https://vjol.info.vn/pnt/issue/feed Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch 2026-01-30T03:33:14+07:00 Nguyễn Thanh Hiệp nguyenthanhhiep@pnt.edu.vn Open Journal Systems <p><strong>Tạp chí của Trường Đại học Y Dược Phạm Ngọc Thạch</strong></p> https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128007 Mục lục tập 5 (số 1) 2026-01-26T11:22:21+07:00 Y dược PNT tapchiyduoc@pnt.edu.vn <p>Mục lục tập 5 (số 1)</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128008 Chứng cứ mới về thuốc ức chế SGLT2 trong điều trị bệnh nhân gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa và đái tháo đường típ 2 2026-01-30T02:50:00+07:00 Lê Tuyết Hoa letuyethoa@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Bệnh gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa (MASLD) đang trở thành vấn đề sức khỏe toàn cầu nhất là ở người đái tháo đường típ 2. Vì vậy cần có thuốc kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa được tiến triển của bệnh lý gan thứ phát do MASLD. Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển (sodium-glucose cotransporter-2 inhibitors, SGLT2-i) là thuốc hạ đường an toàn có triển vọng đáp ứng được mục tiêu này nhờ những lợi ích đa chiều trên chuyển hóa-tim mạch-thận. Ngày càng có thêm nhiều dữ liệu cho thấy SGLT2-i giảm được lượng mỡ trong gan và tình trạng xơ hóa gan trong bệnh MASLD, cũng như ít chứng cứ chưa đồng nhất về lợi ích của thuốc trên người xơ gan. Bài viết trình bày kết quả của các nghiên cứu lâm sàng gần đây đánh giá ảnh hưởng của SGLT2-i trên tiến triển và kết cục của bệnh gan ở người đái tháo đường típ 2 có MASLD.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Metabolic dysfunction-associated steatotic liver disease has become a significant global health concern, particularly in patients with type 2 diabetes. Thus, there is a clear need for metabolism-based treatment that can reduce blood glucose levels and prevent the progression of liver disease secondary to MASLD. Sodium-glucose cotransporter-2 inhibitors (SGLT2-i) are now recognized as a safe, promising therapeutic option due to the multimodal effects on metabolic-cardiovascular-renal disease. Emerging data suggest that SGLT2-i may reduce hepatic fat content and fibrosis in MASLD, as well as rare and conflicting data on the effect on liver cirrhosis. The article presents the findings of mostly recent clinical trials evaluating the risk of developing cirrhosis and other major adverse liver-related outcomes.</p> <p>&nbsp;</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.1</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128009 Vai trò của nội soi dải ánh sáng hẹp trong chẩn đoán và theo dõi ung thư hạ hầu – thanh quản 2026-01-30T02:51:39+07:00 Nguyễn Công Huyền Tôn Nữ Cẩm Tú, Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Bảo Trân, Lê Trần Quang Minh drnguyencamtu@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Nội soi dải ánh sáng hẹp (NBI) là một công cụ chẩn đoán quan trọng trong ung thư hạ hầu - thanh quản, nhóm bệnh lý mà việc chẩn đoán sớm có ý nghĩa quyết định đến tiên lượng. Kỹ thuật này hoạt động dựa trên nguyên lý quang học, sử dụng các dải ánh sáng hẹp để tăng cường độ tương phản của hệ thống vi mạch máu dưới niêm mạc, cho phép phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư và ung thư thông qua các bất thường mạch máu. NBI đã được chứng minh có độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong việc phân biệt các tổn thương lành tính và ác tính, đặc biệt khi áp dụng các hệ thống phân loại chuyên biệt như Ni và ELS. Trên thực tế lâm sàng, NBI hỗ trợ đắc lực cho phẫu thuật viên trong việc xác định ranh giới khối u, giúp giảm tỷ lệ rìa cắt dương tính và nguy cơ tái phát sau phẫu thuật. Thêm vào đó, NBI còn cho thấy hiệu quả cao trong việc phát hiện các khối u còn sót lại hoặc tái phát sớm sau điều trị. Nhìn chung, NBI là một công cụ lâm sàng đầy hứa hẹn, góp phần cải thiện đáng kể hiệu quả chẩn đoán, điều trị và theo dõi bệnh nhân ung thư hạ hầu - thanh quản.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Narrow band imaging (NBI) is an important diagnostic tool for hypopharyngeal and laryngeal cancer, a group of diseases where early diagnosis is crucial for prognosis. The technique operates on an optical principle, using narrow-band light to enhance the contrast of the mucosal microvasculature. This allows for the early detection of precancerous and cancerous lesions by highlighting abnormal vascular patterns. NBI has demonstrated high sensitivity and specificity in differentiating between benign and malignant lesions, particularly when applying specific classification systems such as the Ni and European Laryngological Society (ELS) classifications. In clinical practice, NBI provides powerful support to surgeons by helping to define tumor margins, which reduces the rate of positive resection margins and the risk of post-surgical recurrence. Furthermore, NBI has also shown high efficacy in detecting residual or recurrent tumors after treatment. Overall, NBI is a promising clinical tool that significantly contributes to improving the diagnosis, treatment, and follow-up of patients with hypopharyngeal and laryngeal cancer.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.2</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128011 Vai trò của tập cơ sàn chậu trong phục hồi chức năng sàn chậu – Bằng chứng và kinh nghiệm lâm sàng 2026-01-30T02:54:15+07:00 Huỳnh Thuý Lan drlan.bvhv@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Rối loạn chức năng sàn chậu (Pelvic Floor Dysfunction – PFD) là nhóm bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất, tâm lý và tình dục của phụ nữ. Bài tập cơ sàn chậu (Pelvic Floor Muscle Training – PFMT) là một phương pháp điều trị bảo tồn, an toàn, không xâm lấn và chi phí thấp. Bài viết này nhằm tổng hợp bằng chứng hiện có về hiệu quả của PFMT và chia sẻ kinh nghiệm triển khai thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Hùng Vương.<br>&nbsp; &nbsp;Nội dung tổng quan: Bài tổng quan tường thuật kết hợp các nghiên cứu quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn từ Đơn vị Sàn chậu – Bệnh viện Hùng Vương. Hiện nay, bài tập PFMT không có quy tắc cố định mà được thiết kế linh hoạt theo các quy tắc 3 bước cơ bản gồm: (1) xác định các cơ thích hợp để dừng hoặc làm chậm quá trình tiểu tiện, (2) co các cơ như đã đề cập trước đó một cách chính xác và (3) lặp lại chu kỳ nhiều lần. PFMT giúp cải thiện rõ rệt sức mạnh cơ sàn chậu, kiểm soát tiểu tiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Dữ liệu tại Bệnh viện Hùng Vương ghi nhận trên 70% bệnh nhân cải thiện triệu chứng và hài lòng sau 12 tuần tập luyện được hướng dẫn trực tiếp. Tuân thủ PFMT là thách thức đối với hiệu quả phục hồi sàn chậu. Các tổng quan hệ thống đã cho thấy ứng dụng di động PFMT giúp tăng sự tuân thủ và hiệu quả điều trị.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Cần tích hợp PFMT như một phần thường quy trong chăm sóc phụ khoa để cải thiện sức khỏe sàn chậu cho phụ nữ Việt Nam. Việc chuẩn hóa quy trình tập luyện, tăng cường hướng dẫn bệnh nhân và ứng dụng công nghệ số sẽ giúp nâng cao hiệu quả và tuân thủ lâu dài.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Introduction: Pelvic Floor Dysfunction (PFD) is a prevalent condition that significantly affects women’s physical, psychological, and sexual health. Pelvic Floor Muscle Training (PFMT), first described by Arnold Kegel in 1948, is a safe, non-invasive, and cost-effective conservative therapy. This review aims to summarize current evidence on the effectiveness of PFMT and its implementation in clinical practice, particularly at Hung Vuong Hospital.<br>&nbsp; &nbsp;Review: A narrative review was conducted combining international literature with clinical experience from the Pelvic Floor Unit, Hung Vuong Hospital. Currently, PFMT do not have fixed rules but are flexibly designed according to the basic 3-step rules including: (1) identify the appropriate muscles to stop or slow down the urination process, (2) contract the muscles as mentioned earlier correctly and (3) repeat the cycle many times. PFMT significantly improves pelvic floor strength, urinary continence, and quality of life. Local data from Hung Vuong Hospital demonstrate &gt; 70% symptom improvement and high patient satisfaction after 12 weeks of guided PFMT. Adherence to PFMT is a challenge for effective pelvic floor rehabilitation. Systematic reviews have shown that PFMT mobile applications increase adherence and treatment effectiveness.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: Integration of PFMT into routine gynecologic care should be prioritized to improve women’s pelvic health in Vietnam. Standardized training protocols, patient education, and digital health tools can enhance adherence and outcomes.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.3</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128012 Pessary trong điều trị sa tạng chậu – Tổng quan và ứng dụng lâm sàng 2026-01-30T02:56:45+07:00 Mai Thị Phương drmaiphuong2012@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Sa tạng chậu (Pelvic Organ Prolapse – POP) là bệnh lý phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt sau sinh và giai đoạn mãn kinh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống. Trong nhiều trường hợp, phẫu thuật không phải là lựa chọn tối ưu do tuổi cao, bệnh nội khoa kèm theo hoặc mong muốn bảo tồn khả năng sinh sản. Pessary là phương pháp điều trị bảo tồn hiệu quả, ít xâm lấn, chi phí thấp và dễ triển khai tại các cơ sở y tế. Bài viết này tổng quan các bằng chứng hiện có trong và ngoài nước về hiệu quả, chỉ định, chống chỉ định, phân loại, quy trình theo dõi và xử trí biến chứng khi sử dụng pessary, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm thực hành tại Đơn vị Sàn chậu – Bệnh viện Hùng Vương. Nhiều nghiên cứu cho thấy pessary giúp cải thiện rõ rệt các triệu chứng của sa tạng chậu như cảm giác nặng vùng chậu, són tiểu, rối loạn tiểu tiện và đại tiện, với tỷ lệ thành công cao ở nhóm bệnh nhân chưa sẵn sàng hoặc không đủ điều kiện phẫu thuật. Các biến chứng thường gặp như tăng tiết dịch, viêm hoặc loét âm đạo đều có thể kiểm soát bằng chăm sóc và theo dõi định kỳ. Mô hình tự quản lý pessary (tự tháo, vệ sinh và đặt lại) được chứng minh an toàn, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm tần suất tái khám. Pessary vì vậy là lựa chọn điều trị an toàn, hiệu quả, phù hợp trong quản lý sa tạng chậu và nên được khuyến khích áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng phụ khoa tại Việt Nam.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Pelvic Organ Prolapse (POP) is a common condition among women, especially after childbirth and menopause, significantly affecting quality of life. In many cases, surgery is not an optimal option due to advanced age, comorbidities, or the desire to preserve fertility. Vaginal pessary represents an effective, low-cost, and minimally invasive conservative treatment suitable for various healthcare levels. This article reviews current national and international evidence on the effectiveness, indications, contraindications, classification, follow-up, and complication management of pessary use, alongside clinical experience from the Pelvic Floor Unit, Hung Vuong Hospital. Studies have demonstrated that pessary therapy markedly improves POP-related symptoms such as pelvic heaviness, urinary incontinence, and bowel or bladder dysfunction, with high success rates among patients unfit or unwilling for surgery. Common complications including vaginal discharge, irritation, or ulceration are generally mild and manageable with proper hygiene and regular follow-up. The self-management model, allowing women to remove, clean, and reinsert pessaries independently, has been shown to be safe and cost-effective while maintaining quality of life. Therefore, pessary use should be recognized as a safe, effective, and accessible conservative treatment for pelvic organ prolapse and encouraged for broader clinical adoption in women’s health care</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.4</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128013 Ảnh hưởng của học thuyết Âm Dương trong tác phẩm Kinh Dịch đối với y học cổ truyền Việt Nam 2026-01-30T02:57:38+07:00 Phạm Ngọc Khôi, Nguyễn Lê Đức Duy duynld@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Học thuyết Âm Dương, hình thành từ vũ trụ quan cổ đại phương Đông, đặc biệt được khái quát trong <em>Kinh Dịch</em>, đã trở thành nền tảng triết lý không chỉ của triết học mà còn của y học cổ truyền. Nghiên cứu này trình bày sự phát triển của học thuyết Âm Dương trong <em>Kinh Dịch</em> và phân tích ảnh hưởng của nguyên lý âm dương đối với quá trình hình thành lý luận, phương pháp chẩn trị, dưỡng sinh và phòng bệnh trong y học cổ truyền Việt Nam. Thông qua việc đối chiếu hai tư liệu kinh điển của y học cổ truyền là <em>Kinh Dịch</em> và <em>Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn</em>, cùng với quan điểm của hai danh y tiêu biểu là Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông, bài viết chỉ ra sự tiếp nhận và nội địa hóa học thuyết này trong bối cảnh y học Việt Nam.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;The Yin-Yang doctrine, formed from the ancient Eastern cosmology, especially summarized in the <em>I Ching</em> (Book of Changes), has become a foundational philosophy not only of philosophy but also of traditional medicine. This study presents the development of the Yin-Yang doctrine in the <em>I Ching</em> and analyzes the influence of the yin-yang principle on the formation of theory, diagnostic and treatment methods, health preservation practices and disease prevention in Vietnamese traditional medicine. Through the comparison of two classic texts of traditional medicine, the <em>I Ching </em>and the <em>Huangdi Neijing Suwen</em>, along with the viewpoints of two typical famous physicians, Tue Tinh and Hai Thuong Lan Ong, the article points out the reception and localization of this doctrine within the context of Vietnamese medicine.