Tạp chí Ngôn ngữ https://vjol.info.vn/ngonngu <p>Tạp chí Ngôn ngữ là cơ quan ngôn luận của Viện Ngôn ngữ học và của ngành ngôn ngữ học (<a href="https://vienngonnguhoc.vass.gov.vn/tin-tuc/ngon-ngu.aspx">https://vienngonnguhoc.vass.gov.vn/tin-tuc/ngon-ngu.aspx</a>), là diễn đàn học thuật, nơi trao đổi, công bố những công trình nghiên cứu lí luận thực tiễn về ngôn ngữ học, từ điển học, bách khoa thư của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Ra đời từ năm 1969 đến nay, Tạp chí Ngôn ngữ là tạp chí có uy tín trong ngành.</p> <p>Tạp chí Ngôn ngữ được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước đưa vào Danh mục tạp chí khoa học được tính điểm ở các ngành, liên ngành:&nbsp;<em>Ngôn ngữ học</em>, <em>Văn học, Luật học, Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học, Nhân học,Tâm lí học.</em></p> vi-VN Tạp chí Ngôn ngữ 0866-7519 Phụ từ nghi vấn, đại từ nghi vấn và tiểu từ tình thái nghi vấn tiếng Việt https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135010 <p>Trong số những phương tiện dùng để xây dựng câu nghi vấn tiếng Việt, các từ để hỏi đóng một vai trò hết sức quan trọng. Các từ này không thuần nhất về mặt từ loại và đương nhiên, cả về mục đích hỏi. Ba nhóm từ loại chuyên được dùng để thiết kế câu hỏi là đại từ, tiểu từ và phụ từ. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về ba nhóm này trong sự so sánh với nhau. Theo khung lí thuyết của Ngữ pháp chức năng, bài viết này làm rõ đặc trưng của phụ từ nghi vấn, đại từ nghi vấn và tiểu từ tình thái nghi vấn trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Kết quả cho thấy có nhiều điểm tương đồng và khác biệt giữa ba nhóm từ.</p> Trần Kim Phượng Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 3 3 Cấu trúc ý niệm 家 (nhà) trong tiếng Trung https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135021 <p>Bài viết tập trung miêu tả cấu trúc ý niệm 家 (nhà) trong tiếng Trung sau khi làm rõ nội hàm của hai thuật ngữ ý niệm và ẩn dụ ý niệm. Căn cứ vào nghĩa liên tưởng được kích hoạt từ nét nghĩa của khái niệm “家(nhà)” bài viết chỉ ra sơ đồ cấu trúc nghĩa hạt nhân của ý niệm 家(nhà) trong tiếng Trung có 3 bậc. Những miêu tả về cấu trúc nghĩa hạt nhân chẳng những làm rõ “ tính ngôn ngữ” của ý niệm mà còn giải thích vì sao trong cấu trúc của ý niệm thì nghĩa hạt nhân mang tính chung của nhân loại, là cơ sở để hiểu nghĩa văn hóa. Việc nghiên cứu trường hợp ý niệm bậc dưới Không gian cư trú nhằm làm rõ hơn vai trò kích hoạt của các nét nghĩa cũng như tính chất trường – chức năng của cấu trúc ý niệm 家 (nhà).</p> Đặng Thị Hảo Tâm Tan Yuhui Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 13 13 Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì Việt Nam từ góc nhìn tín hiệu học https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135022 <p>Nghiên cứu này phân tích và mô tả đặc điểm của yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì Việt Nam từ cách tiếp cận tín hiệu học. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Yếu tố kì ảo xuất hiện nhiều trong truyện truyền kì nhưng nổi bật hơn cả là ở bình diện nhân vật và không gian. Quan điểm tín hiệu học giúp chúng ta sẽ tiếp cận đối tượng nghiên cứu này từ các hình thức ngôn ngữ (các chi tiết về nhân vật, về không gian), từ đó sẽ giải mã để tìm ra ý nghĩa của các chi tiết, chính là vai trò, tác dụng của yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì. Yếu tố kì ảo không đơn giản chỉ là làm cho thế giới truyện lung linh, kì ảo như nó vốn có mà còn nhiều vai trò, tác dụng khác trong việc phản ánh cuộc sống thực tại của con người.