụng thuật toán NSGA-II thiết kế kết cấu giàn vượt nhịp 30m. Phần bốn nêu một số kết luận và kiến nghị.</span></p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134685Tiến bộ trong nghiên cứu an toàn cháy cho kết cấu bê tông và thép tại Việt Nam và Quốc tế 2026-03-30T02:55:56+07:00Nguyễn Phi Longlongnp@vaa.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.118">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.118</a></strong></p> <p>Báo cáo tổng hợp các nghiên cứu từ năm 2000 đến nay về khả năng chịu cháy của kết cấu bê tông, thép và bê tông cốt thép, tập trung vào hành vi vật liệu và cấu kiện dưới tác động nhiệt độ cao. Các nghiên cứu chỉ ra rằng bê tông giảm đáng kể cường độ chịu kéo và mô đun đàn hồi ở nhiệt độ trên 600°C, đồng thời hiện tượng bong tróc (spalling) gây nguy hiểm do làm lộ cốt thép. Thép kết cấu mất khoảng 50% cường độ chảy ở 550-600°C và chỉ còn 10-20% ở 800°C. Sự suy giảm độ bám dính giữa bê tông và cốt thép ở nhiệt độ cao cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu lực. Các phương pháp phòng ngừa bong tróc, như sử dụng phụ gia hoặc lớp bảo vệ, cùng với thiết kế chịu cháy theo hiệu suất, được nghiên cứu rộng rãi. So sánh cho thấy Việt Nam có tiến bộ nhưng còn hạn chế về thí nghiệm quy mô lớn và hợp tác quốc tế. Báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu này trong bối cảnh đô thị hóa, góp phần nâng cao an toàn và chất lượng công trình xây dựng.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134687Hoàn thiện khung pháp lý về lựa chọn nhà thầu tư vấn xây dựng: từ luật đấu thầu 2023 đến các điều chỉnh mới năm 20252026-03-30T02:55:59+07:00Tường Minh Hồngminhhong1905@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.142">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.142</a></strong></p> <p>Bài báo phân tích những thay đổi căn bản trong khung pháp lý về lựa chọn nhà thầu tư vấn xây dựng quy định tại Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15 và các văn bản sửa đổi, bổ sung mới nhất là Luật số 90/2025/QH15. Nghiên cứu chỉ ra các điểm mới cốt lõi: (1) Bãi bỏ hình thức chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu tư vấn; (2) Nâng hạn mức chỉ định thầu lên 800 triệu đồng và luật hóa quy định chỉ định thầu cho tác giả phương án kiến trúc; (3) Đổi mới phương pháp đánh giá với sự ưu tiên cho điểm kỹ thuật (70-80%). Bài viết cũng nhận diện các thách thức về chuyển đổi số và đề xuất giải pháp hoàn thiện mẫu E-HSMT nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Kết quả nghiên cứu cho thấy hạn mức 800 triệu đồng đã giúp cắt giảm 70% thời gian lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu quy mô nhỏ. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các Ban quản lý dự án xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ, đồng thời đề xuất Bộ Kế hoạch và Đầu tư tích hợp module xem file BIM trực tuyến, giúp minh bạch hóa quá trình xét thầu tư vấn kiến trúc trong năm 2026.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134688Ứng dụng học máy trong dự báo chậm tiến độ dự án xây dựng: xu hướng và thách thức2026-03-30T02:56:01+07:00Nguyễn Thế Minhtheminhpqldt@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.162">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.162</a></strong></p> <p>Chậm tiến độ là rủi ro phổ biến trong các dự án xây dựng, làm tăng chi phí, kéo dài thời gian và ảnh hưởng hiệu quả đầu tư cũng như phối hợp giữa các bên; tuy nhiên, kiểm soát tiến độ trong thực tiễn vẫn chủ yếu dựa trên so sánh kế hoạch–thực tế và kinh nghiệm nên khó phát hiện sớm dấu hiệu trễ và thiếu cơ sở định lượng để cảnh báo kịp thời. Trước xu hướng số hóa, dữ liệu dự án ngày càng sẵn có (kế hoạch tiến độ, báo cáo hiện trường, nhật ký thi công,...), tạo nền tảng cho ứng dụng Machine Learning (ML) trong dự báo nguy cơ chậm tiến độ. Bài báo nghiên cứu ML dự báo chậm tiến độ, tập trung vào loại dữ liệu đầu vào, cách thiết kế bài toán theo chu kỳ tuần/tháng, các mô hình thường dùng và phương pháp đánh giá, cho thấy ML có thể khai thác dữ liệu đa biến, nhận diện quan hệ phi tuyến và cung cấp dự báo xác suất rủi ro để hỗ trợ cảnh báo sớm cho điều hành thi công. Dù vậy, việc triển khai thực tế vẫn gặp thách thức về tính nhất quán và chuẩn hóa dữ liệu, khả năng khái quát giữa dự án và mức độ diễn giải kết quả phục vụ ra quyết định, từ đó gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm nâng cao tính khả thi và hiệu quả ứng dụng ML trong quản lý tiến độ dự án xây dựng.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134690Một phương pháp tính toán quy đổi lưu lượng trục xe khai thác về trục xe tiêu chuẩn trong thiết kế mặt đường bê tông xi măng2026-03-30T02:56:03+07:00Nguyễn Văn CôngThanhz756@gmail.comThịnh Văn ThanhThanhz756@gmail.comPhạm Tôn HiệpThanhz756@gmail.comHoàng Hồng PhánThanhz756@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.154">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.154</a></strong></p> <p>Trong thiết kế mặt đường bê tông xi măng, việc xác định chính xác lưu lượng trục xe tiêu chuẩn là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo độ bền và tuổi thọ khai thác của kết cấu mặt đường. Trên thực tế, lưu lượng giao thông khai thác bao gồm các phương tiện có tải trọng trục và đặc điểm phân bố tải khác nhau, do đó cần được quy đổi về trục xe tiêu chuẩn thông qua các hệ số quy đổi phù hợp. Tuy nhiên, các phương pháp quy đổi hiện nay chủ yếu dựa trên những giả thiết đơn giản hóa và chưa xét đầy đủ ảnh hưởng của độ cứng mặt đường, diện tích tiếp xúc bánh xe với mặt đường và điều kiện làm việc của kết cấu. Các nghiên cứu lý thuyết cho thấy những yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể đến trạng thái ứng suất – biến dạng của tấm bê tông và các lớp nền móng, từ đó tác động đến khả năng làm việc và cơ chế hư hỏng của mặt đường. Việc bỏ qua các ảnh hưởng này có thể dẫn đến sai lệch trong tính toán thiết kế. Vì vậy, bài báo tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lưu lượng trục xe quy đổi nhằm nâng cao độ tin cậy và cơ sở khoa học cho thiết kế mặt đường bê tông xi măng.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134692Khảo sát số sự truyền nhiệt trong tấm bê tông xi măng mặt đường ô tô bằng phương pháp phần tử hữu hạn2026-03-30T02:56:05+07:00Nguyễn Văn DươngThanhz756@gmail.comThịnh Văn ThanhThanhz756@gmail.comHoàng Hồng PhánThanhz756@gmail.comPhạm Tôn HiệpThanhz756@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.156">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.156</a></strong></p> <p>Bài báo tập trung nghiên cứu sự truyền nhiệt trong tấm bê tông xi măng của mặt đường ô tô thông qua phân tích số bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm làm rõ đặc điểm phân bố trường nhiệt trong tấm bê tông dưới tác động của điều kiện nhiệt môi trường, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của chiều dày tấm đến sự biến thiên nhiệt theo phương dày. Mô hình tính toán được xây dựng và triển khai trên phần mềm Code_Aster, cho phép mô phỏng chi tiết quá trình truyền nhiệt không ổn định trong kết cấu mặt đường. Kết quả phân tích cho thấy chiều dày tấm bê tông có ảnh hưởng đáng kể đến dạng phân bố và gradient nhiệt, đặc biệt trong vùng gần bề mặt chịu tác động trực tiếp của môi trường. Các kết quả thu được góp phần làm sáng tỏ quy luật truyền nhiệt trong mặt đường bê tông xi măng, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ phân tích ứng suất nhiệt và thiết kế, đánh giá kết cấu mặt đường trong điều kiện khí hậu thực tế.