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.5</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128015 Stress của người bệnh trước phẫu thuật chương trình tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ Sở 2 2026-01-30T02:58:36+07:00 Đoàn Minh Nhựt, Nguyễn Yến Phượng, Trần Minh Thái doanminhnhut@ump.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Stress trước phẫu thuật là một phản ứng tâm lý thường gặp, có thể ảnh hưởng đến huyết động, đáp ứng với thuốc mê và kết quả hồi phục sau mổ. Việc nhận diện stress và các yếu tố liên quan giúp cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ stress và các yếu tố liên quan ở người bệnh trước phẫu thuật chương trình.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích, thực hiện trên 205 người bệnh có chỉ định phẫu thuật chương trình tại khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM – Cơ sở 2, trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2025. Công cụ thu thập dữ liệu là bảng câu hỏi tự điền bao gồm các đặc điểm cá nhân và thang đo DASS-21 để đánh giá mức độ stress. Người bệnh được phỏng vấn và hoàn thành bảng hỏi khi vào phòng tiền mê (sau khi được bác sĩ gây mê khám và giải thích).<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỷ lệ người bệnh có stress trước phẫu thuật chương trình là 4,39%, trong đó stress nhẹ chiếm 2,93%, vừa chiếm 1,46%. Stress liên quan đáng kể đến giới tính nữ (p=0,005) và số lần phẫu thuật trước đó từ 3 lần trở lên. (p=0,007).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tuy tỷ lệ stress trước mổ không cao, nhưng cần sàng lọc các nhóm có nguy cơ như nữ giới và người bệnh từng phẫu thuật từ 3 lần trở lên để có biện pháp can thiệp tâm lý phù hợp.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background/Objectives: Preoperative stress is a common psychological response that may affect hemodynamic stability, anesthetic drug response, and postoperative recovery. Identifying stress and associated factors can contribute to improving the quality of patient care. This study aimed to determine the prevalence of preoperative stress and its related factors among patients undergoing elective surgery.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 205 patients scheduled for elective surgery at the Department of Anesthesiology and Recovery, University Medical Center Ho Chi Minh City – Campus 2, from March to May 2025. Data were collected using a self-administered questionnaire including demographic characteristics and the DASS-21 scale to assess stress levels. Patients were interviewed and completed the questionnaire in the pre-anesthesia room, after receiving consultation and explanation from the anesthesiologist.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The prevalence of preoperative stress was 4.39%, with mild stress accounting for 2.93% and moderate stress 1.46%. Stress was significantly associated with female gender (p = 0.005) and having undergone three or more previous surgeries (p = 0.007).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Although the overall prevalence of preoperative stress was low, targeted screening is warranted for high-risk groups, particularly female patients and those with a history of three or more prior surgeries, to enable appropriate psychological interventions.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.6</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128016 Kiến thức về điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) ở sinh viên năm cuối Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2024 2026-01-30T02:59:11+07:00 Dương Thị Anh Đào, Nguyễn Thị Ngọc Trinh, Lê Mỹ Huyền, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Thiện Minh, Đỗ Thị Lan Anh anhdtl@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: PrEP (Pre-Exposure Prophylaxis) điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (Human Immuno-deficiency Virus) là một phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa nhiễm HIV được Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo sử dụng cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao, tuy không thay thế vắc xin nhưng giúp giảm đến 90% nguy cơ lây nhiễm. Số ca nhiễm tăng nhanh trong nhóm học sinh, sinh viên (SV) (15-24 tuổi), nguyên nhân chủ yếu là do quan hệ tình dục không an toàn. Vì vậy, SV cần bổ sung kiến thức về HIV, PrEP để phòng ngừa lây nhiễm HIV.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Nhằm xác định tỷ lệ kiến thức đúng về điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (PrEP) ở sinh viên năm cuối Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2024.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 495 sinh viên năm cuối của Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch từ tháng 11/2023 đến tháng 6/2024. Sử dụng bộ câu hỏi tham khảo từ bộ câu hỏi của tác giả Bunting và cộng sự (2021). Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS Statistics 20. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với chọn mẫu thuận tiện.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: 17,8% sinh viên có kiến thức đúng về PrEP. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa ngành học, xu hướng tình dục, sinh viên đã từng nghe về PrEP, Nguồn thông tin tìm kiếm về PrEP thông qua Sách và mục Khác (Hội thảo, bài giảng, buổi truyền thông tại trường, …) với kiến thức về điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV (p &lt; 0,05).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về PrEP còn thấp. Cần có những giải pháp tác động vào kiến thức của SV như: thực hiện những buổi tọa đàm, hội thảo về HIV/AIDS, PrEP. Lồng ghép kiến thức về PrEP vào chương trình giảng dạy, tổ chức các tuổi tư vấn trực tuyến, truyền thông qua mạng xã hội bằng trang nhóm, video ngắn hấp dẫn nhằm nâng cao kiến thức về HIV/AIDS, PrEP làm giảm thiểu các ca nhiễm HIV trên SV tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung. Từ đó góp phần đẩy lùi đại dịch toàn cầu.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: PrEP (Pre-Exposure Prophylaxis) for HIV (Human Immunodeficiency Virus) is an effective method of preventing HIV infection, recommended by the World Health Organization (WHO) for individuals at high risk. Although it does not replace a vaccine, it can reduce the risk of infection by up to 90%. The number of infections is rapidly increasing among students (15–24 years old), mainly due to unsafe sexual practices. Therefore, students need to enhance their knowledge about HIV and PrEP to prevent HIV infection<br>&nbsp; &nbsp;Objective: To determine the rate of accurate knowledge regarding pre-exposure prophylaxis (PrEP) for HIV among final-year students at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2024.<br>&nbsp; &nbsp;Subjects and Methods: A cross-sectional study was conducted on 495 final-year students at Pham Ngoc Thach University of Medicine from November 2023 to June 2024. A questionnaire adapted from the one by Bunting et al. (2021) was used. Data were processed using SPSS Statistics 20 software. Stratified sampling combined with convenience sampling was employed.<br>&nbsp; &nbsp;Results: 17.8% of students had accurate knowledge about PrEP. The study found associations between students' field of study, sexual orientation, whether they had heard about PrEP, and sources of information about PrEP (such as books and other sources like seminars, lectures, and school-based awareness programs) with knowledge about PrEP (p &lt; 0,05).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The percentage of students with accurate knowledge about PrEP is low. Therefore, solutions are needed to improve students' knowledge. These could include organizing seminars and workshops on HIV/AIDS and PrEP, integrating PrEP into the curriculum, and providing online counseling sessions. We can also use social media channels, group pages, and engaging short videos to communicate information, thereby raising awareness of HIV/AIDS and PrEP. This will help reduce new HIV cases among students in Ho Chi Minh City specifically and in Vietnam in general, contributing to the global fight against the pandemic.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.7</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128017 Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Điều dưỡng đa khoa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 2026-01-30T02:59:54+07:00 An Thị Thuý Diệu, Lê Thị Mỹ Ly, Vũ Thị Ngọc Ánh andieu0908@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ giấc ngủ kém của sinh viên các trường đại học y khá cao, dao động từ 64,24% - 75,8% [1]. Ở Việt Nam, theo dữ liệu nghiên cứu của Đại học Y Dược TP HCM thì có tới 59,1% sinh viên có giấc ngủ kém [2], còn Đại học Y Dược Huế thì cũng có con số thống kê khá cao là 49,1% [3]. Đây là điều đáng báo động, là sinh viên thuộc khối ngành Sức khoẻ, việc chất lượng giấc ngủ kém sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ, ngoài ra kết quả học tập cũng bị sa sút, từ đó dẫn đến các vấn đề sức khoẻ nguy hiểm khác như: trầm cảm, stress, lo âu,... Do đó nghiên cứu nhằm đánh giá về tình trạng chất lượng giấc ngủ của sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng và sự ảnh hưởng đến kết quả học tập, từ đó giúp xác định tỷ lệ của vấn đề nhằm đưa ra giải pháp phù hợp, nhất là với sinh viên Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch – ngôi trường đào tạo ra những bác sĩ, nhân viên y tế trọng điểm của Thành phố Hồ Chí Minh.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 SV CNĐD Đa khoa chính quy năm 1 khoá 2024, 142 SV năm 2 khoá 2023, 107 SV năm 3 khoá 2022 và 45 SV năm 4 khoá 2021 Trường ĐH YK PNT năm 2024.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỷ lệ sinh viên Điều dưỡng đa khoa có chất lượng giấc ngủ kém là 47,5%. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: năm học, sử dụng chất kích thích, áp lực học tập, bạn bè, gia đình và sức khỏe tâm thần (trầm cảm – lo âu – căng thẳng).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỷ lệ SV CNĐD Đa khoa chính quy có chất lượng giấc ngủ kém là 47,5% thấp hơn tỷ lệ SV CNĐD Đa khoa chính quy có chất lượng giấc ngủ tốt là 52,5%. Các yếu tố như năm học, sử dụng chất kích thích trước khi ngủ, các áp lực về học tập, bạn bè, gia đình, các yếu tố trầm cảm – lo âu – căng thẳng đều có ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ.</p> <p>Abstract</p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Studies worldwide have shown that the prevalence of poor sleep quality among medical university students is considerably high, ranging from 64.24% to 75.8% [1]. In Vietnam, research data from the University of Medicine and Pharmacy at Ho Chi Minh City revealed that up to 59.1% of students experienced poor sleep quality [2], while the figure at Hue University of Medicine and Pharmacy was also relatively high at 49.1% [3]. This is an alarming issue. As students in the health sciences field, poor sleep quality not only affects their physical well-being but also leads to a decline in academic performance, which in turn may contribute to other serious health problems such as depression, stress, and anxiety. Therefore, this study aims to assess the sleep quality of nursing students and its impact on academic outcomes, thereby determining the prevalence of this issue and proposing appropriate solutions, particularly for students at Pham Ngoc Thach University of Medicine — a key institution training physicians and healthcare professionals for Ho Chi Minh City.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on 127 first-year general nursing students (cohort 2024), 142 second-year students (cohort 2023), 107 third-year students (cohort 2022), and 45 fourth-year students (cohort 2021) at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2024.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The proportions of general nursing students reporting pressure before examinations, pressure from academic performance, competition with classmates, and family expectations were 77.7%, 76.0%, 26.4%, and 46.6%, respectively, while 34.2% reported using stimulants before sleep. The prevalence of depressive symptoms among general nursing students was relatively high at 48.2%, with severity levels distributed as follows: 20.7% mild, 20.7% moderate, 4.3% severe, and 2.6% extremely severe. The prevalence of anxiety symptoms was 74.3%, with severity levels of 10.5% mild, 29.7% moderate, 17.6% severe, and 16.6% extremely severe. Stress symptoms were also relatively high at 49.6%, including 16.2% mild, 17.6% moderate, 11.9% severe, and 4.0% extremely severe.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: The prevalence of poor sleep quality among general nursing students was 47.5%, which was lower than the prevalence of good sleep quality at 52.5%. Factors such as academic year, stimulant use before sleep, academic, peer, and family pressures, as well as depression, anxiety, and stress, were all found to affect sleep quality.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.8</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128018 Nghiên cứu đặc điểm cắt lớp vi tính trong đánh giá xâm lấn màng phổi tạng ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ 2026-01-30T03:00:34+07:00 Lữ Mỹ Phụng, Trần Các Hùng Dũng, Âu Dương Mỹ Vân, Nguyễn Vũ Minh drmyphung2303@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Ung thư phổi không tế bào nhỏ chiếm khoảng 88,5% các trường hợp ung thư phổi nguyên phát và là nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư trên phạm vi toàn cầu. Việc phân giai đoạn ung thư theo hệ thống TNM ảnh hưởng đến chẩn đoán, kế hoạch điều trị và tiên lượng bệnh. Xâm lấn màng phổi tạng là một trong những yếu tố quan trọng trong hệ thống phân loại TNM phiên bản thứ tám, đồng thời đã được công nhận là một chỉ số quan trọng trong tiên lượng ở bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Vì vậy, đánh giá xâm lấn màng phổi tạng trước phẫu thuật là quan trọng để xác định chiến lược điều trị cho bệnh nhân. Cắt lớp vi tính là phương tiện hình ảnh học giúp sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư phổi, một số đặc điểm trên cắt lớp vi tính gợi ý xâm lấn màng phổi tạng, đồng thời đánh giá được khá chính xác các giai đoạn phát triển của bệnh.