Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Thủ đô Hà Nội: Khoa học Xã hội và Giáo dục https://vjol.info.vn/otn <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Thủ đô Hà Nội</strong></p> vi-VN Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Thủ đô Hà Nội: Khoa học Xã hội và Giáo dục 2354-1512 Tìm hiểu nhận thức của sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh và việc ứng dụng thực tiễn kỹ thuật chép chính tả trong việc nâng cao kỹ năng nghe tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội https://vjol.info.vn/otn/article/view/129235 <p><em>Nghiên cứu này khám phá nhận thức của sinh viên năm ba chuyên ngành Ngôn ngữ Anh tại Đại học Thủ đô Hà Nội về việc sử dụng phương pháp chép chính tả&nbsp; để nâng cao kỹ năng nghe của họ. Kỹ năng nghe là một thành phần quan trọng trong việc học ngôn ngữ, và các bài tập chép chính tả từ lâu đã được công nhận là công cụ hiệu quả để cải thiện khả năng nghe, đặc biệt đối với người học tiếng Anh không phải là bản ngữ. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp, kết hợp cả dữ liệu định lượng và định tính, nghiên cứu này xem xét cách sinh viên cảm nhận về việc chép chính tả, tần suất sử dụng và các thách thức họ gặp phải khi áp dụng kỹ thuật này. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù sinh viên nhìn nhận chép chính tả là một công cụ có giá trị trong việc cải thiện khả năng tập trung, nhận diện từ vựng và phát âm, nhưng họ gặp phải những khó khăn đáng kể như tốc độ nói nhanh, giọng nói không quen thuộc và giới hạn thời gian. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu nhất quán trong việc áp dụng phương pháp chép chính tả, vì nhiều sinh viên chủ yếu sử dụng tài liệu giải trí thay vì nội dung học thuật, điều này làm giảm hiệu quả của việc luyện tập. Những phát hiện này dự kiến sẽ cung cấp cho các giáo viên cái nhìn sâu sắc hơn về cách tích hợp phương pháp chép chính tả hiệu quả vào chương trình giảng dạy, từ đó đưa ra các khuyến nghị thực tế để cải thiện giảng dạy kỹ năng nghe tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội và các bối cảnh giáo dục khác.</em></p> Nguyễn Thị Ánh Nguyệt Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 5 13 VĂN HỌC DI DÂN GỐC Á VÀ ĐỜI SỐNG ĐƯƠNG ĐẠI: TRƯỜNG HỢP NHỮNG KẺ THẦM LẶNG VÀ PHÚC LẠC HỘI https://vjol.info.vn/otn/article/view/129239 <p><em>Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, văn học di dân gốc Á tại Mỹ trở thành diễn ngôn quan trọng, nơi kinh nghiệm bên lề được chuyển hóa thành nhận thức phê bình về xã hội và con người. Bài viết đọc so sánh </em><em>Những kẻ thầm lặng</em><em> của Angie Chau (Chau, 2020) và </em><em>Phúc Lạc Hội</em><em> của Amy Tan (Tan, 1993) nhằm làm rõ các dạng “khủng hoảng của chủ thể di dân gốc Á” và cách hai tác phẩm tổ chức ký ức để diễn đạt chúng. Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết diễn ngôn, phê bình hậu thuộc địa - nữ quyền và văn học so sánh, kết hợp đọc gần văn bản với phân tích chủ đề - kết cấu. Kết quả cho thấy hai văn bản cùng soi chiếu ba lớp khủng hoảng: (1) khủng hoảng vị thế xã hội trước phân tầng và định kiến; (2) khủng hoảng văn hóa - ngôn ngữ do lệch pha chuẩn mực giữa quê nhà và xã hội tiếp nhận; (3) khủng hoảng gia đình - bản sắc khi chấn thương và xung đột thế hệ làm lung lay căn tính. Đồng thời, kết cấu tự sự phân mảnh nhưng liên kết - các truyện/chương vừa độc lập vừa quy tụ trong một đan kết lớn - hoạt động như cơ chế “khâu nối” ký ức, giúp nhân vật (và cộng đồng kể chuyện) định vị lại bản thân. Qua đó, bài viết khẳng định văn học di dân gốc Á không chỉ phản ánh bất bình đẳng và đa văn hóa của đời sống đương đại, mà còn mở ra khả năng nhận diện và trị liệu tinh thần, góp phần tái định nghĩa quan hệ giữa văn học, xã hội và con người.