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134694Xu hướng “Chuyển hóa luận” ở Nhật Bản: Bài học lớn về nền kiến trúc bản địa ở Việt Nam2026-03-30T02:56:06+07:00Đinh Ngọc Hòadinhngochoa@muce.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="http://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.153">http://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.153</a></strong></p> <p>Chuyển hóa luận (Metabolism) là một trong những xu hướng kiến trúc đương đại bắt nguồn ra đời đầu tiên ở Nhật Bản. Tại hội nghị Design quốc tế năm 1960 ở Tokyo, một số kiến trúc sư Nhật Bản tuyên bố thành lập nhóm chuyển hóa luận. Là một hệ thống lý thuyết bàn về sự vận động và chuyển hóa trong kiến trúc và đô thị. Cũng như những quốc gia khác trên thế giới, Nhật Bản cũng phải chịu nhiều ảnh hưởng của những trào lưu kiến trúc thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ 20 với sự phát triển của ngành công nghiệp, con người chuyển từ lao động thủ công sang lao động công nghiệp, từ sản xuất tự phát sang sản xuất tập trung nên đòi hỏi kiến trúc phải đáp ứng những nhu cầu tối thiểu nhất của con người. Trong đó trào lưu kiến trúc Hiện đại (Modern Architecture) có ảnh hưởng rất lớn. Sau thế chiến thứ 2, Nhật Bản đang trong quá trình tái thiết lại đất nước, mong muốn xây dựng và phục hồi lại hình ảnh đất nước nhưng không chịu tác động nhiều của chủ nghĩa kiến trúc Hiện đại nhưng vẫn phát huy được tính truyền thống trong tác phẩm kiến trúc.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134697Ứng dụng thủ pháp hoán vị của Kts. Junya Ishigami vào giải pháp tái thiết không gian kiến trúc làng chài Vũng Rô2026-03-30T02:56:08+07:00Nguyễn Minh Tríminhtri06032000@gmail.comLê Anh Đứcminhtri06032000@gmail.comNguyễn Bích Hoànminhtri06032000@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.146">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.146</a></strong></p> <p>Bài báo đề xuất ứng dụng thủ pháp “hoán vị” (rearrangement) trong tư duy thiết kế của KTS. Junya Ishigami vào bài toán tổ chức lại không gian kiến trúc làng chài Vũng Rô (Phú Yên) trong bối cảnh biến đổi khí hậu và áp lực phát triển du lịch – hạ tầng ven biển. Trên cơ sở khái quát triết lý hoán vị và cách tổ chức module linh hoạt từ các dự án tiêu biểu của Ishigami, nghiên cứu phân tích hiện trạng không gian kiến trúc Vịnh Vũng Rô, nhận diện các xung đột giữa sản xuất ngư nghiệp – sinh hoạt – du lịch – hạ tầng giao thông. Từ đó, bài báo đề xuất mô hình tái thiết dựa trên 3 lớp hoán vị: (1) Hoán vị cấu trúc không gian tổng thể làng chài trong mối quan hệ với bờ biển và đường quốc lộ; (2) Hoán vị các cụm chức năng (ở – sản xuất – dịch vụ cộng đồng – du lịch) thông qua hệ module kiến trúc linh hoạt trên bờ và trên mặt nước; (3) Hoán vị vi mô trong cấu tạo nhà ở, nhà chồ, nhà bè để tăng tính thích ứng với nước dâng, bão lũ và nhu cầu chuyển đổi công năng theo mùa. Kết quả cho thấy thủ pháp hoán vị không chỉ là kỹ thuật sắp xếp hình thức mà có thể trở thành khung tư duy tổ chức không gian thích ứng, vừa bảo tồn bản sắc làng chài, vừa tạo nền tảng cho phát triển bền vững tại Vũng Rô. <strong> </strong></p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134699Ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý tòa nhà nhằm thúc đẩy phát triển đô thị thông minh và bền vững2026-03-30T02:56:09+07:00Trần Ngọc Tuấntiepnv@hcmute.edu.vnNguyễn Văn Tiếptiepnv@hcmute.