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh xâm lấn màng phổi tạng trên cắt lớp vi tính ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ và xác định mối tương quan của đặc điểm này với kết quả phẫu thuật.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu hồi cứu, mô tả cắt ngang gồm 83 trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ, trong đó 37 trường hợp không có xâm lấn màng phổi và 46 trường hợp có xâm lấn màng phổi dựa trên kết quả phẫu thuật và giải phẫu bệnh, được chụp cắt lớp vi tính trước khi phẫu thuật cắt u phổi từ tháng 01/2022 đến hết tháng 04/2025, tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Trong 83 trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ, có 79 nốt đặc và 4 nốt bán đặc. Có 46 nốt tiếp giáp màng phổi và 37 nốt kèm đuôi màng phổi. Xâm lấn màng phổi tạng thường gặp hơn ở nốt tiếp giáp màng phổi so với nốt kèm đuôi màng phổi (73,9% so với 26,1%, p &lt; 0,001). Trong phân tích đơn biến, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u (OR = 1,03; KTC 95%: 1,0002 – 1,07; p = 0,049), chiều dài tiếp xúc màng phổi dài nhất của khối u (OR = 1,07; KTC 95%: 1,01 – 1,14; p = 0,028), tỷ lệ chiều dài tiếp xúc màng phổi trên kích thước (OR = 1,05; KTC 95%: 1,01 – 1,09; p = 0,01), dấu hiệu con sứa (OR = 48,33; KTC 95%: 4,15 – 562,42; p = 0,002) là các yếu tố tiên lượng cho xâm lấn màng phổi tạng. Trong phân tích đa biến, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u (OR = 1,09; KTC 95%: 1,003 – 1,18; p = 0,042), dấu hiệu con sứa (OR = 22,83; KTC 95%: 2,32 – 224,29; p = 0,007), dấu hiệu đa dải màng phổi (OR = 9,32; KTC 95%: 1,15 – 75,90; p = 0,037) là các yếu tố tiên lượng độc lập cho xâm lấn màng phổi tạng.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ, các dấu hiệu trên cắt lớp vi tính giúp đánh giá xâm lấn màng phổi tạng là dấu hiệu con sứa, diện tích bề mặt tiếp xúc của khối u, chiều dài tiếp xúc màng phổi dài nhất của khối u, tỷ lệ chiều dài tiếp xúc màng phổi trên kích thước (đối với nốt tiếp giáp màng phổi), và dấu hiệu đa dải màng phổi (đối với nốt kèm đuôi màng phổi).&nbsp;</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Non-small cell lung cancer (NSCLC) accounts for approximately 88.5% of primary lung cancers and is the leading cause of cancer-related mortality worldwide. The staging of cancer according to the TNM system influences diagnosis, treatment planning, and prognosis. Visceral pleural invasion is one of the important factors in the eighth edition of the TNM classification system, and it has also been recognized as a critical prognostic indicator in patients with non-small cell lung cancer. Therefore, preoperative evaluation of visceral pleural invasion is essential for determining the treatment strategy for patients. Computed tomography is an imaging modality that facilitates screening and early diagnosis of lung cancer. Certain features observed on CT suggest visceral pleural invasion and allow reasonably accurate assessment of the disease stages.<br>&nbsp; &nbsp;Objectives: Describe the CT imaging features of visceral pleural invasion in patients with non-small cell lung cancer and determine the correlation of these features with surgical outcomes.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A retrospective cross-sectional study. We performed a review of 83 patients with NSCLC, including 37 cases without VPI and 46 cases with VPI, confirmed by surgical and histopathological report. These patients had computed tomography before lobectomy from January 2022 to April 2025, at Ho Chi Minh City Oncology Hospital.<br>&nbsp; &nbsp;Results: In 83 cases of NSCLC, there were 79 solid nodules and 4 subsolid nodules. There were 46 pleural-attached nodules and 37 pleural-tag nodules. VPI was significantly more frequent in pleural-attached nodules than in pleural-tag nodules (73.9% vs. 26.1%, p &lt; 0.001). In univariate analysis, contact surface area (OR = 1.03; 95% CI: 1.0002–1.07; p = 0.049), the longest pleural contact length (OR = 1.07; 95% CI: 1.01–1.14; p = 0.028), contact length–to-size ratio (OR = 1.05; 95% CI: 1.01–1.09; p = 0.01), and jellyfish sign (OR = 48.33; 95% CI: 4.15–562.42; p = 0.002) were prognostic factors for VPI. In multivariate analysis, contact surface area (OR = 1.09; 95% CI: 1.003–1.18; p = 0.042), jellyfish sign (OR = 22.83; 95% CI: 2.32–224.29; p = 0.007), and multiple pleural tags sign (OR = 9.32; 95% CI: 1.15–75.90; p = 0.037) were independent prognostic factors for VPI.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: For patients with NSCLC, CT predictors of VPI were the jellyfish sign, contact surface area, the longest pleural contact length, contact length–to-size ratio (pleural-attached nodules), and multiple pleural tags to different pleura surfaces (pleural-tag nodules).</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.9</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128019 Kiến thức về tự xét nghiệm HIV (HIV self-testing) ở sinh viên năm cuối Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 2026-01-30T03:01:22+07:00 Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Thị Ngọc Trinh, Nguyễn Ngọc Tuyền, Dương Thị Anh Đào, Nguyễn Thiện Minh, Đỗ Thị Lan Anh anhdtl@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Tự xét nghiệm HIV (HIV self-testing hay HIVST) là một trong những chiến lược mới và quan trọng trong việc phát hiện sớm những ca mắc mới một cách tiện lợi, bảo mật và an toàn. Theo Bộ Y tế những ca mắc mới chủ yếu ở những đối tượng từ 16-29 tuổi chiếm 48,6%. Chính vì thế, việc tác động đến sinh viên về vấn đề kiến thức tự xét nghiệm HIV rất quan trọng.&nbsp;&nbsp;<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định tỷ lệ sinh viên năm cuối Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch có kiến thức đúng về tự xét nghiệm HIV (HIVST).<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp: Đây là nghiên cứu cắt ngang khảo sát trên 495 sinh viên năm cuối Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2024. Kiến thức và thái độ về tự xét nghiệm HIV được đánh giá thông qua bảng câu hỏi cấu trúc tự điền Google Form. Các yếu tố liên quan đến có kiến thức đúng về tự xét nghiệm HIV được xác định thông qua phân tích hồi quy logistic.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: 25% sinh viên có kiến thức đúng về tự xét nghiệm HIV. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa xu hướng tình dục và nơi nào nhận/mua bộ kit tự xét nghiệm HIV (Trang web của Bộ Y tế và Cục Phòng, chống HIV/AIDS nơi nhận/mua bộ kit tự xét nghiệm HIV.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỷ lệ sinh viên tham gia có kiến thức đúng về tự xét nghiệm HIV là 24,7% và tỷ lệ sinh viên có kiến thức chưa đúng về tự xét nghiệm HIV là 75,3%. Tỷ lệ kiến thức đúng về tự xét nghiệm HIV ở sinh viên năm cuối còn thấp. Bên cạnh đó, cần có những chương trình truyền thông giáo dục sức khoẻ cho sinh viên năm cuối ở khối ngành y khoa trước khi đi thực tập lâm sàng để có kiến thức phòng ngừa HIV/AIDS.</p> <p><strong>Abstract&nbsp;</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: HIV self-testing (HIVST) is one of the new and important strategies for the early detection of new cases in a convenient, confidential, and safe manner. According to the Ministry of Health, new cases primarily occur in individuals aged 16–29, accounting for 48.6%. Therefore, it is crucial to influence students regarding knowledge of HIV self-testing.<br>&nbsp; &nbsp;Objective: To determine the proportion of final-year students at Pham Ngoc Thach University of Medicine who have correct knowledge about HIV self-testing (HIVST).<br>&nbsp; &nbsp;Methods: This was a cross-sectional study surveying 495 final-year students at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2024. Knowledge and attitude regarding HIV self-testing were assessed via a structured, self-administered Google Form questionnaire. Factors associated with having correct knowledge about HIV self-testing were identified through logistic regression analysis.<br>&nbsp; &nbsp;Results: 25% of students had correct knowledge about HIV self-testing. The study found a correlation between sexual orientation and where to receive/purchase an HIV self-testing kit (Ministry of Health and Vietnam Administration of HIV/AIDS Control websites as the place to receive/purchase the HIV self-testing kit).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The proportion of participating students with correct knowledge about HIV self-testing was 24.7%, and the proportion of students with incorrect knowledge about HIV self-testing was 75.3%. The rate of correct knowledge about HIV self-testing among final-year students remains low. In addition, health education communication programs are needed for final-year students in the medical field before their clinical internships to equip them with knowledge for HIV/AIDS prevention.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.10</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128063 Khảo sát đặc điểm hình thái xương cùng cụt của người Việt Nam trưởng thành bằng chụp cắt lớp vi tính 2026-01-30T03:01:58+07:00 Thái Ngọc Diễm Thúy, Đặng Ngọc Thạch thaingocdiemthuy@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Xương cùng cụt có vai trò quan trọng trong chịu lực khi ở tư thế ngồi, đặc biệt khi ngả người ra sau. Đau vùng xương cụt là tình trạng khá phổ biến (trong đó gần một phần ba trường hợp không rõ nguyên nhân) tuy nhiên hiện nay vẫn ít được quan tâm trong chẩn đoán và điều trị. Nhận thấy việc hiểu rõ về giải phẫu vùng cùng cụt có ý nghĩa góp phần trong chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị đau vùng xương cụt vô căn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với hai mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm hình thái xương cùng cụt của người Việt Nam trưởng thành trên hình chụp cắt lớp vi tính, (2) Phân tích mối liên quan giữa đặc điểm hình thái xương cùng cụt với tuổi và giới tính.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, hồi cứu hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) vùng bụng chậu của 696 bệnh nhân trưởng thành tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hồ Chí Minh từ 01/12/2024 đến 28/02/2025. Các đặc điểm hình thái vùng cùng cụt được ghi nhận bao gồm: Nhóm xương cụt, số lượng đốt xương cụt, dính khớp cùng cụt, dính khớp gian cụt thứ nhất, gai xương cụt, chiều dài và chỉ số đường cong của xương cùng và xương cụt, góc cùng cụt và góc gian cụt.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Xương cụt nhóm II chiếm tỷ lệ cao nhất (31,2%), tiếp theo là nhóm I (26,6%), nhóm III và nhóm IV gần tương đương nhau (lần lượt là 16,5% và 14,9%), kế đến là nhóm VI (9,9%) và ít gặp nhất là nhóm V (0,9%).&nbsp;Xương cụt nhóm I, II, III và VI đều thường gặp ở nam giới hơn với sự chênh lệch rõ rệt nhất ở nhóm I. Trong khi đó, nhóm IV và V ưu thế ở nữ giới hơn. Thường gặp nhất là xương cụt 4 đốt (67,8%).&nbsp;Tỷ lệ dính khớp cùng cụt là 42,5%, dính khớp gian cụt thứ nhất là 11,4%.&nbsp;Gai xương cụt chiếm tỷ lệ 16,8%, thường gặp ở nữ giới hơn. Các số đo xương cùng như sau: chiều dài thẳng 110,25 ± 9,44 mm, chiều dài cong 115,74 ± 9,71 mm, chỉ số đường cong 4,71 ± 3,08. Các số đo xương cụt như sau: chiều dài thẳng 32,14 ± 5,83 mm, chiều dài cong 35,72 ± 6,54 mm, chỉ số đường cong 9,72 ± 6,42.&nbsp;Xương cùng và xương cụt của nam giới dài hơn nữ giới. Xương cùng nữ giới có xu hướng thẳng hơn nam giới. Chiều dài xương cùng gần như ổn định theo thời gian, chỉ có độ cong xương cùng có xu hướng tăng nhẹ theo tuổi tác. Xương cụt có xu hướng thẳng hơn theo tuổi nhưng mức độ tương quan rất yếu. Góc cùng cụt và góc gian cụt lần lượt là 114,37 ± 13,62 độ và 48,16 ± 20,11 độ. Góc cùng cụt của nam giới lớn hơn nữ giới.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Hình thái xương cùng cụt ở người Việt Nam trưởng thành có một số điểm khác biệt liên quan giới tính và độ tuổi. Việc hiểu biết về giải phẫu vùng cùng cụt ở người Việt Nam sẽ góp phần nâng cao nhận thức về sự khác biệt giải phẫu giữa các chủng tộc trên thế giới và hỗ trợ cho các nghiên cứu tương lai về đau vùng xương cụt.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objectives: The sacrococcygeal region plays an important role in weight-bearing while sitting, particularly in the reclined position. Coccydynia is a relatively common condition (with nearly one-third of cases being idiopathic); however, it remains under-recognized in both diagnosis and treatment. Recognizing that a thorough understanding of the sacrococcygeal anatomy is essential for the diagnosis and management of idiopathic coccydynia, we conducted this study with two objectives: (1) to describe the morphologic characteristics of the sacrococcygeal region in Vietnamese adults using computed tomography (CT) images, and (2) to analyze the relationship between these characteristics, age, and sex.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A cross-sectional, retrospective study was conducted using computed tomography (CT) images of the abdominopelvic region from 696 adult patients at Tam Anh General Hospital, Ho Chi Minh City, between December 1, 2024, and February 28, 2025. The recorded sacrococcygeal morphological parameters included: coccygeal type, number of coccygeal segments, sacrococcygeal fusion, first intercoccygeal fusion, coccygeal spicule, lengths and curvature indices of the sacrum and coccyx, sacrococcygeal angle, and intercoccygeal angle.