</em></p> Đỗ Thị Phương Lan Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 14 21 “Tự sự kiểu cái túi” và những cách nhìn mới về chiến tranh Việt Nam trong tác phẩm của Lê Minh Khuê https://vjol.info.vn/otn/article/view/129242 <p><em>Bài viết bắt đầu điểm nhìn từ lý thuyết “cái túi” về tiểu thuyết của Ursula K.Le Guin trong tiểu luận cùng tên xuất bản năm 1986, lấy đó làm điểm tựa để đọc lại các văn bản văn học của nữ giới về chiến tranh cũng như cách các nhân vật nữ được trình hiện trong những văn bản này.Trong tiểu luận trên, Le Guin cho rằng từ thời tiền sử, nam giới đã lao vào chiến tranh và say sưa với những câu chuyện anh hùng chủ nghĩa, trong khi nữ giới luôn nằm ở bên lề trong các tự sự ấy. Và nếu như vật dụng gắn liền với nam giới đồng thời là biểu tượng cho nam tính là vũ khí, thì phụ nữ lại thường mang theo bên mình một cái túi. Góc nhìn này được mở rộng thêm khi Le Guin diễn giải về nghệ thuật kể chuyện. Tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết nữ viết về chiến tranh, theo quan điểm của Le Guin, cũng là những chiếc túi chứa đựng bên trong nó tất cả những gì cần thiết như bị xem nhẹ, bị gạt đi trong các tự sự chỉ tôn vinh người anh hùng (nam giới). Bài viết, theo đó, tiến hành đọc lại một số văn bản văn học nữ về chiến tranh từ góc nhìn này, xem xét vai trò của nữ giới trong các tự sự này cũng như khả năng giải thể cấu trúc tự sự anh hùng cá nhân của những truyện kể nữ giới. Các văn bản được lựa chọn đọc lại trong bài viết này là các tác phẩm văn xuôi của Lê Minh Khuê – một nhà văn nữ viết về chiến tranh tiêu biểu ở Việt Nam.</em></p> Đặng Thị Thái Hà Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 22 28 THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ CHƠI TRÒ CHƠI TRỰC TUYẾN Ở HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TÂY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG https://vjol.info.vn/otn/article/view/129244 <p><em>Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng mức độ sử dụng trò chơi trực tuyến (game online) của học sinh phổ thông tại khu vực Tây Hải Phòng. Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp khảo sát cắt ngang trên 2.195 học sinh từ lớp 8 đến lớp 12, sử dụng thang đo nghiện game của Kimberly Young làm công cụ thu thập dữ liệu. Dữ liệu thu được được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả nhằm xác định mức độ sử dụng trò chơi trực tuyến của học sinh theo các mức độ khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn học sinh tham gia chơi trò chơi trực tuyến ở mức độ dưới trung bình và trung bình, phản ánh việc sử dụng trò chơi trực tuyến chủ yếu mang tính giải trí và tương đối cân bằng với các hoạt động học tập và sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một tỷ lệ nhất định học sinh có mức độ sử dụng game khá nhiều (chiếm 14,8%) và quá nhiều (chiếm 1,8%) tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần và kết quả học tập. Những kết quả này góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc xây dựng các hoạt động giáo dục, tư vấn và phòng ngừa, nhằm hỗ trợ học sinh sử dụng trò chơi trực tuyến một cách lành mạnh và phù hợp với mục tiêu giáo dục.</em></p> Nguyễn Thị Tím Huế Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 29 36 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN MẦM NON https://vjol.info.vn/otn/article/view/130851 <p><em>Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực (DHTC) trong đào tạo giáo viên mầm non (GVMN) trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Bài báo hệ thống hóa cơ sở lý luận của DHTC, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và các nguyên tắc cơ bản của phương pháp này. Trên cơ sở Khung Chương trình đào tạo GVMN theo Thông tư 17/2021/TT-BGDĐT và chương trình của Trường Đại học Thủ đô Hà Nội, nghiên cứu phân tích mục tiêu, nội