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.157">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.157</a></strong></p> <p>Nghiên cứu này đánh giá việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý và vận hành tòa nhà, đồng thời đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao hiệu suất quản lý tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu bao gồm tổng hợp tài liệu, phân tích các bài báo và phỏng vấn chuyên gia để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai công nghệ 4.0 trong quản lý tòa nhà. Kết quả phân tích xác định 5 nhóm yếu tố chính: tài chính, hạ tầng kỹ thuật, năng lực nhân sự, khung pháp lý, và an ninh mạng. Các yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ, tác động đến khả năng triển khai đồng bộ và hiệu quả các hệ thống công nghệ 4.0 như IoT, AI, và Blockchain. Nghiên cứu cũng trình bày trường hợp điển hình tại ký túc xá Trường Cao đẳng Lý Tự Trọng TP.HCM để minh họa tiềm năng, thách thức và giải pháp thực tế trong việc áp dụng công nghệ 4.0 vào quản lý tòa nhà.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134701Đánh giá tiềm năng sinh khối cây xanh ven sông Tô Lịch hướng tới mô hình đô thị carbon thấp2026-03-30T02:56:11+07:00Dương Mai Hươnghuongduongkts@gmail.com<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.136">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.136</a></strong></p> <p>Nghiên cứu này nhằm đánh giá tiềm năng sinh khối cây xanh ven sông Tô Lịch như một giải pháp tự nhiên trong chiến lược giảm phát thải carbon và phát triển đô thị carbon thấp của Hà Nội. Sông Tô Lịch với vai trò là hành lang xanh quan trọng không chỉ mang giá trị cảnh quan và sinh thái mà còn có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon thông qua hệ thống cây xanh dọc hai bờ. Dựa trên phương pháp tích hợp giữa khảo sát thực địa và ước tính sinh khối theo loài cây chủ đạo nghiên cứu bước đầu xác định trữ lượng sinh khối trung bình và khả năng hấp thụ CO₂ tiềm năng của khu vực nghiên cứu. Kết quả cho thấy việc phục hồi và mở rộng thảm thực vật bản địa ven sông có thể góp phần đáng kể vào mục tiêu trung hòa carbon của Hà Nội, đồng thời cải thiện vi khí hậu và chất lượng môi trường đô thị. Nghiên cứu gợi ý hướng tiếp cận tổng hợp giữa quy hoạch cây xanh đô thị, kinh tế tuần hoàn carbon và quản lý hạ tầng xanh trong quá trình tái thiết sông Tô Lịch.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134702Ứng dụng mô hình chỉ số tài chính trong đánh giá hiệu quả dự án xây nhà ở Nam Long 2 Cần Thơ2026-03-30T02:56:12+07:00Lưu Ngọc Cườnglncuong@ctuet.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.137">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.137</a></strong></p> <p>Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả đầu tư của dự án Khu nhà ở Nam Long 2 tại Cần Thơ. Quá trình nghiên cứu dựa trên việc thu thập và phân tích có hệ thống các dữ liệu từ hồ sơ dự án, qua đó xác định mối tương quan giữa các yếu tố và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng thông số đến hiệu quả đầu tư. Kết quả phân tích tài chính cho thấy dự án đạt giá trị hiện tại ròng (NPV) 336,073 tỷ đồng, tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) 27,1% và thời gian thu hồi vốn trong vòng 5 năm. Các chỉ số này khẳng định tính khả thi và mức độ sinh lời cao của dự án. Bên cạnh hiệu quả tài chính, nghiên cứu cũng đánh giá dự án đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định hiện hành, bao gồm: công tác san lấp mặt bằng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ (giao thông, cấp thoát nước, điện) và các công trình nhà ở cùng các hạng mục phụ trợ khác. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai dự án, góp phần đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu và tiến độ đề ra. Như vậy, nghiên cứu kết luận dự án Khu nhà ở Nam Long 2 không chỉ khả thi về mặt tài chính mà còn đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, hạ tầng cần thiết, xứng đáng được đầu tư và triển khai trong thực tế.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134703Phát triển gạch không nung sử dụng chất kết dính kiềm hoạt hóa2026-03-30T02:56:14+07:00Trần Vũ Anhoanganh@ctu.edu.vnNguyễn Hoàng Anhhoanganh@ctu.edu.vnHong-Phuc Nguyenhoanganh@ctu.edu.vnHuy Nguyenhoanganh@ctu.edu.vnHuy-Long Nguyenhoanganh@ctu.edu.vnNhat -Truong Nguyenhoanganh@ctu.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.171">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.171</a></strong></p> <p>Nghiên cứu này khảo sát việc phát triển gạch không nung sử dụng chất kết dính kiềm hoạt hóa từ tro bay và xỉ lò cao nghiền. 4 cấp phối gạch được chuẩn bị với tỷ lệ theo khối lượng tro bay và xỉ thay đổi 0/100, 10/90, 30/70 và 50/50. Các thí nghiệm khối lượng thể tích, độ hút nước, cường độ chịu nén, cường độ chịu uốn, độ co khô và vận tốc xung siêu âm được thực hiện theo tiêu chuẩn liên quan. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự tăng lên hàm lượng tro bay làm giảm khối lượng khối lượng thể tích và đô độ co khô nhưng làm tăng nhẹ độ hút nước của gạch. Gạch không nung sử dụng chất kết dính từ tro bay và xỉ lò cao nghiền đạt mác M75 và M100 theo yêu cầu của TCVN 6447.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tâyhttps://vjol.info.vn/mtu/article/view/134704Recycled concrete aggregates derived from construction waste: potential applications in structural engineering2026-03-30T02:56:16+07:00Do Trong Nghiadotrongnghia@mtu.edu.vn<p><strong>DOI: <a href="https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.160">https://doi.org/10.66195/mtu.2026.16.160</a></strong></p> <p>Large amounts of waste concrete have been accumulated during construction activities, posing substantial environmental and resource concerns for the sector. Recycling this garbage into recycled concrete aggregates (RCA) helps to promote sustainable and circular structural construction. This paper critically reviews the processing, classification systems, physical and mechanical qualities, durability performance, and structural behavior of RCA. The presence of adhered mortar causes increased porosity and reduced stiffness when compared to natural aggregates; however, recent advances in processing techniques, supplementary cementitious materials, and optimized mix design show that RCA concrete can achieve reliable structural performance. Practical case studies from buildings, infrastructure, and precast construction demonstrate the viability of moderate RCA replacement ratios in load-bearing systems. Limitations, including long-term durability, variability control, and conservative design provisions, are determined. The study highlights future perspectives focused on performance-based design, improved material processing, and integration of RCA within circular economy frameworks to support resilient and sustainable structural engineering.</p>2026-03-30T00:00:00+07:00Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Khoa học và Công Nghệ Trường Đại học Xây dựng Miền Tây