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The most common coccygeal type was type II (31.2%), followed by type I (26.6%), type III (16.5%), type IV (14.9%), type VI (9.9%), and type V (0.9%). Types I, II, III, and VI were more prevalent in males, with the largest difference observed in type I, while types IV and V were more common in females. Four coccygeal segments were most frequently observed (67.8%). The prevalence of sacrococcygeal fusion was 42.5% and first intercoccygeal fusion was 11.4%. Coccygeal spicules were identified in 16.8% of cases, more frequently in females. Sacral measurements were as follows: straight length 110.25 ± 9.44 mm, curved length 115.74 ± 9.71 mm, curvature index 4.71 ± 3.08. Coccygeal measurements were: straight length 32.14 ± 5.83 mm, curved length 35.72 ± 6.54 mm, curvature index 9.72 ± 6.42. Both sacrum and coccyx were longer in males, while female sacra tended to be straighter. Sacral length remained relatively stable across ages, although sacral curvature showed a slight positive correlation with age. The coccyx tended to straighten with age, but correlations were very weak. The mean sacrococcygeal and intercoccygeal angles were 114.37 ± 13.62° and 48.16 ± 20.11°, respectively; sacrococcygeal angle was significantly larger in males.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: The morphology of the sacrococcygeal region in Vietnamese adults shows certain differences related to sex and age. A better understanding of sacrococcygeal anatomy in Vietnamese individuals contributes to knowledge of anatomical variation across populations worldwide and provides a foundation for future studies on coccydynia.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.11</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128064 Chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan của sinh viên Y đa khoa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 2026-01-30T03:02:30+07:00 Trương Hoàng Tuấn Anh, Nguyễn Thị Hồng My anhtht@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Giấc ngủ đóng vai trò thiết yếu đối với chức năng nhận thức và sức khỏe tổng thể, đặc biệt quan trọng đối với sinh viên y khoa, những người phải đối mặt với áp lực học tập và lâm sàng cường độ cao. Rối loạn giấc ngủ trong nhóm sinh viên y khoa có thể ảnh hưởng kết quả học tập, sức khỏe tâm thần và sức khỏe tổng thể.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định tỷ lệ chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém và phân tích các yếu tố nhân khẩu học, môi trường và hành vi liên quan của sinh viên Y đa khoa tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (TĐHYK Phạm Ngọc Thạch).<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 390 sinh viên Y đa khoa từ năm 1 đến năm 6 tại TĐHYK Phạm Ngọc Thạch từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2024. Phương pháp chọn mẫu theo cụm 2 bậc: bậc 1: Chọn ngẫu nhiên 6 lớp, mỗi năm học một lớp, từ tổng số 24 lớp; bậc 2: Mỗi lớp chọn 7 tổ, mỗi tổ chọn 10 người. Thang đo Chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) phiên bản tiếng Việt được sử dụng để đánh giá CLGN (CLGN kém được xác định khi điểm PSQI &gt; 5). Dữ liệu được phân tích bằng kiểm định Chi bình phương và Tỷ số hiện mắc (PR).<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có CLGN kém là 50,5% (197/390). CLGN kém có mối liên quan chặt chẽ với số năm học tăng dần; sinh viên năm 6 có tỷ lệ CLGN kém cao gần gấp ba lần so với sinh viên năm 1 (PR=2,91, p&lt;0,001). Sinh viên sống cùng gia đình có tỷ lệ CLGN kém thấp hơn một cách có ý nghĩa (PR=0,739, p=0,020). Sử dụng các ứng dụng trên ĐTTM hơn một giờ trước khi ngủ cũng là một yếu tố nguy cơ đáng kể.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: CLGN kém là một vấn đề nghiêm trọng và có xu hướng tăng dần, ảnh hưởng đến một nửa số sinh viên Y đa khoa tại TĐHYK Phạm Ngọc Thạch. Áp lực học tập và thói quen sử dụng điện thoại trước khi ngủ, là những yếu tố góp phần chính. Đề xuất các biện pháp can thiệp có mục tiêu, tập trung vào vệ sinh giấc ngủ và sức khỏe kỹ thuật số.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Sleep plays an essential role in cognitive function and overall health, and it is particularly important for medical students who face intense academic and clinical pressures. Sleep disturbances among medical students can negatively impact academic performance, mental health, and general well-being.<br>&nbsp; &nbsp;Objective: To determine the prevalence of poor sleep quality (SQ) and to analyze the related demographic, environmental, and behavioral factors among undergraduate medical students at Pham Ngoc Thach University of Medicine (PNTUM).<br>&nbsp; &nbsp;Subjects and Methods: A cross-sectional study was conducted on 390 undergraduate medical students from years 1 to 6 at PNTUM between February and April 2024. We employed a two-stage cluster sampling design. At Stage 1, six classes (one per grade level) were randomly selected from the frame of 24 classes. At Stage 2, within each selected class, seven groups were sampled, and ten individuals were selected from each group. The Vietnamese version of the Pittsburgh Sleep Quality Index (PSQI) was used to assess sleep quality (poor sleep quality was defined as PSQI &gt; 5). Data were analyzed using the Chi-square test and Prevalence Ratio (PR).<br>&nbsp; &nbsp;Results: The prevalence of poor SQ was 50.5% (197/390). Poor SQ was strongly associated with increasing year of study; sixth-year students had nearly three times the prevalence of poor SQ compared to first-year students (PR=2.91, p&lt;0.001). Students living with their families had a significantly lower prevalence of poor SQ (PR=0.739, p=0.020). The use of smartphone applications for more than one hour before bedtime was also a significant risk factor.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Poor SQ is a serious and increasing problem, affecting half of undergraduate medical students at PNTUM. Academic pressures and pre-sleep technology use are key contributing factors. We propose targeted intervention measures centered on sleep hygiene and digital well-being.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.12</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128065 Bước đầu đánh giá cắt lớp vi tính hai mức năng lượng trong dự báo chuyển dạng xuất huyết sau lấy huyết khối ở bệnh nhân nhồi máu não cấp 2026-01-30T03:33:14+07:00 Đặng Thanh Tú Anh, Trương Minh Thương, Nguyễn Đức Khang, Đàm Chí Cường tuanh.dr1124@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Đánh giá giá trị dự đoán nguy cơ chuyển dạng xuất huyết sau can thiệp lấy huyết khối cơ học của cắt lớp vi tính hai mức năng lượng (DECT).<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 24 bệnh nhân nhồi máu não tuần hoàn trước được can thiệp lấy huyết khối cơ học thành công (TICI 2b hoặc 3) từ tháng 07/2024 đến tháng 07/2025 tại Bệnh viện Quân Y 175. Tất cả bệnh nhân được chụp DECT trong vòng 24 giờ sau can thiệp và không ghi nhận xuất huyết não tại thời điểm đó. Các thông số liên quan đến hiện tượng thoát mạch thuốc cản quang được đo lường và phân tích khả năng dự báo chuyển dạng xuất huyết xảy ra trong vòng 07 ngày sau can thiệp.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Trong tổng số 24 bệnh nhân, có 5 trường hợp (20,8%) chuyển dạng xuất huyết. Các yếu tố hình ảnh liên quan đến vùng thoát mạch thuốc cản quang trong nhu mô não có giá trị dự báo chuyển dạng xuất huyết bao gồm: phân bố trong nhu mô não sâu, đường viền rõ, đậm độ cao nhất được chuẩn hoá (NDR) và nồng độ iốt cao nhất được chuẩn hoá (NICR) cao. Ngưỡng cắt NDR là 98,3% cho độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 84,6% (AUC = 0,969). Ngưỡng cắt NICR là 221,5% cho độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 94,7% (AUC = 0,989).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Trong quần thể nghiên cứu của chúng tôi, chỉ số NDR và NICR thu được nhờ DECT là các chỉ số hình ảnh đáng tin cậy giúp dự đoán nguy cơ chuyển dạng xuất huyết sau can thiệp lấy huyết khối cơ học. Đây có thể là công cụ hữu ích hỗ trợ cá thể hóa điều trị và tiên lượng sau tái tưới máu.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Purpose: To assess whether dual-energy computed tomography (DECT) can predict the risk of hemorrhagic transformation after mechanical thrombectomy.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: We retrospectively analyzed patients with anterior circulation stroke who achieved successful reperfusion (TICI 2b or 3) following mechanical thrombectomy. All underwent DECT within 24 hours post-procedure and showed no hemorrhagic transformation at that time. Quantitative iodine-extravasation-related metrics were extracted from DECT, and patients were followed up for HT occurrence within 07 days. Associations between the above parameters and hemorrhagic outcomes were evaluated.<br>&nbsp; &nbsp;Results: Among 24 patients, 5 (20.8%) developed hemorrhagic transformation. Predictive imaging features of iodine contrast extravasation included deep brain parenchymal distribution pattern, well-defined margins, an elevated normalized density ratio (NDR) value and normalized iodine concentration ratio (NICR) value. A NDR threshold of 98.3% predicted hemorrhage with 100% sensitivity and 84.6% specificity (AUC = 0.969). A NICR threshold of 221.5% predicted ICH with 100% sensitivity and 94.7% specificity (AUC = 0.989).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: NDR and NICR derived from DECT is a highly accurate predictor of post-thrombectomy HT in ischemic stroke patients. It may serve as a valuable imaging biomarker to stratify hemorrhagic risk and optimize post-procedural care.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.13</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128067 Tỷ lệ nghiện Internet và mối liên quan với các yếu tố thói quen và lối sống ở sinh viên Y khoa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2025 2026-01-30T03:09:11+07:00 Thạch Gia Bảo, Nguyễn Đoàn Bảo Ngọc, Hoàng Nguyễn Mỹ Linh, Trần Thanh Thiên Trúc 2251010049@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Nghiện Internet đang trở thành vấn đề đáng lo ngại trong giới trẻ vì những hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, hiệu quả công việc và chất lượng cuộc sống. Trong đó, sinh viên Y khoa với khối lượng học tập lớn và tần suất sử dụng Internet cao cho cả việc học và giải trí đã trở thành nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Nếu không được kiểm soát hợp lý, Internet có thể chuyển từ công cụ hỗ trợ sang yếu tố gây nghiện, tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và kết quả học tập. Việc xác định tỷ lệ nghiện Internet và các yếu tố liên quan sẽ giúp nhà trường xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả cho sinh viên Y khoa.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nghiện Internet và các yếu tố liên quan về thói quen, lối sống ở sinh viên Y khoa từ năm nhất đến năm thứ sáu tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2025.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2025 trên 370 sinh viên, sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Dữ liệu được thu thập trực tuyến thông qua bộ câu hỏi trên Google Forms, bộ câu hỏi bao gồm thang đo s-IAT cùng các thông tin về đặc điểm cá nhân, thói quen và lối sống.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỷ lệ nghiện Internet ở sinh viên Y khoa Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch năm 2025 là 37,6% và các yếu tố thói quen, lối sống liên quan đến tỷ lệ nghiện Internet là: thói quen thức khuya, lối sống thụ động, tần suất tiêu thụ thực phẩm cung cấp năng lượng rỗng, thói quen tiêu thụ rau củ và trái cây ít, ăn vặt trong khi truy cập Internet và thiếu thói quen lập kế hoạch cho tương lai theo ngày/ tuần/ tháng. Trong đó, yếu tố có mối liên quan mạnh nhất là tần suất tiêu thụ thực phẩm cung cấp năng lượng rỗng 7 ngày/tuần (OR = 3,531; p = 0,007; KTC 95%: 1,408–8,858), yếu nhất là thói quen tiêu thụ rau củ và trái cây ít (OR = 1,624; p = 0,044; KTC 95%: 1,013–2,603).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỷ lệ nghiện Internet ở sinh viên Y khoa là khá cao. Các yếu tố liên quan gợi ý nhà trường triển khai các hoạt động truyền thông về tác hại của lối sống thụ động, khuyến khích tăng vận động thể lực, tăng lượng rau củ trong bữa ăn và giảm tần suất tiêu thụ thực phẩm năng lượng rỗng ở sinh viên Y khoa.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Internet addiction has become a growing concern among young people, with serious consequences affecting health, work performance, and quality of life. Medical students, with their heavy academic workload and frequent Internet use for both learning and entertainment, are considered a high-risk group. Without proper management, Internet use may shift from being a useful educational tool to a source of addiction, negatively impacting mental health and academic performance.&nbsp; Identifying the prevalence of addiction and its related factors will help universities develop effective intervention programs for medical students.<br>&nbsp; &nbsp;Objective: To determine the prevalence of Internet addiction and its associations with lifestyle and behavioral factors among medical students from the first to the sixth year at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2025.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A cross-sectional study was conducted from February to April 2025 among 370 students, using a convenience sampling method. Data were collected online via a Google Forms questionnaire, which included the short Internet Addiction Test (s-IAT) and items on demographic characteristics, lifestyle, and behavioral factors.