</p> Nguyễn Thị Thu Thủy Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 21 21 Hashtag như một nguồn lực kí hiệu học xã hội trong diễn ngôn đánh giá lĩnh vực giải trí số của giới trẻ Việt Nam https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135023 <p>Hashtag đã phát triển từ những thẻ siêu dữ liệu đơn giản thành nguồn lực kí hiệu học xã hội quan trọng trong truyền thông số. Trong diễn ngôn review giải trí của giới trẻ Việt Nam ở dạng số, hashtag không chỉ dùng để phân loại mà còn để mã hóa trải nghiệm, thể hiện quan điểm, xây dựng cộng đồng và tổ chức văn bản đa phương thức. Nghiên cứu này phân tích 1.670 hashtag từ 200 bài đăng trên TikTok, Facebook, Instagram và YouTube, bao gồm các lĩnh vực âm nhạc, ẩm thực, phim ảnh và du lịch. Kết quả cho thấy hashtag thực hiện chức năng trên ba bình diện: kinh nghiệm, liên nhân và tổ chức văn bản. Vượt trên chức năng phân loại, hashtag góp phần kiến tạo giá trị văn hóa, bản sắc và quan hệ quyền lực trong cộng đồng trực tuyến, trở thành kí hiệu đa chức năng ở giao điểm giữa ngôn ngữ, truyền thông và văn hóa số.</p> Lương Thị Hiền Nguyễn An Nguyên Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 30 30 Trạng ngữ trong ba bộ sách giáo khoa phổ thông bậc trung học cơ sở hiện nay https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135026 <p>Trạng ngữ là một thành phần phụ của câu tiếng Việt nhưng là một đơn vị khá phức tạp. Quan điểm của các nhà nghiên cứu về trạng ngữ chưa thực sự đạt được sự thống nhất và điều này là thách thức không nhỏ đối với việc dạy và học trạng ngữ trong nhà trường. Bài viết này sẽ khảo sát các kiến thức về trạng ngữ trong ba bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc THCS hiện hành là Cánh Diều, Kết nối tri thức với cuộc sống và Chân trời sáng tạo, phân tích các trường hợp chưa đạt được sự thống nhất, từ đó giúp cho giáo viên và học sinh có cách tiếp cận phù hợp trong việc dạy và học trạng ngữ nói riêng và các kiến thức về tiếng Việt nói chung.</p> Nguyễn Thị Hồng Ngân Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 39 39 Ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135027 <p>Bài báo nghiên cứu hệ thống ẩn dụ ý niệm thời gian trong thơ Việt Nam đương đại từ góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, nhằm nhận diện các miền nguồn, miền đích, mô hình ánh xạ và đặc trưng thẩm mĩ gắn với thi pháp thời đại. Ngữ liệu gồm 14 tập thơ của nhiều tác giả tiêu biểu giai đoạn đương đại, được phân tích định tính theo khung lí thuyết ẩn dụ ý niệm (Lakoff &amp; Johnson, 1980) kết hợp với thủ pháp thống kê, phân tích định lượng và phân loại. Kết quả cho thấy có 12 ẩn dụ ý niệm với tổng cộng 89 ánh xạ, bao gồm các miền nguồn phổ quát (CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN, VẬT THỂ…) và các miền nguồn đặc thù (CHẤT ĐỘC, CHẤT BẨN…). Đáng chú ý, “độ mờ” trong ánh xạ nổi bật như một chiến lược thẩm mĩ, thể hiện thi pháp phân mảnh, cảm thức hiện sinh và cảm hứng siêu thực, đồng thời mở ra “không gian liên tưởng tự do” cho người đọc. Nghiên cứu góp phần làm rõ đặc trưng tư duy thơ Việt Nam đương đại và bổ sung tư liệu cho nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ nghệ thuật.