dung đào tạo và các năng lực nghề nghiệp cần hình thành ở sinh viên ngành GDMN. Kết quả cho thấy DHTC có mối quan hệ mật thiết với các năng lực cốt lõi của GVMN, đặc biệt là năng lực lập kế hoạch, tổ chức hoạt động, đánh giá trẻ, giao tiếp – hợp tác và năng lực tự học. Bài báo cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng DHTC, bao gồm: năng lực và quan điểm đổi mới của giảng viên; thái độ, kỹ năng nền tảng của sinh viên; chương trình đào tạo và điều kiện bảo đảm của cơ sở đào tạo. Nghiên cứu khẳng định DHTC không chỉ là công cụ đổi mới phương pháp dạy học mà còn là cách tiếp cận hiệu quả để phát triển năng lực nghề nghiệp GVMN theo yêu cầu chuẩn đầu ra mới. Kết quả nghiên cứu có thể làm căn cứ cho các cơ sở đào tạo trong điều chỉnh chương trình và thiết kế học phần theo hướng phát triển năng lực.</em></p> Nguyễn Thị Thúy Hạnh Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 37 45 TRUYỆN CỔ TÍCH BẰNG THƠ NÀNG CÔNG CHÚA CHẾT VÀ BẢY TRÁNG SĨ (A.PUSHKIN) VÀ NÀNG BẠCH TUYẾT (GRIMM) TỪ GÓC NHÌN SO SÁNH https://vjol.info.vn/otn/article/view/130855 <p><em>Cùng khai thác motiv nàng công chúa xinh đẹp bị hãm hại và được cứu thoát, truyện cổ tích bằng thơ </em><em>“</em><em>Nàng công chúa chết và bảy tráng sĩ</em><em>”</em><em> (A.Pushkin) và </em><em>“</em><em>Nàng Bạch Tuyết</em><em>”</em><em> (Grimm) phản ánh rõ sự tiếp biến văn hoá và quá trình sáng tạo nghệ thuật từ một chất liệu chung là văn học dân gian châu Âu. Nếu truyện của Grimm mang đậm bản sắc huyền thoại và tinh thần đạo đức dân gian Đức, nhấn mạnh đến mối xung đột thiện - ác, thì Pushkin, khi tiếp thu motiv đó, đã làm mới, cải biến theo tinh thần và thẩm mỹ Nga. Nhà thơ đã khoác lên tác phẩm vẻ đẹp trữ tình, bi tráng, đậm chất dân gian Slavơ, đưa câu chuyện của “ngày xửa ngày xưa” trở nên gần gũi với con người hiện đại bằng những vấn đề bức thiết đang được đặt ra trong xã hội Nga đương thời.</em></p> Lê Thị Thu Hiền Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 46 55 VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI https://vjol.info.vn/otn/article/view/130857 <p><em>Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá ở Hà Nội luôn trở thành vấn đề được xã hội quan tâm trước bối cảnh đổi mới hiện nay. Đặc biệt khi Luật di sản văn hoá 2024 ra đời đã chỉ rõ trách nhiệm của các bên liên quan như cộng đồng địa phương, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà truyền thông đối với các khía cạnh trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá ở Hà Nội. Dựa trên phương pháp điều tra thực địa, phỏng vấn sâu, kết hợp quan sát tham dự, tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy di sản văn hoá; vận dụng lý thuyết về các bên liên quan của </em><em>R.Edward Freeman</em><em>, bài viết tiến hành phân tích vai trò của các đối tượng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá. Bài viết chỉ rõ thực trạng về trách nhiệm của các bên liên quan trong công tác bảo tồn di sản văn hoá, từ đó đề xuất một số giải pháp để các bên liên quan thể hiện rõ hơn vai trò của mình nhằm phát huy giá trị di sản văn hoá ở Hà Nội trong thời gian tới.</em></p> Nguyễn Thị Thanh Hòa Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 56 62 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN KHOA HỌC THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC VĂN YÊN, PHƯỜNG HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI https://vjol.info.vn/otn/article/view/130869 <p><em>Quản lý xây dựng kế hoạch bài dạy môn Khoa học theo hướng tăng cường ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin ở trường tiểu học trong bối cảnh đổi mới giáo dục và chuyển đổi số hiện nay là hoạt động quản lý có vai trò quan trọng và trở thành yêu cầu tất yếu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học, nhằm phát triển năng lực người học. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch bài dạy môn Khoa học theo hướng tăng cường ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin tại trường Tiểu học Văn Yên, phường Hà Đông, thành phố Hà Nội về lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá cho thấy, các hoạt động thực hiện ở mức khá, tuy nhiên một số hoạt động chỉ được đánh giá ở mức độ trung bình. Thực trạng này là cơ sở thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý xây dựng kế hoạch bài dạy môn Khoa học theo hướng tăng cường ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin tại Nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học, </em><em>góp phần quan trọng vào việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018.</em></p> Phan Thị Thanh Huyền Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 63 74 NỖI ĐAU HẬU CHIẾN VÀ TINH THẦN HÒA GIẢI TRONG THƠ NGUYỄN PHAN QUẾ MAI https://vjol.info.vn/otn/article/view/130870 <p><em>Xuất phát từ đề xuất của Viet Thanh Nguyen về “kí ức công bằng” trong việc nhìn nhận về kí ức chiến tranh, bài viết phân tích nỗi đau hậu chiến như một cảm hứng nổi bật, được thể hiện qua nhiều bài thơ trong tập “Tổ quốc gọi tên mình” của nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai. Điểm độc đáo trong cách nhà thơ đề cập đến chủ đề này là sự khắc họa nỗi đau chiến tranh của những con người đến từ nhiều phía của cuộc chiến, từ những người thường dân Việt Nam cho đến các cựu binh Hoa Kỳ cùng thế hệ con cái của họ cũng như những trẻ em miền Nam Việt Nam lưu lạc trước và sau thời điểm kết thúc chiến tranh. Những bài thơ này đã góp phần hàn gắn và hòa giải nỗi đau chiến tranh giữa Việt Nam và nước Mỹ, giữa người Việt Nam với nhau trong cùng một chấn thương lịch sử. </em></p> Nguyễn Thị Kim Nhạn Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 75 82 TÌM KIẾM Ý NGHĨA SỐNG Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG: GỢI MỞ TỪ TÂM LÝ HỌC HIỆN SINH CHO THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG https://vjol.info.vn/otn/article/view/130871 <p><em>Bài viết phân tích ý nghĩa sống như một khái niệm trọng tâm của tâm lý học hiện sinh và vai trò của nó đối với sự phát triển tâm lý – xã hội của học sinh trung học phổ thông. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu quốc tế, bài viết cho thấy sự hiện diện của ý nghĩa sống có tác dụng bảo vệ sức khỏe tâm thần, hỗ trợ điều chỉnh cảm xúc và góp phần định hình nhân cách; trong khi việc tìm kiếm ý nghĩa có thể mang tính thích nghi hoặc rủi ro tùy thuộc mức độ hiện diện. Các cơ chế trung gian như tự kiểm soát và hỗ trợ xã hội được xác định là những con đường quan trọng thông qua đó ý nghĩa sống tác động đến hành vi, thái độ học tập và kết quả học đường. Từ góc nhìn hiện sinh, bài viết đề xuất định hướng tham vấn học đường theo hướng coi học sinh là chủ thể kiến tạo ý nghĩa sống, nhấn mạnh việc nhận diện tự do, trách nhiệm, đối thoại giá trị, chuyển hóa khó khăn thành cơ hội và vận dụng một số mô hình quốc tế. Kết luận khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp nội dung về ý nghĩa sống vào tham vấn học đường và gợi mở định hướng nghiên cứu thực hành trong bối cảnh Việt Nam.</em></p> Bùi Thị Hồng Minh Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 83 90 TÌM HIỂU CỐT TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT TÌNH BÁO, PHẢN GIÁN VIỆT NAM 1975 – 2000 https://vjol.info.vn/otn/article/view/130872 <p><em>Cốt truyện chứa đựng trong đó tất cả các sự kiện, biến cố và nó được sắp xếp thống nhất, theo ý đồ nhà văn. Cốt truyện trong tiểu thuyết phản gián Việt Nam 1975 – 2000 phong phú, đa dạng. Mỗi kiểu cốt truyện đảm nhận một vai trò quan trọng trong tác phẩm. Nhờ tính đa dạng và kết cấu chặt chẽ nên cốt truyện trong tiểu thuyết phản gián Việt Nam 1975 – 2000 vừa làm bộc lộ tính cách nhân vật, thúc đẩy câu chuyện vận động vừa giúp người đọc hình dung và cảm nhận được bức tranh xã hội đương thời, số phận con người trong chiến tranh. Đồng thời, tạo nên sự hấp dẫn và sức thuyết phục đối với người đọc trong việc ngợi ca trí tuệ, tài năng và sự dũng cảm của người chiến sĩ tình báo.