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The prevalence of Internet addiction among medical students at Pham Ngoc Thach University of Medicine in 2025 was 37.6%. Lifestyle and behavioral factors associated with Internet addiction included staying up late, sedentary lifestyle, frequency of consuming empty calories food, low fruit and vegetable consumption, snacking while using the Internet, and lack of planning habits (daily/weekly/monthly). The strongest association was found with consuming empty calories food seven days per week (OR = 3.531; p = 0.007; 95% CI: 1.408–8.858), while the weakest was found with low fruit and vegetable consumption (OR = 1.624; p = 0.044; 95% CI: 1.013–2.603).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The prevalence of Internet addiction among medical students was relatively high. The identified associated factors suggest that universities should implement activities to reduce the frequent consumption of empty calories food and promote increased daily intake of fruits and vegetables among medical students.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.14</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128068 Nghiên cứu tỷ lệ ác tính và các yếu tố nguy cơ của u vú có BIRADS 4-5 trên nhũ ảnh được phẫu thuật tại Bệnh viện Từ Dũ 2026-01-30T03:10:22+07:00 Trần Minh Nguyệt, Võ Thanh Nhân, Trần Thị Ngọc Phượng tranngocphuong@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Ung thư vú là loại ung thư phổ biến và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư ở phụ nữ. Chính vì vậy, việc phát hiện sớm ung thư vú bằng các phương pháp sàng lọc làm giảm gánh nặng và tỷ lệ tử vong liên quan đến bệnh, nhất là ở các bệnh nhân không có triệu chứng ban đầu do khối u có kích thước nhỏ. Phân loại BIRADS 3-4 trên X quang có tỷ lệ ác tính ở các mức độ khác nhau từ 3-94%, BIRADS 5 trên 95%. Dù đã có nhiều nghiên cứu về ung thư vú nhưng việc đánh giá tỷ lệ ác tính của khối u phân loại BIRADS 4 và 5 qua nhũ ảnh vẫn còn hạn chế, do đó nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu tổng quát: đánh giá tỷ lệ ác tính của các khối u phân loại BIRADS 4 và 5 trên nhũ ảnh. Mục tiêu cụ thể: phân tích mối liên quan giữa tỉ lệ ác tính và các yếu tố như tuổi, hình thái, ranh giới khối u.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu&nbsp; 207 bệnh nhân (BN) có khối u vú có phân loại BIRADS 4-5 trên nhũ ảnh được phẫu thuật tại Khoa Ung Bướu phụ khoa – Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM từ tháng 9/2020 đến 04/2024.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Có đến 72,46% BN là sờ thấy u vú. Tỷ lệ BN có 1 khối u vú bên trái (57%) bên phải (34,8%), và 17 BN (8,2%) có khối u vú cả hai bên. Khối u phân loại BI-RADS 4 và 5 trên nhũ ảnh là 56,5% và 42,6%. Tỷ lệ u vú ác tính là 19,6% (KTC 95%=14,16-25,04) Trong đó 8,5% khối u có kết quả giải phẫu bệnh không điển hình định hướng ác tính và 11,1% ác tính. Có mối liên quan giữa yếu tố tuổi cao, tình trạng mãn kinh, triệu chứng tiết dịch vú, giới hạn khối u không rõ và phân loại BIRADS với tỷ lệ u vú ác tính (p &lt; 0,05).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỷ lệ BN có khối u phân loại BI-RADS 4 và 5 trên nhũ ảnh là 56,5% và 42,6%. Tỷ lệ u vú ác tính là 19,6%. Có mối liên quan giữa yếu tố tuổi cao, tình trạng mãn kinh, triệu chứng tiết dịch vú, giới hạn khối u không rõ và phân loại BIRADS với tỷ lệ u vú ác tính.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objectives: To determine the malignancy rate of breast lesions classified as BIRADS 4-5 on mammography and to identify the correlation with certain clinical factors in patients who underwent surgery at Tu Du Hospital<br>&nbsp; &nbsp;Methods: This was a retrospective, cross-sectional study. We analyzed data from 207 women with breast lesions classified as BIRADS 4-5 on mammography who underwent surgery at the Department of Gynecological Oncology, Tu Du Hospital, Ho Chi Minh City, from September 2020 to April 2024.<br>&nbsp; &nbsp;Results: A palpable breast lump was present in 72.46% of patients. Of these, 57% had a lump on the left breast and 8.2% had multiple lumps in both breasts. The most common location was the upper outer quadrant (38.9%). The majority of tumors (70.3%) had well-defined borders, and 59% were smaller than 2 cm. The proportion of malignant breast tumors was 19.6% (95% Cl= 14.16-25.04). Malignancy rates for BIRADS 4 and 5 were 56.5% and 42.6%, respectively. We found a significant correlation (p&lt; 0.05) between malignancy and factors such as older age, menopausal status, nipple discharge symptoms, unclear tumor borders, and BIRADS classification.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: The majority of breast lesions were detected by patient self-palpation. The malignancy rate among BIRADS 4 and 5 lesions was 19.6%. A significant correlation was observed between the likelihood of malignancy and factors including older age, menopausal status, nipple discharge, unclear tumor.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.15</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128073 Mối liên quan giữa các đặc điểm hình ảnh khối u trên cắt lớp vi tính vùng bụng với di căn hạch trong ung thư biểu mô tuyến dạ dày 2026-01-30T03:11:00+07:00 Nhan Thiên Tường, Đặng Ngọc Thạch, Hồ Quang Minh, Hồ Hoàng Phương, Nguyễn Thành Tiến nhanthientuong1998@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mô tả một số đặc điểm hình ảnh ung thư biểu mô tuyến dạ dày trên X-quang cắt lớp vi tính (CLVT) vùng bụng. Xác định mối liên quan giữa các đặc điểm hình ảnh khối u trên X-quang cắt lớp vi tính vùng bụng với di căn hạch trong ung thư biểu mô tuyến dạ dày.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang, gồm 206 bệnh nhân ung thư dạ dày phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2025. Tất cả bệnh nhân đều có hình ảnh CLVT trước phẫu thuật và giải phẫu bệnh sau phẫu thuật.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Ung thư dạ dày (UTDD) thường gặp nam hơn nữ, tỷ lệ nam:nữ =1,99:1. Vị trí khối u thường gặp ở hang môn vị, đoạn 1/3 dưới khoảng 70%, có bề dày trung vị là 15,6 mm, thể tích u trung vị là 26,6 cm<sup>3</sup>, đậm độ u trung vị thì không thuốc và tĩnh mạch lần lượt là 37,18 HU và 80,3 HU. Giai đoạn T của u trong nghiên cứu cho thấy tỷ lệ giai đoạn cT4 chiếm cao nhất (58,3%). Ngoài ra, còn có dấu hiệu thâm nhiễm mỡ ngoài thành, xâm lấn mạch máu ngoài thành và cơ quan lân cận cũng được ghi nhận với tỷ lệ lần lượt là 39,7%, 42,2% và 4%. Qua phân tích hồi quy đa biến, thể tích u, phần trăm bắt thuốc thì tĩnh mạch, giai đoạn cT và xâm lấn mạch máu ngoài thành (ctEMVI), là các yếu tố trên CLVT liên quan có ý nghĩa thống kê với di căn hạch (p &lt; 0,05). Các yếu tố khác như thâm nhiễm mỡ quanh dạ dày, loét, độ biệt hóa không có ý nghĩa thống kê trong phân tích đa biến.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: CLVT là công cụ hình ảnh hữu ích trong đánh giá tiền phẫu di căn hạch ở UTDD. Một số đặc điểm trên CLVT như thể tích, phần trăm bắt thuốc thì tĩnh mạch, giai đoạn cT và ctEMVI, là những yếu tố dự đoán độc lập với di căn hạch. Việc kết hợp các yếu tố hình ảnh học của u và đặc điểm hạch giúp nâng cao độ chính xác trong đánh giá tình trạng di căn hạch tiền phẫu của ung thư dạ dày.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Purpose: This study aimed to describe certain abdominal computed tomography (CT) imaging characteristics of gastric adenocarcinoma and to determine the relationship between CT tumor features and lymph node metastasis in gastric adenocarcinoma.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: This was a retrospective cross-sectional descriptive study including 206 patients with gastric cancer who underwent surgery at Binh Dan Hospital from January 2022 to May 2025. All patients had preoperative CT imaging and postoperative histopathological results.<br>&nbsp; &nbsp;Results: Gastric cancer was more common in men than in women, with a male-to-female ratio of 1.99:1. The most frequent tumor location was the antrum–pylorus (lower third), accounting for approximately 70%. The median tumor thickness was 15.6 mm, the median tumor volume was 26.6 cm³, and the median attenuation values in the non-contrast and venous phases were 37.18 HU and 80.3 HU, respectively. Tumor staging showed that cT4 was the most common stage (58.3%). Other findings included perigastric fat stranding (39.7%), extramural vascular invasion (42.2%), and adjacent organ invasion (4%). Multivariate logistic regression analysis revealed that tumor volume, percent enhancement in the venous phase, cT stage, and extramural vascular invasion (ctEMVI) on CT were significantly associated with lymph node metastasis (p &lt; 0.05). Other factors such as perigastric fat stranding, ulceration, and tumor differentiation were not statistically significant in multivariate analysis.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: CT is a valuable imaging tool for preoperative assessment of lymph node metastasis in gastric cancer. Certain CT features, including tumor volume, percent enhancement in the venous phase, cT stage, and ctEMVI, are independent predictors of lymph node metastasis. Combining tumor imaging characteristics with lymph node features may improve the accuracy of preoperative lymph node metastasis assessment in gastric cancer.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.16</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128079 Đánh giá kết quả sớm điều trị phẫu thuật u lành tính tuyến nước bọt tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Cơ sở 2 2026-01-30T03:12:43+07:00 Võ Nhựt Thiên An, Võ Huy Hùng, Âu Thị Cẩm Lệ, Võ Thị Thanh Giúp, Đặng Văn Tiến, Trần Anh Tuấn vntan.umc@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Phẫu thuật cắt u tuyến nước bọt là điều trị chủ yếu cho u tuyến nước bọt lành tính. Tuy vậy, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị và biến chứng phẫu thuật lâu dài. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mô tả kết quả phẫu thuật u tuyến nước bọt ngay sau mổ và một năm sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y dược – Cơ sở 2.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Mô tả hàng loạt ca. Bệnh nhân u tuyến nước bọt lành tính từ 18 tuổi trở lên được chỉ định phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở 2. Bệnh nhân được liên lạc qua điện thoại sau một năm điều trị để đánh giá lại.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi mô tả kết quả điều trị của 28 bệnh nhân u tuyến nước bọt. Trong 24 ca u tuyến mang tai, có một trường hợp tái phát một năm sau phẫu thuật. Các biến chứng phổ biến là liệt mặt (04 ca), tê vùng tai góc hàm (04 ca) và nề vết mổ (05 ca); đa số các biến chứng đều hết sau một năm. Trong 4 ca u tuyến dưới hàm, không có trường hợp nào có biến chứng sau phẫu thuật và tái phát sau một năm theo dõi.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Kỹ thuật bóc u ngoài bao kết hợp bảo tồn tuyến có thể kiểm soát tốt bệnh, hầu như không ghi nhận tái phát trong thời gian theo dõi và ghi nhận tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background/Objectives: Surgical excision is the primary treatment for benign salivary gland tumors. However, there remains a paucity of studies evaluating long-term surgical outcomes and complications. This study aimed to describe both immediate postoperative outcomes and one-year follow-up results of salivary gland tumor surgery performed at University Medical Center – Branch 2.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: We conducted a descriptive case series. Eligible participants were patients aged 18 years or older with benign salivary gland tumors who underwent surgical resection at University Medical Center Ho Chi Minh City – Branch 2. Patients were contacted by telephone one year after surgery for follow-up evaluation.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The study included 28 patients with benign salivary gland tumors. Among 24 parotid tumor cases, one recurrence was observed within one year. Common complications included facial nerve palsy (4 cases), hypoesthesia at the auriculo mandibular region (4 cases), and postoperative swelling at the incision site (5 cases). Most complications resolved within one year. In the four submandibular tumor cases, no postoperative complications or recurrences were observed during the one-year follow-up.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: Extracapsular tumor dissection combined with gland preservation demonstrated effective disease control, with minimal recurrence within the follow-up period and a low rate of postoperative complications.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.17</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128087 Vai trò của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hoại tử ruột non do tắc quai kín 2026-01-30T03:13:29+07:00 Phạm Vũ Duy Hưng, Nguyễn Chí Phong, Nguyễn Minh Đức bsnguyenminhduc@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định giá trị các dấu hiệu cắt lớp vi tính trong chẩn đoán hoại tử ruột non quai kín.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 89 bệnh nhân có tắc ruột non quai kín, có kết quả giải phẫu bệnh và tường trình phẫu thuật, được chụp cắt lớp vi tính bụng chậu có tiêm thuốc tương phản tại bệnh viện Bình Dân từ 01/2020 – 06/2025. Ghi nhận, đo đạc các dấu hiệu của tắc ruột và các dấu hiệu thiếu máu ruột.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: thoát vị nội là nguyên nhân gây tắc ruột non quai kín thường gặp nhất (31,5%). Nguyên nhân gây hoại tử ruột nhiều nhất là do dây thắt (44,44%). Đường kính trung bình của các quai ruột quai kín giãn là 33 ± 6 mm. Để dự đoán hoại tử ruột, độ nhạy và độ đặc hiệu của các dấu hiệu lần lượt là: thành ruột tăng quang kém sau tiêm thuốc cản quang (80,56% và&nbsp; 86,79%), dày thành ruột quai kín (75% và 66,04%) với độ dày trung bình ở nhóm có hoại tử ruột là 6,85 ± 3,19 mm (p&gt;0,05), phù nề thâm nhiễm mỡ mạc treo (86,11% và 73,58%), dịch ổ bụng (91,67% và 39,62%).