</p> Đoàn Tiến Lực Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 46 46 Khả năng và mức độ tham gia cấu tạo từ của yếu tố Hán Việt https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135030 <p>Việc xác định và phân tích vai trò của các yếu tố Hán Việt với tư cách là một đơn vị cấu tạo từ trong từ vựng tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ tính năng sản của các yếu tố Hán Việt cũng như thể hiện sự ảnh hưởng của tiếng Hán đến hệ thống từ vựng tiếng Việt. Để làm rõ khả năng và mức độ tạo từ của các yếu tố Hán Việt, việc thống kê, phân loại, và hệ thống hóa chúng là không thể thiếu vì sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để đưa đến các nhận định khoa học.&nbsp; Bài viết này tập trung vào việc thống kê số lượng các yếu tố Hán Việt; đánh giá khả năng và mức độ tạo từ của chúng trong tiếng Việt trên cơ sở dữ liệu thống kê, khảo sát và lấy đó làm tiền đề để định hướng sử dụng dữ liệu và đưa ra kết luận khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo, cả theo hướng lí luận và ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho những nghiên cứu về từ vựng học, ngôn ngữ học ứng dụng, cũng như quá trình chuẩn hóa và phát triển ngôn ngữ.</p> Đặng Thị Thu Hiền Lê Thị Mai Anh Nguyễn Thị Phương Anh Nguyễn Thị Hồng Ngọc Vi Thị Như Quỳnh Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 58 58 Ẩn dụ thức thể hiện nghĩa phủ định trong hội thoại tiếng Việt https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135073 <p>Việc nhận diện và phân tích vai trò của ẩn dụ thức trong việc biểu đạt nghĩa phủ định trong tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm rõ cơ chế ẩn dụ ngữ pháp, đồng thời phản ánh đặc trưng giao tiếp của người Việt. Trên cơ sở khung lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống, nghiên cứu này đã khảo sát ẩn dụ thức như một dạng ẩn dụ ngữ pháp thể hiện nghĩa phủ định, sử dụng ngữ liệu hội thoại từ 25 phim điện ảnh Việt Nam (1974–2023). Thống kê ghi nhận 275 trường hợp ẩn dụ thức, trong đó thức nghi vấn ẩn dụ xuất hiện nhiều nhất (61,4%). Nghiên cứu đề xuất 05 mô hình cấu trúc ẩn dụ thức điển hình, trong đó các mệnh đề phủ định trực tiếp được chuyển sang các hình thức thức nghi vấn nhằm điều chỉnh nghĩa liên nhân phù hợp với quy ước lịch sự tiếng Việt. Kết quả góp phần ủng hộ khả năng ứng dụng lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống nói chung và lí thuyết về ẩn dụ ngữ pháp nói riêng ra ngoài phạm vi tiếng Anh, đồng thời có thể cung cấp nguồn tư liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt.</p> Đặng Đức Anh Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 65 65 Diễn ngôn Thương nhớ thời bao cấp từ góc nhìn phân tích diễn ngôn đa phương thức https://vjol.info.vn/ngonngu/article/view/135076 <p>Diễn ngôn <em>Thương nhớ thời bao cấp </em>là sản phẩm giao tiếp có sự kết hợp thú vị giữa kênh chữ và kênh hình nhằm tái hiện khung cảnh sinh hoạt, lao động của người Việt những năm trước Đổi mới. Tác phẩm không chỉ là dấu ấn của những thiếu thốn một thời mà còn là minh chứng cho cái nhìn điềm tĩnh, thái độ phản biện hài hước của nhân dân ta trước nhọc nhằn của đời sống. Vận dụng lí thuyết Ngữ pháp chức năng của M. Halliday để khảo cứu kênh chữ cùng lí thuyết Ngữ pháp hình ảnh của T. Leeuwen và G. Kress để khảo cứu kênh hình, bài viết đem đến những lí giải không chỉ về cách diễn ngôn tạo nghĩa, thiết lập giao tiếp với bạn đọc mà còn về cách người Việt ta đã sinh sống, tư duy và đối diện với những thiếu thốn một thời.</p> Trương Trang Nhung Trương Trang Nhung Bản quyền (c) 2026-03-18 2026-03-18 9 72 72