</em></p> Hoàng Thạch Sơn Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 91 98 XU HƯỚNG VÀ CẤU TRÚC XUẤT BẢN KHOA HỌC QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2015–2024: PHÂN TÍCH TRẮC LƯỢNG THƯ MỤC THEO MÔ HÌNH XUẤT BẢN https://vjol.info.vn/otn/article/view/130873 <p><em>Nghiên cứu phân tích xu hướng và cấu trúc công bố khoa học quốc tế được chỉ mục Scopus của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội giai đoạn 2015–2024, thông qua so sánh hai mô hình xuất bản truyền thống và truy cập mở. Dữ liệu Scopus được phân tích bằng phương pháp trắc lượng thư mục kết hợp phân tích mô tả. Kết quả cho thấy, sản lượng công bố của Trường Đại học Xây dựng Hà Nội tăng trưởng mạnh, đặc biệt từ sau năm 2018. Xuất bản truy cập mở gia tăng nhanh và chiếm trên 40% tổng số công bố, song không thay thế xuất bản truyền thống mà cùng tồn tại trong một cấu trúc xuất bản song song. Sự lựa chọn mô hình xuất bản giữa các lĩnh vực chuyên môn mũi nhọn có sự khác biệt rõ rệt, phụ thuộc vào tính chất từng lĩnh vực, qua đó định hình các hành vi và chiến lược xuất bản khoa học khác nhau. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm phục vụ hoạch định chính sách và xây dựng chiến lược công bố khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học kỹ thuật.</em></p> Nguyễn Trung Thành Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 99 106 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ VỚI DOANH NGHIỆP CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM https://vjol.info.vn/otn/article/view/130874 <p><em>Liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp là giải pháp quan trọng và tất yếu trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, giúp đào tạo gắn với nhu cầu xã hội, đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Nội dung liên kết đào tạo nghề với doanh nghiệm được thực hiện qua việc tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động đào tạo nghề như: xây dựng chương trình, chuẩn đầu ra, tiêu chí đánh giá kết quả học tập; hỗ trợ về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, tài chính; hỗ trợ về tiếp nhận nguồn nhân lực sau đào tạo; hợp tác trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ… </em><em>Trong liên kết đào tạo, quản lý đóng vai trò then chốt trong việc&nbsp;đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp; chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát quá trình đào tạo, đánh giá chất lượng giảng dạy và kết quả học tập, đồng thời đảm bảo sự phù hợp của chương trình với yêu cầu thực tế nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.&nbsp;Để nâng cao hiệu quả quản lý, việc nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm từ các nước phát triển có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế.</em>&nbsp;<em>Bài viết tổng hợp kinh nghiệm quản lý liên kết đào tạo nghề với doanh nghiệp của một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.</em></p> Kiều Viết Thức Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 VAI TRÒ HÀNG HÓA CÔNG TOÀN CẦU TRONG CHÍNH SÁCH AN NINH ĐỐI NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC TỪ SAU ĐẠI HỘI XX https://vjol.info.vn/otn/article/view/130875 <p><em>Trong bối cảnh trật tự quốc tế biến động sâu sắc và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc gia tăng, sau Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trung Quốc đã đẩy mạnh triển khai chính sách an ninh đối ngoại với trọng tâm là kết hợp quyền lực cứng và mềm nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì ổn định và mở rộng ảnh hưởng toàn cầu. Một trong những phương thức nổi bật là việc cung cấp các “hàng hóa công toàn cầu” mang dấu ấn Trung Quốc, như Sáng kiến Vành đai và con đường, Sáng kiến Phát triển toàn cầu, Sáng kiến An ninh Toàn cầu và Sáng kiến Văn minh toàn cầu.