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Thoát vị nội là nguyên nhân tắc ruột non quai kín nhiều nhất. Đường kính của quai ruột quai kín giãn không liên quan đến tình trạng hoại tử ruột. Các dấu hiệu giúp dự đoán hoại tử ruột là thành ruột tăng quang kém sau tiêm thuốc cản quang, dấu hiệu thành ruột dày, dấu hiệu phù nề thâm nhiễm mỡ mạc treo và dịch ổ bụng.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objective: To evaluate the value of computed tomography (CT) signs in detecting bowel necrosis in closed-loop small bowel obstruction.<br>&nbsp; &nbsp;Materials and Methods: A retrospective study was performed on 89 patients with closed-loop small bowel obstruction, confirmed by histopathology and operative findings, who underwent contrast-enhanced abdomino-pelvic CT at Binh Dan Hospital between January 2020 and June 2025. CT features of small bowel obstruction and ischemic changes were recorded and measured.<br>&nbsp; &nbsp;Results: Internal hernia was the most common cause of closed-loop small bowel obstruction (31.5%), while strangulation was the leading cause of bowel necrosis (44.44%). The mean diameter of dilated closed-loop bowel was 33 ± 6 mm. For predicting bowel necrosis, the sensitivity and specificity of CT signs were as follows: decreased bowel wall enhancement after contrast administration (80.56% and 86.79%), closed loop bowel wall thickening (75% and 66.04%) with a mean thickness of 6.85 ± 3.19 mm in the necrosis group (p &gt; 0.05), mesenteric fat stranding and edema (86.11% and 73.58%), and ascites (91.67% and 39.62%). <br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Internal hernia was the most common cause of closed-loop small bowel obstruction. The diameter of the dilated closed-loop bowel was not associated with bowel necrosis. CT features predictive of bowel necrosis included poor bowel wall enhancement after contrast administration, bowel wall thickening, mesenteric fat stranding and edema, and ascites.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.18</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128099 Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Thành phố Gò Công 2026-01-30T03:14:43+07:00 Lê Thị Tú Trinh, Nguyễn Vũ Anh Thư trinhtrinhk2003@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Đái tháo đường típ 2 là bệnh mạn tính đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm và gánh nặng kinh tế – xã hội. Tuân thủ điều trị đóng vai trò then chốt trong kiểm soát đường huyết và phòng ngừa biến chứng, tuy nhiên mức độ tuân thủ ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định tỉ lệ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Thành phố Gò Công năm 2025.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 200 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm y tế Thành phố Gò Công. Tuân thủ điều trị được đo lường trên nhiều khía cạnh với các thang đo SDSCA – diet, IPAQ – SF và MMAS – 8 đã được đánh giá tính tin cậy và hợp lệ.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỉ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng: 41,0%, hoạt động thể lực: 56,5% và thuốc: 97,0%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ dinh dưỡng với nghề nghiệp (p&lt;0,05); giữa tuân thủ hoạt động thể lực với giới tính (p&lt;0,05).<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Tỉ lệ tuân thủ chế độ dinh dưỡng và tuân thủ hoạt động thể lực còn khá thấp cần tăng cường hơn nữa việc tư vấn điều trị ở người bệnh đái tháo đường.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Type 2 diabetes mellitus is a chronic disease that is rapidly increasing worldwide, leading to serious complications and significant socioeconomic burdens. Treatment adherence plays a key role in glycemic control and complication prevention; however, adherence among patients in Vietnam remains limited.<br>&nbsp; &nbsp;Objectives: To determine the rate of treatment adherence and related factors among outpatients with type 2 diabetes mellitus at Go Cong City Medical Center, Vietnam, in 2025.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A cross-sectional study was conducted on 200 outpatients with type 2 diabetes mellitus. Treatment adherence was measured across multiple aspects using validated scales, including SDSCA – diet, IPAQ – SF, and MMAS – 8.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The adherence rates were 41.0% for diet, 56.5% for physical activity, and 97.0% for medication. Significant associations were found between dietary adherence and occupation (p&lt;0.05), physical activity adherence and gender (p&lt;0.05).<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: The rates of adherence to dietary regimen and physical activity remain relatively low, highlighting the need to further strengthen treatment counseling for patients with diabetes.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.19</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128113 Nghiên cứu giá trị cộng hưởng từ động học bắt thuốc siêu nhanh trong chẩn đoán ung thư vú 2026-01-30T03:15:36+07:00 Trần Bình An, Hồ Hoàng Phương, Thái Dương Ánh Thuỷ, Đỗ Minh Khoa, Nguyễn Trung Đức, Nguyễn Minh Đức bsnguyenminhduc@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của các thông số cộng hưởng từ động học siêu nhanh (độ dốc tối đa (MS), thời gian bắt thuốc (TTE)) trong chẩn đoán ung thư vú.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 78 bệnh nhân ung thư vú từ tháng 09/2023 đến tháng 08/2025 tại Bệnh viện (BV) Đa Khoa Tâm Anh TPHCM, có kết quả giải phẫu bệnh. Các trường hợp trên phân thành hai nhóm ung thư và không ung thư.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Nghiên cứu trên 78 bệnh nhân với 87 tổn thương (04 bệnh nhân có tổn thương trên hai vú), cho thấy hai thông số từ cộng hưởng từ động học siêu nhanh là thời gian bắt đầu bắt thuốc (TTE) và độ dốc tối đa (MS) có giá trị trong phân biệt tổn thương ác tính. Khi sử dụng ngưỡng TTE &lt; 11 giây để gợi ý ác tính, độ nhạy đạt 93,9%, độ đặc hiệu 60,5%, giá trị tiên đoán dương 75,4%, giá trị tiên đoán âm 88,5% và độ chính xác 79,3%. Đối với thông số MS, diện tích dưới đường cong ROC đạt 0,737. Tại ngưỡng độ dốc tối đa 5,54%/s, độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 75,5%, 65,8% và 71,3%.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Hai thông số của cộng hưởng từ động học siêu nhanh là thời gian bắt đầu bắt thuốc (TTE) và độ dốc tối đa (MS) có giá trị trong phân biệt tổn thương ung thư vú. Đặc biệt, TTE &lt; 11 giây cho độ nhạy cao, phù hợp làm tiêu chí gợi ý ác tính trong thực hành lâm sàng. Thông số MS với ngưỡng tối ưu 5,54%/s cũng cho thấy hiệu quả chẩn đoán ở mức trung bình và có thể được sử dụng hỗ trợ trong đánh giá tổn thương vú.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objective: To determine the sensitivity, specificity, negative predictive value (NPV), and positive predictive value (PPV) of ultrafast dynamic contrast-enhanced magnetic resonance imaging (ultrafast DCE-MRI) parameters-maximum slope (MS) and time to enhancement (TTE)-in the diagnosis of breast cancer.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: A retrospective cross-sectional study was conducted on 78 patients with histologically confirmed breast cancer from September 2023 to August 2025 at Tam Anh General Hospital, Ho Chi Minh City. All lesions were categorized into malignant and non-malignant groups.<br>&nbsp; &nbsp;Results:&nbsp; Among 78 patients with 87 lesions (including four patients with bilateral lesions), the ultrafast DCE-MRI parameters TTE and MS demonstrated diagnostic value in differentiating malignant breast lesions. Using a TTE cutoff value of &lt;11 seconds to suggest malignancy yielded a sensitivity of 93.9%, specificity of 60.5%, PPV of 75.4%, NPV of 88.5%, and overall accuracy of 79.3%. For the MS parameter, the area under the ROC curve (AUC) was 0.737. At an optimal MS threshold of 5.54%/s, the sensitivity, specificity, and accuracy were 75.5%, 65.8%, and 71.3%, respectively.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The ultrafast DCE-MRI parameters TTE and MS are valuable for differentiating malignant breast lesions. Particularly, TTE &lt;11 seconds demonstrates high sensitivity and may serve as a practical indicator for malignancy in clinical settings. The MS parameter, with an optimal cutoff of 5.54%/s, also shows moderate diagnostic performance and may aid in lesion assessment.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.20</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128125 Vai trò của X quang cắt lớp vi tính trong chẩn đoán giai đoạn khối u của ung thư biểu mô túi mật 2026-01-30T03:17:47+07:00 Nguyễn Thành Khương, Hồ Hoàng Phương, Đặng Ngọc Thạch thankhuong7597@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm, độ chính xác của CT trong đánh giá giai đoạn T của ung thư biểu mô túi mật, từ đó hỗ trợ quyết định lựa chọn phương thức điều trị.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu trên 61 bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô túi mật được chụp CT có tiêm thuốc cản quang đủ 3 thì: trước tiêm, động mạch và tĩnh mạch trước sinh thiết hoặc phẫu thuật tại Bệnh viện Bình Dân từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024. Thực hiện đọc và phân tích hình ảnh CT độc lập sau đó đối chiếu với kết quả giải phẫu bệnh.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Kết quả cho thấy CT có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, giá trị tiên đoán âm cho từng giai đoạn T lần lượt là: T1a (50%; 98,3%; 50%; 98,3%), T1b hoặc T2 (75%; 93,3; 80%; 91,3%), T3 (92,6%; 88,2%; 86,2%; 93,8%), T4 (93,8%; 100%; 100%; 97,8%; 98,4%), độ chính xác chung cho cả 4 giai đoạn là 86,9%. CT đánh giá xâm lấn gan, tá tràng, đại tràng, tụy, đường mật ngoài gan và mạch máu với độ phù hợp cao so với giải phẫu bệnh, trong đó độ chính xác với gan, tụy, đường mật và mạch máu đạt 100%. Gan là tạng bị xâm lấn thường gặp nhất.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: CT là phương tiện hình ảnh hiệu quả và đáng tin cậy trong chẩn đoán giai đoạn T ung thư biểu mô túi mật.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objective: To evaluate the sensitivity, specificity, positive predictive value, negative predictive value and accuracy of computed tomography (CT) in determining the T stage of gallbladder carcinoma, thereby supporting treatment planning and therapeutic decision-making.<br>&nbsp; &nbsp;Materials and Methods: A retrospective study was conducted on 61 patients with histopathologically confirmed gallbladder carcinoma who underwent contrast-enhanced triple-phase CT scans (non-contrast, arterial, and portal venous phases) before biopsy or surgery at Binh Dan Hospital from January 1, 2020, to December 31, 2024. CT images were independently reviewed and compared with histopathologic findings to assess diagnostic performance.<br>&nbsp; &nbsp;Results: CT demonstrated the following sensitivity, specificity, positive predictive value (PPV), and negative predictive value (NPV) for each T stage: T1a: (50%; 98,3%;50%, and 98,3%), T1b/T2: (75%; 93.3%; 80%, and 91,3%), T3 (92,6%; 88,2%; 86,2%; and 93,8%), T4 (93,8%; 100%; 100%; and 97,8%).The overall diagnostic accuracy was 86.9%. CT accurately assessed local invasion into adjacent organs such as the liver, duodenum, colon, pancreas, extrahepatic bile duct, and major vessels, with a near-perfect correlation to histopathology. The diagnostic accuracy for hepatic, pancreatic, biliary, and vascular invasion reached 100%, with the liver being the most commonly invaded organ.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Multidetector CT is an effective and reliable imaging modality for preoperative T-staging and evaluation of local invasion in gallbladder carcinoma.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.21</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128132 Giá trị của chỉ số chất lượng xương đốt sống trên cộng hưởng từ trong đánh giá mật độ xương 2026-01-30T03:18:30+07:00 Nguyễn Đăng Khoa, Đặng Ngọc Thạch, Nguyễn Đức Khang khoa.khoa98@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Khảo sát giá trị của chỉ số chất lượng xương đốt sống trong đánh giá loãng xương và thiếu xương<br>&nbsp; &nbsp;Phương pháp: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang khảo sát trên hình ảnh cộng hưởng từ cột sống thắt lưng không tiêm chất tương phản của người bệnh được đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DXA). Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhân dân 115 từ 01/01/2022 đến 28/02/2025. Đo đạc các giá trị cường độ tín hiệu các thân sống thắt lưng và dịch não tủy trên chuỗi xung T1W sagittal không tiêm thuốc tương phản, từ đó tính toán chỉ số chất lượng xương đốt sống (VBQ). Phân tích đường cong ROC giúp xác định điểm cắt của tình trạng giảm mật độ xương và loãng xương.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Chỉ số VBQ trung bình của các nhóm bình thường, thiếu xương, loãng xương có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Với điểm cắt VBQ ≥ 3,47 cho độ nhạy 79,8%, độ đặc hiệu 70,6% trong đánh giá tình trạng giảm mật độ xương. Với điểm cắt VBQ ≥ 3,9 cho độ nhạy 70,2%, độ đặc hiệu 78,9% trong phân biệt người bệnh có loãng xương với không có loãng xương.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Chỉ số VBQ có giá trị tốt trong việc ứng dụng tầm soát tình trạng loãng xương và thiếu xương ở người bệnh được chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objective: To investigate the value of the vertebral bone quality (VBQ) score in detecting osteoporosis and osteopenia.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: We conducted a retrospective cross-sectional study on non-contrast lumbar spine magnetic resonance imaging (MRI) of patients who had undergone bone mineral density (BMD) measurement using dual-energy X-ray absorptiometry (DXA). The study was performed at 115 People’s Hospital between January 1, 2022, and February 28, 2025. Signal intensity (SI) values of the lumbar vertebral bodies and cerebrospinal fluid (CSF) were measured on T1-weighted sagittal images, and the VBQ score was calculated accordingly. Receiver operating characteristic (ROC) curve analysis was used to determine the optimal cutoff points for identifying osteopenia and osteoporosis.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The mean VBQ scores of the normal, osteopenia, and osteoporosis groups differed significantly. A VBQ cutoff value ≥ 3.47 yielded a sensitivity of 79.8% and a specificity of 70.6% for detecting decreased BMD. A VBQ cutoff value ≥ 3.9 yielded a sensitivity of 70.2% and a specificity of 78.9% for differentiating patients with and without osteoporosis.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The VBQ score is a valuable tool for screening osteoporosis and osteopenia in patients undergoing lumbar spine MRI.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.22</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128144 Hiệu quả và an toàn của điều trị nội bàng quang với hyaluronic acid và chondroitin sulfate trong phòng ngừa viêm bàng quang tái phát ở phụ nữ 2026-01-30T03:19:53+07:00 Đoàn Vương Kiệt, Phạm Huy Vũ, Lê Trương Tuấn Đạt, Phạm Hữu Tùng, Nguyễn Văn Ân kiet.dv@umc.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Viêm bàng quang không phức tạp tái phát là một thách thức lâm sàng trong bối cảnh vi khuẩn đề kháng với kháng sinh gia tăng. Việc sử dụng kháng sinh dự phòng kéo dài có thể dẫn đến tình trạng kháng thuốc, do đó các biện pháp phòng ngừa không dùng kháng sinh đang thu hút sự quan tâm. Điều trị nội bàng quang bằng hyaluronic acid (HA) và chondroitin sulfate (CS), là các thành phần chính của lớp glycosaminoglycan (GAG) trong niêm mạc bàng quang, đã được nghiên cứu như một hướng can thiệp tiềm năng.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Tỷ lệ viêm bàng quang tái phát sau 6 tháng và các tác dụng phụ liên quan đến phương pháp điều trị nội bàng quang bằng HA/CS.<br>&nbsp; &nbsp;Phương pháp: Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh trên các bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán viêm bàng quang tái phát của Hội Tiết niệu châu Âu (≥ 2 đợt tái phát viêm bàng quang trong 6 tháng hoặc ≥ 3 đợt trong 1 năm). Các bệnh nhân được điều trị bằng HA/CS nội bàng quang theo phác đồ: 1 lần/tuần trong 4 tuần đầu, 1 lần/2 tuần trong tháng kế tiếp và 1 lần vào tháng thứ ba. Kết quả được theo dõi trong 6 tháng, với biến số chính là số đợt nhiễm khuẩn có triệu chứng và các tác dụng phụ liên quan đến điều trị như cảm giác bàng quang và niệu đạo, triệu chứng đường tiết niệu dưới, tiểu máu đại thể.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Có 14 TH nữ tham gia nghiên cứu, tuổi trung bình 49,8 ± 11,7 tuổi. Kết quả cấy nước tiểu E. Coli 11 TH (78,6%), Klebsiella Pneumonia 3 TH (21,4%), ESBL (+) 4 TH (28,6%). Kết quả có 12 TH (85,7%) bệnh nhân không ghi nhận tái phát trong vòng 6 tháng theo dõi. Tác dụng phụ chủ yếu là nhẹ, bao gồm 1 TH cảm giác nóng rát niệu đạo và tiểu gấp 2 TH. Không ghi nhận trường hợp tiểu khó hay tiểu máu đại thể.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Kết quả ban đầu cho thấy liệu pháp nội bàng quang bằng HA/CS có hiệu quả và an toàn trong phòng ngừa viêm bàng quang không phức tạp tái phát.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Recurrent cystitis poses a significant clinical challenge, particularly in the era of rising antibiotic resistance. Prolonged prophylactic antibiotic use may contribute to antimicrobial resistance, thereby increasing interest in non-antibiotic preventive strategies. Intravesical therapy using hyaluronic acid (HA) and chondroitin sulfate (CS), the primary components of the glycosaminoglycan (GAG) layer of the bladder mucosa, has been investigated as a potential intervention.<br>&nbsp; &nbsp;Objective: Recurrent cystitis rate after 6 months and treatment-related adverse effects of intravesical instillation with HA/CS.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: This was a case series study involving patients who met the diagnostic criteria for recurrent uncomplicated cystitis as defined by the European Association of Urology (≥ 2 episodes within 6 months or ≥ 3 episodes within 1 year). Patients received intravesical instillations of HA/CS following a structured schedule: once weekly for the first 4 weeks, biweekly during the subsequent month, and a final instillation one month later. Outcomes were assessed over a 6-month follow-up period, focusing on the number of symptomatic cystitis episodes and treatment-related adverse effects, including bladder and urethral discomfort, lower urinary tract symptoms, and gross hematuria.<br>&nbsp; &nbsp;Results: There are 14 female cases participating in the study, with an average age of 49.8 ± 11.7 years. The urine culture results showed E. coli in 11 cases (78.6%) and Klebsiella pneumoniae in 3 cases (21.4%). ESBL (+) was found in 4 cases (28.6%). Finally, 12 cases (85.7%) of patients did not report any recurrence within 6 months of follow-up. The main side effects were mild, including 1 case of a burning sensation in the urethra and 2 cases of urgency. No cases of voiding symptoms or gross hematuria were observed.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: The early results show that intravesical therapy with HA/CS appears to be a safe and effective option for preventing recurrent uncomplicated cystitis.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.23</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128164 Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu động mạch nuôi ung thư biểu mô tế bào gan trên cắt lớp vi tính ở người Việt Nam trưởng thành 2026-01-30T03:20:52+07:00 Nguyễn Đình Duy Hậu, Nguyễn Đức Khang, Huỳnh Chung haunguyen1200s@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là một trong những loại ung thư thường gặp nhất và đồng thời cũng là nguyên nhân gây tử vong liên quan đến ung thư hàng đầu trên thế giới. Nút mạch hóa chất u gan (TACE) ngày càng được sử dụng nhiều trong thực hành lâm sàng và xác định mạch máu nuôi khối u gan là một trong những yếu tố quyết định kết quả của thủ thuật. Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mô tả đặc điểm giải phẫu của động mạch cấp máu cho khối u đồng thời khảo sát mối liên quan giữa việc hình thành nguồn mạch nuôi u ngoài gan và một số yếu tố.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng, phương pháp: Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên, được chẩn đoán là UTBMTBG có phim chụp cắt lớp vi tính (CLVT) bụng chậu có tiêm thuốc cản quang được lưu trữ tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Nhân dân (BVND) 115.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Động mạch gan phải là nhánh cấp máu chủ yếu cho khối u, chiếm 76,3% trường hợp, tiếp đến là động mạch gan trái và cả hai nhánh. Về đặc điểm giải phẫu, kiểu phân nhánh động mạch gan type I được ghi nhận với tỷ lệ cao nhất (80,5%), trong khi type III và type II ít gặp hơn. Nguồn động mạch ngoài gan (ĐMNG) cấp máu cho khối u được ghi nhận ở 26,3% trường hợp, trong đó động mạch hoành dưới phải là nhánh thường gặp nhất. Có mối liên quan rõ rệt giữa nguồn ĐMNG cấp máu cho khối UTBMTBG với kích thước, vị trí khối u và tiền căn TACE trước đó.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Chụp CLVT là phương tiện ít xâm lấn giúp khảo sát các nhánh động mạch nuôi u trước thủ thuật từ đó lên kế hoạch điều trị giúp rút ngắn thời gian và nâng cao hiệu quả. Cần chú ý khảo sát các nguồn cấp máu cho u ngoài gan với các trường hợp khối u kích thước lớn, nằm ở ngoại vi, tiếp xúc với vùng trần của gan hay bệnh nhân đã được TACE trước đó.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background/Objectives: Hepatocellular carcinoma (HCC) is one of the most common types of cancer and remains a leading cause of cancer-related mortality worldwide. Transarterial chemoembolization (TACE) has been increasingly applied in clinical practice, and the identification of the arterial supply to hepatic tumors is one of the key factors determining the success of the procedure. This study is conducted to describe the anatomical characteristics of the tumor feeding arteries and to investigate the relationship between the development of extrahepatic collateral arteries (EHA) supply and several related factors.<br>&nbsp; &nbsp;Methods: Patients from 18 years old who are diagnosed with HCC and have contrast-enhanced computed tomography (CT) scans archived at the Department of Diagnostic Imaging, 115 People's Hospital.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The right hepatic artery is the main blood supply branch to the tumor, accounting for 76.3% of cases, followed by the left hepatic artery and both branches. Type I hepatic artery is recorded with the highest rate (80.5%), while type III and type II are less common. EHA supply to HCC is observed in 26.3% of cases, with the right inferior phrenic artery (RIPA) being the most frequent source. There is a significant association between the presence of EHA supply and tumor size, tumor location, as well as a prior history of TACE.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusions: A CT scan is a noninvasive imaging study that allows assessment of the tumor feeding arteries before intervention, thereby facilitating treatment planning, reducing procedure time, and improving therapeutic efficacy. Particular attention should be paid to evaluating potential EHA supply in cases of large tumors, peripherally located lesions, those in contact with the bare area of the liver, or in patients who have history of TACE.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.24</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128182 Nghiên cứu giá trị của cắt lớp vi tính trong đánh giá khả năng cắt bỏ ung thư biểu mô tuyến tụy 2026-01-30T03:21:27+07:00 Nguyễn Thị Quỳnh Trang, Nguyễn Minh Đức trangnguyenzxcvbnm@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu: Nghiên cứu xác định giá trị của cắt lớp vi tính trong đánh giá khả năng cắt bỏ ung thư biểu mô tuyến tụy có đối chiếu tình trạng bờ diện cắt mô học.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 52 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến tụy được điều trị phẫu thuật và có kết quả tình trạng bờ diện cắt mô học, được chụp cắt lớp vi tính trước phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2019 - 09/2025. Bệnh nhân được phân loại khả năng cắt bỏ theo tiêu chuẩn NCCN năm 2024 và đối chiếu với tình trạng bờ diện cắt mô học.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: Tỷ lệ đạt diện cắt R0 lần lượt là 72,7% (8/11) ở nhóm “Có thể cắt bỏ”, 40% (2/5) ở nhóm “Ranh giới cắt bỏ” và 2,8% (1/36) ở nhóm “Không thể cắt bỏ” (p &lt; 0,001). Tình trạng tiếp xúc động mạch mạc treo tràng trên (p &lt; 0,05), tĩnh mạch mạc treo tràng trên (p &lt; 0,01) và tĩnh mạch cửa (p &lt; 0,001) có liên quan đến khả năng cắt bỏ hoàn toàn khối u với diện cắt âm tính. Cắt lớp vi tính có độ nhạy 91%, độ đặc hiệu 85,4%, giá trị tiên đoán dương 62,5%, giá trị tiên đoán âm 97,2% và độ chính xác 86,5% trong đánh giá khả năng đạt diện cắt âm tính sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư tụy.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Cắt lớp vi tính áp dụng tiêu chuẩn NCCN 2024 có giá trị trong đánh giá khả năng cắt bỏ hoàn toàn khối ung thư tụy với diện cắt âm tính. Tình trạng tiếp xúc bó mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch cửa có liên quan tới khả năng loại bỏ hoàn toàn khối u.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Objective: This study aimed to evaluate the value of computed tomography (CT) in assessing the resectability of pancreatic adenocarcinoma, correlated with histopathologic margin status.<br>&nbsp; &nbsp;Materials and Methods: We retrospectively reviewed 52 patients with histologically confirmed pancreatic adenocarcinoma who underwent surgery and preoperative CT at Ho Chi Minh City Oncology Hospital between January 2019 and September 2025. Resectability was classified according to the NCCN 2024 criteria into resectable, borderline resectable, and unresectable groups. CT findings were correlated with histopathologic margin status.<br>&nbsp; &nbsp;Results: The R0 resection rates were 72.7% (8/11) for resectable, 40% (2/5) for borderline resectable, and 2.8% (1/36) for unresectable tumors (p &lt; 0.001). Tumor abutment to the superior mesenteric artery (p &lt; .05), superior mesenteric vein (p &lt; 0.01), and portal vein (p &lt; 0.001) was significantly associated with positive margins. CT demonstrated 91% sensitivity, 85.4% specificity, 62.5% positive predictive value, 97.2% negative predictive value, and 86.5% overall accuracy in predicting negative surgical margins.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Preoperative CT assessment using NCCN 2024 criteria provides high diagnostic performance in evaluating pancreatic cancer resectability. Vascular involvement, especially of the superior mesenteric artery, superior mesenteric vein and portal vein remains a key determinant of achieving R0 resection.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.25</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128203 Đánh giá kết quả điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông bằng phương pháp can thiệp nội mạch 2026-01-30T03:22:18+07:00 Phan Quốc Hùng, Đoàn Văn Phụng, Phạm Mạnh Toàn drphamtoan304@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Bệnh động mạch chi dưới mạn tính do xơ vữa rất thường gặp, làm tăng rõ rệt nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tử vong và cắt cụt chi, trong đó tổn thương hẹp, tắc động mạch đùi nông là vị trí hay gặp. Bệnh viện 30-4 đã triển khai can thiệp nội mạch điều trị các tổn thương này từ năm 2019 nhưng chưa có nghiên cứu đánh giá kết quả một cách hệ thống.