</em> <em>Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng các sáng kiến này không chỉ là cách để Trung Quốc thể hiện vai trò quốc tế, mà còn nhằm hỗ trợ thực hiện các ưu tiên về an ninh, đồng thời xây dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển. Thông qua việc phân tích Báo cáo Đại hội XX, chính sách và hành động cụ thể trong thời gian qua, bài viết làm rõ cách Trung Quốc định hình lại khái niệm và vai trò của hàng hóa công trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam nhằm nâng cao năng lực ứng phó và bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh chiến lược mới.</em></p> Nguyễn Thị Xiêm Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 115 123 ỨNG DỤNG GAMIFICATION TRONG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG XỬ LÍ TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON https://vjol.info.vn/otn/article/view/130876 <p><em>Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc trang bị cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non kỹ năng xử lý tình huống sư phạm hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, phương pháp đào tạo hiện nay còn hạn chế về mức độ tương tác, gây khó khăn trong việc hình thành và phát triển kỹ năng thực tiễn cho sinh viên. Gamification- phương pháp sư phạm hiện đại sử dụng các yếu tố và cơ chế trò chơi trong môi trường học tập, giúp tăng tính hứng thú, động lực và hiệu quả tiếp thu. Việc ứng dụng gamification trong rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống sư phạm mang lại cách tiếp cận sáng tạo, giúp sinh viên chủ động hơn trong học tập và trải nghiệm các tình huống gần với thực tiễn nghề nghiệp trong môi trường an toàn. Từ đó, phương pháp này nâng cao khả năng phản xạ, giải quyết vấn đề và ra quyết định sư phạm của sinh viên.&nbsp;</em><em>Bài viết phân tích cơ sở lý luận về gamification và kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, đồng thời đề xuất các hình thức vận dụng gamification trong đào tạo như trò chơi mô phỏng tình huống, ứng dụng công nghệ tương tác (Kahoot, Quizizz, Classcraft...), xây dựng hệ thống điểm thưởng và bảng xếp hạng. Ngoài ra, bài viết trình bày quy trình thiết kế hoạt động học tập có yếu tố gamification phù hợp với đặc thù sinh viên ngành Giáo dục Mầm non. Kết quả nghiên cứu cho thấy gamification không chỉ góp phần cải thiện chất lượng đào tạo mà còn tạo động lực học tập tích cực, giúp sinh viên phát triển tư duy sư phạm và nâng cao năng lực nghề nghiệp.</em></p> Nguyễn Thị Yến Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 124 131 NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN MẦM NON TRONG BỐI CẢNH ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH 2371/QĐ-TTG https://vjol.info.vn/otn/article/view/130877 <p><em>Trong bối cảnh triển khai Đề án "Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045", việc nâng cao năng lực và phương pháp giảng dạy tiếng Anh cho giáo viên trở thành nhiệm vụ cấp bách của hệ thống giáo dục. Bài viết trình bày cơ sở lý luận, cấu trúc, định hướng triển khai chương trình bồi dưỡng "Nâng cao năng lực và phương pháp giảng dạy tiếng Anh cho giáo viên mầm non" được Trường ĐH Thủ đô Hà Nội xây dựng và thực hiện. Chương trình được thiết kế dựa trên các lý thuyết giáo dục mầm non hiện đại (Piaget, Vygotsky), định hướng của UNESCO và OECD về ứng dụng công nghệ AI trong giáo dục một cách đạo đức và an toàn, nhằm phát triển ba nhóm năng lực cốt lõi: năng lực ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp, năng lực thiết kế học liệu và hoạt động lấy trẻ làm trung tâm, và năng lực ứng dụng AI để cá nhân hóa học tập. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế và phát triển chương trình đào tạo kết hợp khảo sát, phỏng vấn giáo viên và quan sát lớp học. Kết quả thí điểm cho thấy giáo viên sau khóa học có khả năng thiết kế kế hoạch dạy học linh hoạt, ứng dụng AI để tạo học liệu đa giác quan, và nhận thức rõ hơn về an toàn dữ liệu và đạo đức số. Bài viết đề xuất nhân rộng mô hình, xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực giáo viên, và phát triển ngân hàng học liệu mở phục vụ chương trình giáo dục mầm non toàn quốc.</em></p> Vương Thị Hải Yến Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 132 139 ỨNG DỤNG TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG THIẾT KẾ BÀI HỌC TIẾNG ANH THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ https://vjol.info.vn/otn/article/view/130878 <p>Nghiên cứu này tập trung phân tích vai trò và tiềm năng của trí tuệ nhân tạo trong việc hỗ trợ giáo viên thiết kế bài học tiếng Anh theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học cơ sở. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, việc tích hợp AI vào giáo dục không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp thiết yếu để nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Bài viết trình bày quy trình thiết kế bài học với AI theo 5 bước có hệ thống, từ việc xác định mục tiêu đến thử nghiệm và rút kinh nghiệm. Nghiên cứu cũng giới thiệu chi tiết các công cụ AI phổ biến như ChatGPT, Google Gemini và Claude AI, cùng với kỹ thuật viết prompt hiệu quả theo nguyên tắc CLEAR. Thông qua các ví dụ thực tế về thiết kế bài học cho các lớp 6, 7, 8 và 9, nghiên cứu chứng minh rằng AI có thể giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, đa dạng hóa phương pháp giảng dạy và cá nhân hóa nội dung học tập theo trình độ từng học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy AI đóng vai trò là công cụ hỗ trợ đắc lực, giúp giáo viên tập trung vào việc tương tác và quan tâm đến từng học sinh, đồng thời tích hợp cân đối bốn kỹ năng nghe-nói-đọc-viết trong bài học.</p> Nguyễn Trường Nam Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 140 144 QUYỀN GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM https://vjol.info.vn/otn/article/view/130879 <p><em>Quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản, phổ quát của con người và được pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia thừa nhận, bảo đảm thực hiện. Đối với trẻ em khuyết tật – nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục – việc bảo đảm quyền học tập không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn gắn liền với sự bình đẳng, công bằng và phát triển bền vững xã hội. Việt Nam đã xây dựng khung pháp luật khá chặt chẽ nhằm thừa nhận và đảm bảo thực hiện các quyền của trẻ em khuyết tật. Tuy nhiên, trên thực tiễn, việc thực hiện quyền giáo dục của nhóm đối tượng này vẫn còn hạn chế và gặp nhiều rào cản. Trên cơ sở nghiên cứu về pháp luật và làm rõ thực tiễn quyền giáo dục của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam, bài viết đưa ra một số kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật, bảo đảm quyền giáo dục tốt hơn cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.</em></p> Bùi Hồng Ngọc Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 145 154 CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG DẠY - HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ: YÊU CẦU CẤP THIẾT ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC https://vjol.info.vn/otn/article/view/130880 <p><em>Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số&nbsp; đã trở thành động lực cốt lõi thay đổi cấu trúc vận hành của giáo dục đại học. Bài viết tập trung phân tích thực trạng và xu hướng áp dụng công nghệ số trong hai khâu then chốt: </em><em>P</em><em>hương tiện dạy học và hoạt động kiểm tra đánh giá. Bằng phương pháp phân tích tổng hợp và so sánh, bài viết làm rõ sự chuyển dịch từ mô hình giáo dục truyền thống sang mô hình giáo dục thông minh, cá nhân hóa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc tích hợp các nền tảng LMS, công nghệ mô phỏng và </em><em>t</em><em>rí tuệ nhân tạo vào kiểm tra đánh giá không chỉ đảm bảo tính minh bạch, khách quan mà còn giúp đo lường chính xác năng lực thực tế của người học</em><em>. </em><em>Từ</em><em> đó</em><em>, tác giả đề xuất các giải pháp về chính sách và hạ tầng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu hội nhập.</em></p> Nguyễn Duy Thành Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 155 166 KHAI THÁC DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ VEN SÔNG TÔ LỊCH GÓP PHẦN GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO THẾ HỆ TRẺ HÀ NỘI (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LỄ HỘI ĐỀN ĐỒNG CỔ) https://vjol.info.vn/otn/article/view/130884 <p><em>Di sản văn hóa phi vật thể là một bộ phận quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nguồn lực đặc biệt trong giáo dục con người, nhất là giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay. Ven sông Tô Lịch - dòng sông gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội - tồn tại nhiều di sản văn hóa có giá trị, trong đó lễ hội đền Đồng Cổ là một trường hợp tiêu biểu. Bài viết tiếp cận lễ hội đền Đồng Cổ từ góc độ văn hóa - lịch sử - giáo dục, làm rõ giá trị của hội thề đền Đồng Cổ như một thiết chế giáo dục đạo đức truyền thống, đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của nội dung hội thề đối với việc hình thành và bồi dưỡng nhân cách cho học sinh, sinh viên Hà Nội. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể ven sông Tô Lịch nhằm góp phần giáo dục thế hệ trẻ trong điều kiện xã hội đương đại.<sup>³</sup></em></p> Lê Thị Thu Hương Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104 167 176 QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ANH THEO CHUẨN QUỐC TẾ TẠI HỆ THỐNG TRUNG TÂM TIẾNG ANH IELTS 9.0 VIỆT NAM https://vjol.info.vn/otn/article/view/130885 <p><em>Ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học tiếng Anh đã trở thành xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục toàn cầu. CNTT không chỉ hỗ trợ GV truyền đạt kiến thức mà còn góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao hiệu quả học tập và mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho người học. Các nghiên cứu quốc tế gần đây đều khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh. Hệ thống đào tạo IELTS 9.0 Việt Nam là một trong những mô hình đào tạo tiếng Anh học thuật theo chuẩn quốc tế phát triển nhanh và có ảnh hưởng lớn tại Việt Nam trong những năm gần đây. Được chuyển giao từ Philippines và chính thức có mặt tại Việt Nam từ năm 2018, IELTS 9.0 kế thừa mô hình đào tạo đã được kiểm chứng tại hơn 40 cơ sở ở Philippines và nhanh chóng mở rộng lên hơn 10 cơ sở tại Việt Nam. Bài viết không đề cập đến thực trạng của vấn đề nghiên cứu mà tập trung tổng hợp, khái quát các nội dung về lý luận như: 1) Các khái niệm của bài viết; 2) Nội dung ứng dụng CNTT trong dạy học tiếng Anh theo chuẩn quốc tế tại hệ thống trung tâm tiếng Anh IELTS 9.0 Việt Nam; 3) Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tiếng Anh theo chuẩn quốc tế tại hệ thống trung tâm tiếng Anh IELTS 9.0 Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động này tại hệ thống trung tâm tiếng Anh IELTS 9.0 Việt Nam.</em></p> Trần Thị Minh Hiếu Bản quyền (c) 2026-01-29 2026-01-29 104