<br>&nbsp; &nbsp;Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả chu phẫu, trung hạn của điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện 30-4.<br>&nbsp; &nbsp;Đối tượng – Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca, theo dõi dọc trên 51 bệnh nhân ≥18 tuổi, được chẩn đoán hẹp hoặc tắc mạn tính động mạch đùi nông do xơ vữa có triệu chứng (đau cách hồi không đáp ứng nội khoa, thiếu máu đe dọa chi) và được can thiệp nội mạch tại Bệnh viện 30-4 từ 01/2020 đến 12/2024. Loại trừ các trường hợp tổn thương không do xơ vữa, tắc cấp tính hoặc phẫu thuật bắc cầu/hybrid. Bệnh nhân được nong bóng, có hoặc không đặt giá đỡ; đánh giá thành công kỹ thuật, thành công lâm sàng (ABI, phân độ Rutherford), siêu âm Doppler mạch chi tại thời điểm ra viện, 3, 6 và 12 tháng. Số liệu được xử lý bằng SPSS 16.0, p&lt;0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.<br>&nbsp; &nbsp;Kết quả: 51 bệnh nhân (tuổi trung bình 71,3; 74,5% nam, đa số thiếu máu chi trầm trọng, TASC II C–D chiếm chủ yếu) được can thiệp với tỉ lệ thành công kỹ thuật 100%, biến chứng chu phẫu 11,7%, không tử vong. ABI tăng từ khoảng 0,6 lên 0,9 sau can thiệp, duy trì 0,9 ở 3–6 tháng và còn 0,8 sau 12 tháng; tỉ lệ còn dòng chảy tốt và cải thiện lâm sàng đạt cao trong 6 tháng đầu nhưng giảm còn khoảng 55% sau 12 tháng. Kết quả 12 tháng tốt hơn rõ ở tổn thương TASC II A–B và nhóm nong bóng kèm đặt giá đỡ so với chỉ nong bóng.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Can thiệp nội mạch điều trị hẹp, tắc động mạch đùi nông tại Bệnh viện 30-4 đạt tỉ lệ thành công kỹ thuật rất cao, an toàn và cải thiện rõ rệt tưới máu chi, triệu chứng lâm sàng trong ngắn và trung hạn. Độ bền trung hạn phụ thuộc mức độ phức tạp tổn thương (TASC II) và chiến lược can thiệp, trong đó nong bóng kèm đặt giá đỡ cho kết quả duy trì tốt hơn.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Chronic lower extremity arterial disease due to atherosclerosis is common and markedly increases the risk of myocardial infarction, stroke, death, and limb amputation; among these lesions, stenosis and occlusion of the superficial femoral artery are particularly frequent. At 30-4 Hospital, endovascular intervention for these lesions has been implemented since 2019, but there has been no systematic evaluation of its outcomes. The objective of this study was to evaluate perioperative and mid-term outcomes of endovascular treatment for superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital.<br>&nbsp; &nbsp;Objectives: To assess perioperative and mid-term outcomes of endovascular intervention in the treatment of superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital.<br>&nbsp; &nbsp;Subjects and Methods: This was a retrospective descriptive case-series study with longitudinal follow-up of 51 patients aged ≥18 years who were diagnosed with chronic, symptomatic superficial femoral artery stenosis or occlusion due to atherosclerosis (intermittent claudication refractory to medical therapy, limb-threatening ischemia) and underwent endovascular intervention at 30-4 Hospital from January 2020 to December 2024. Patients with non-atherosclerotic lesions, acute occlusion, or prior bypass/hybrid surgery were excluded. All patients underwent balloon angioplasty with or without stent placement. Technical success, clinical success (ankle-brachial index [ABI], Rutherford classification), and duplex ultrasound of lower limb arteries were assessed at discharge and at 3, 6, and 12 months. Data were analyzed using SPSS 16.0; p&lt;0.05 was considered statistically significant.<br>&nbsp; &nbsp;Results: Fifty-one patients (mean age 71.3 years; 74.5% male, the majority with severe limb ischemia, predominantly TASC II C–D lesions) underwent endovascular intervention with a technical success rate of 100%, perioperative complication rate of 11.7%, and no deaths. ABI increased from approximately 0.6 to 0.9 after intervention, remained 0.9 at 3–6 months, and was 0.8 at 12 months; patency and clinical improvement were high during the first 6 months but decreased to about 55% at 12 months. Twelve-month outcomes were clearly better in TASC II A–B lesions and in the group treated with balloon angioplasty plus stent placement compared with balloon angioplasty alone.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: Endovascular intervention for superficial femoral artery stenosis and occlusion at 30-4 Hospital achieved a very high technical success rate, was safe, and provided marked improvement in limb perfusion and clinical symptoms in the short and mid-term. Mid-term durability depended on lesion complexity (TASC II) and treatment strategy, with balloon angioplasty plus stent placement yielding more sustained results than balloon angioplasty alone.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.26</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128220 Báo cáo ca lâm sàng: suy hô hấp cấp do thuyên tắc phổi cấp tính điều trị bằng tiêu sợi huyết thành công 2026-01-30T03:22:54+07:00 Nguyễn Thị Hoàng Anh, Nguyễn Hồng Trường, Nguyễn Bích Trăm, Bành Như Thanh Trúc, Lý Thị Huỳnh Nhung nguyenthihoanganh@pnt.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Thuyên tắc phổi cấp tính là một trong những nguyên nhân gây tử vong đột ngột ở bệnh nhân tim mạch. Tiêu sợi huyết là phương pháp được lựa chọn hàng đầu với bệnh nhân suy hô hấp cấp do thuyên tắc phổi cấp tính có rối loạn huyết động.<br>&nbsp; &nbsp;Chúng tôi trình bày báo cáo một ca lâm sàng, mô tả quá trình chẩn đoán, điều trị bệnh nhân thuyên tắc phổi cấp tính bằng thuốc tiêu sợi huyết. Diễn tiến lâm sàng cho thấy sự cải thiện huyết động dần dần sau khi được dùng thuốc tiêu sợi huyết. Sau đó, bệnh nhân được chuyển sang điều trị bằng thuốc kháng đông và tiếp tục theo dõi tại khoa Nội tim mạch sau 4 ngày điều trị tại khoa Hồi sức Tích cực Chống độc và xuất viện sau 7 ngày.<br>&nbsp; &nbsp;Đánh giá và khởi động thuốc tiêu sợi huyết sớm cho thấy tiềm năng trong việc phục hồi huyết động nhanh chóng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do thuyên tắc phổi cấp tính.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Pulmonary embolism is one of the leading causes of sudden death in cardiovascular patients. Thrombolysis is the preferred treatment for patients with acute respiratory failure due to pulmonary embolism and hemodynamic instability.<br>&nbsp; &nbsp;We present a case report detailing the diagnosis process, treatment, and clinical course of a patient with acute pulmonary embolism who received fibrinolytics. The patient demonstrated gradual hemodynamic improvement after receiving fibrinolytic therapy. Subsequently, the patient was transitioned to anticoagulant therapy and continued follow-up in the Cardiology Department after 4 days in Intensive Care Unit and discharged after 7 days.<br>&nbsp; &nbsp;Early evaluation and initiation of thrombolytic therapy may facilitate rapid hemodynamic recovery in patients with acute respiratory failure due to acute pulmonary embolism.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.27</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128235 Thoát vị Petersen báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp và tổng quan y văn 2026-01-30T03:23:26+07:00 Huỳnh Bảo Ngọc, Lê Anh Tú, Huỳnh Thị Thương Thương huynhbaongoccdha@gmail.com <p>&nbsp; &nbsp;Thoát vị nội là tình trạng hiếm gặp, chiếm tỉ lệ rất thấp từ dưới 1% đến 5,8% trong số những nguyên nhân gây tắc ruột non. Thoát vị Petersen là một dạng thoát vị nội hiếm gặp, chỉ chiếm tỷ lệ 7,5% các trường hợp thoát vị nội và thường xảy ra sau phẫu thuật nối dạ dày - hỗng tràng, cả ở trước và sau mạc treo đại tràng ngang. Thoát vị Petersen xảy ra khi một phần ruột hoặc mạc treo ruột thoát vị qua khoang được giới hạn bởi mạc treo đại tràng ngang, phúc mạc thành sau và quai ruột nối. Thoát vị Petersen hiếm gặp, triệu chứng lâm sàng không điển hình và có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, như tắc ruột, thiếu máu cục bộ, hoại tử ruột và tử vong. Vì vậy, việc phát hiện sớm là hết sức cần thiết và chụp Xquang cắt lớp vi tính (CLVT) có vai trò quan trọng, được xem là phương tiện hình ảnh học đầu tay trong chẩn đoán.<br>&nbsp; &nbsp;Chúng tôi báo cáo một trường hợp thoát vị Petersen xảy ra ở bệnh nhân nữ 45 tuổi sau phẫu thuật Roux-en-Y cắt bán phần dạ dày để điều trị ung thư dạ dày, bệnh nhân có lâm sàng nghi ngờ tắc ruột, được chẩn đoán tắc ruột quai kín nghi do thoát vị Petersen bằng CLVT và điều trị thành công tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định, từ đó tổng hợp các dấu hiệu hình ảnh CLVT, gợi ý chẩn đoán.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Internal hernia is a rare condition, accounting for a very low incidence ranging from less than 1% to 5.8% among the causes of small bowel obstruction. Petersen's hernia is a rare type of internal hernia, representing only 7.5% of internal hernia cases and commonly occurring after gastrojejunostomy, both in antecolic and retrocolic positions. Petersen's hernia occurs when part of the intestine or mesentery herniates through the space bounded by the transverse mesocolon, the retroperitoneum and the mesentery of the gastrojejunostomy's limb. Petersen's hernia is rare, its clinical symptoms are atypical, and it can lead to serious complications such as bowel obstruction, ischemia, intestinal necrosis, and death. Therefore, early detection is crucial, and computed tomography (CT) plays an important role, considered the first-line imaging modality in diagnosis.<br>&nbsp; &nbsp;We report a case of Petersen’s hernia in a 45-year-old female patient following Roux-en-Y subtotal gastrectomy for gastric cancer. The patient presented with clinical suspicion of bowel obstruction and was diagnosed with closed-loop obstruction, likely due to Petersen’s hernia, on CT scan. She was successfully treated at Gia Dinh People’s Hospital. Based on this case, we summarize the CT imaging findings suggestive of this diagnosis.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.28</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch https://vjol.info.vn/pnt/article/view/128256 Nhân một trường hợp điều trị sa tạng chậu đa khoang (sa bàng quang – tử cung và sa trực tràng) bằng cách kết hợp phẫu thuật nội soi cố định âm đạo vào dây chằng chậu - lược (pectopexy) và phẫu thuật Altemeier 2026-01-30T03:23:59+07:00 Nguyễn Văn Ân, Lê Châu Hoàng Quốc Chương, Đoàn Vương Kiệt kiet.dv@umc.edu.vn <p>&nbsp; &nbsp;Đặt vấn đề: Sa tạng chậu đa khoang là một thử thách phẫu thuật đòi hỏi chiến lược điều trị phối hợp đa chuyên khoa. Chúng tôi báo cáo một ca sa tạng chậu đa khoang toàn phần bao gồm sa bàng quang, sa tử cung độ IV, và sa trực tràng toàn thành độ IV được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật phối hợp nội soi ổ bụng và đường sinh môn.<br>&nbsp; &nbsp;Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nữ 69 tuổi, sinh con 2 lần (PARA 2002) đến viện với khối sa âm đạo và trực tràng lớn kèm cảm giác tức nặng vùng chậu, táo bón và tiểu khó. Bệnh nhân được phẫu thuật đồng thời phẫu thuật nội soi cố định cổ tử cung và thành trước âm đạo vào dây chằng chậu – lược (phẫu thuật pectopexy) kết hợp với phẫu thuật cắt trực tràng – đại tràng sigma đường tầng sinh môn (phẫu thuật Altemeier). Thời gian nằm viện 5 ngày không có biến chứng liên quan đến phẫu thuật nặng như chảy máu, tổn thương ruột hoặc rò miệng nối trực tràng. Theo dõi sau mổ cho đến 6 tháng, chúng tôi&nbsp; ghi nhận bệnh nhân đã khôi phục vị trí giải phẫu các tạng sa cũng như hết tình trạng rối loạn tiểu và đại tiện.<br>&nbsp; &nbsp;Kết luận: Ca bệnh này cho thấy phối hợp phẫu thuật nội soi pectopexy và phẫu thuật Altemeier là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả để điều trị sa tạng chậu đa khoang toàn phần. Kết quả thành công nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác đa chuyên khoa và cá nhân hóa phương pháp điều trị.</p> <p><strong>Abstract</strong></p> <p>&nbsp; &nbsp;Background: Multicompartment pelvic organ prolapse presents a significant surgical challenge, requiring a multidisciplinary approach for optimal management. We report a case of complete multicompartment pelvic organ prolapse – including cystocele, stage IV uterine prolapse, and stage IV full-thickness rectal prolapse – treated with a combination of laparoscopic and perineal surgical techniques.<br>&nbsp; &nbsp;Case Presentation: A 69-year-old female, para 2, presented with large vaginal and rectal prolapse accompanied by a sense of pelvic heaviness, constipation, and urinary difficulty. The patient underwent simultaneous laparoscopic pectopexy (fixation of the cervix and anterior vaginal wall to the iliopectineal ligament) and perineal proctosigmoidectomy (Altemeier procedure) for rectal prolapse. The hospital stay was 5 days, with no severe complications such as hemorrhage, bowel injury, or anastomotic leakage. Follow-up after surgery up to 6 months, we observed that the patient had restored the anatomical positions of the prolapsed organs and resolution of urinary and defecation symptoms.<br>&nbsp; &nbsp;Conclusion: This case demonstrates that combined laparoscopic pectopexy and the Altemeier procedure is a safe and effective modality for the management of complete multicompartment pelvic organ prolapse. Our successful outcome highlights the importance of multidisciplinary cooperation and individualized surgical planning.</p> <p>DOI: 10.59715/pntjmp.5.1.29</p> 2026-01-20T00:00:00+07:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược học Phạm Ngọc Thạch